Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân khác biệt giữa nông thôn và thành thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================

ĐỖ THỊ LAN

MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN:
KHÁC BIỆT GIỮA NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Xã hội học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================

ĐỖ THỊ LAN

MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN:
KHÁC BIỆT GIỮA NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60.31.03.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Bá Thịnh


2.1 Khái quát về quá trình đô thị hóa hiện nay.......................................... 27
2.2 Thực trạng mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân .............................. 28

1


2.2.1 Mức độ hài lòng về người bạn đời (vợ/chồng) .................................. 33
2.2.2 Mức độ hài lòng về con cái ............................................................... 37
2.2.3 Mức độ hài lòng về kinh tế gia đình .................................................. 52
2.2.4 Mức độ hài lòng về đời sống tinh thần trong gia đình....................... 62
CHƯƠNG III: YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ
ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN................................................................................. 73
3.1. Trình độ học vấn .................................................................................... 73
3.2. Nghề nghiệp tác động đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của
người dân nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay. ........ 82
3.3. Anh hưởng tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài
lòng về đời sống hôn nhân trong gia đình nông thôn và đô thị hiện nay .......... 93
3.3.1 Ảnh hưởng tích cực của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài lòng về
đời sống hôn nhân trong gia đình nông thôn và đô thị hiện nay ................ 94
3.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài lòng về
đời sống hôn nhân trong gia đình nông thôn và đô thị hiện nay ................ 97
3.3.3 Nhận xét chung ............................................................................... 102
KẾT LUẬN .................................................................................................... 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 110
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 113

2


DANH MỤC BẢNG


Bảng 3.6: Tương quan giữa nghề nghiêp với mức độ hài lòng về hôn nhân
của người dân (Tỷ lệ %) .......................................................................... 83
Bảng 3.7: Tương quan giữa nghề nghiệp với mức độ hài lòng về công ăn,
việc làm của con (Tỷ lệ %) ...................................................................... 85
Bảng 3.8: Tương quan giữa nghề nghiêp với mức độ hài lòng về tiện nghi gia
đình (Tỷ lệ %) ........................................................................................ 90
Bảng 3.9: Tương quan giữa nghề nghiệp với mức độ hài lòng đời sống tinh
thần của người dân (Tỷ lệ %) ................................................................... 92

4


DANH MỤC BIỂU

Biểu 2.1: Mức độ hài lòng của người dân về số con (Tỷ lệ %) ........................... 38
Biểu 2.2: Mức độ hài lòng về sức khỏe của con (Tỷ lệ %) ................................. 41
Biểu 2.3: Mức độ hài lòng về học tập của con (Tỷ lệ %).................................... 43
Biểu 2.4: Mức độ hài lòng về công ăn, việc làm của con (Tỷ lệ %).................... 46
Biểu 2.5: Mức độ hài lòng về hôn nhân - gia đình của con (Tỷ lệ %) ................. 51
Biểu 2.6: Đánh giá về kinh tế gia đình (Tỷ lệ %) ............................................... 52
Biểu 2.7: Nguồn thu nhập chính của gia đình hiện nay ( Tỷ lệ %)...................... 54
Biểu 2.8: Mức độ hài lòng về việc làm của người dân theo vùng miền khác nhau
(Tỷ lệ %) ........................................................................................................... 56
Biểu 2.9: Mức độ hài lòng về đời sống tinh thần của người dân (Tỷ lệ %) ............... 64
Biểu 2.10: Mức độ hài lòng về quan hệ cha mẹ - con cái (Tỷ lệ %) ................... 67
Biểu 2.11: Mức độ hài lòng về quan hệ hàng xóm, láng giềng của người dân ở
các khu vực (Tỷ lệ %)........................................................................................ 69

5

năm 2005 có 8.984 vụ với sự tham gia của 14.082 em [4]. Số liệu này cho thấy
nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân, gia đình đang ngày càng gia tăng.

6


Đây cũng là thách thức lớn đối với việc duy trì, củng cố độ bền vững trong quan
hệ hôn nhân nói riêng, chất lượng sống và an toàn của các thành viên trong gia
đình nói chung.
Mỗi sự thay đổi và tổn thương trong đời sống gia đình đều có ảnh hưởng
nhất định đến các mặt liên đới của xã hội. Chính vì vậy, sự hòa hợp, yên ấm
trong mỗi gia đình đều có ý nghĩa rất quan trọng đối với ổn định xã hội, tuy
nhiên thực hiện điều đó không phải đơn giản vì có vô vàn yếu tố nội sinh cũng
như ngoại sinh ảnh hưởng đến chất lượng đời sống hôn nhân gia đình. Trong đó,
đời sống hôn nhân của người dân là một trong những mảng cần quan tâm bởi còn
có nhiều hạn chế trong nhận thức của họ về các vấn đề đời sống gia đình.
Nghiên cứu về mức độ hòa hợp trong đời sống hôn nhân sẽ giúp chúng ta
có cái nhìn khách quan, chân thật hơn về thực trạng đời sống hôn nhân cũng như
có những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống gia đình. Sự
hài lòng là một khái niệm hẹp hơn hạnh phúc - thường được khảo sát như một
trong ba chỉ số chính khi nghiên cứu về hạnh phúc. Những nghiên cứu mới nhất
về yếu tố này ở Việt Nam cho thấy người dân chủ yếu hài lòng về gia đình, con
cái và mức độ hài lòng cũng dựa trên những tiêu chí rất cụ thể của mức sống,
điều kiện sống.
Qua đó cho thấy, việc tìm hiểu thực trạng về đời sống hôn nhân có mang
lại sự hài lòng cho người dân hay không trong quá trình đô thị hóa và các yếu tố
khách quan, chủ quan nào tác động đến là rất cần thiết. Chính vì vậy mà tác giả
quyết định chọn đề tài “ Mức độ hài lòng trong đời sống hôn nhân: Khác biệt giữa
nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay” nhằm tìm hiểu thực trạng
hài lòng của người dân trong đời sống hôn nhân hiện nay, yếu tố tác động và một số

- Tìm hiểu thực trạng mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân giữa gia đình
nông thôn và đô thị hiện nay
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng về đời sống hôn
nhân (nhấn mạnh các yếu tố cá nhân, gia đình, quan hệ xã hội).
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình và đề
xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hơn chính sách của Đảng, Nhà nước đến
đời sống hôn nhân, gia đình hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu

8


- Đưa ra khung lý thuyết, các biến số, chỉ báo, giả thuyết nghiên cứu
- Vận dụng các lý thuyết xã hội học liên quan vào nghiên cứu mức độ hài
lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị trong quá trình đô
thị hóa hiện nay.
- Mô tả thực trạng mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân
nông thôn và đô thị.
- Tìm hiểu các yếu tố chính tác động đến mức độ hài lòng về đời sống hôn
nhân của người dân nông thôn và đô thị
- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng mức độ hài lòng về đời sống
hôn nhân của người dân nông thôn, đô thị và một số khuyến nghị nhằm hoàn
thiện hơn chính sách của Đảng, Nhà nước tới đời sống hôn nhân, gia đình hiện nay.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: khác biệt giữa nông thôn và đô thị
trong quá trình đô thị hóa hiện nay
4.2. Khách thể nghiên cứu
Hộ dân nông thôn và đô thị

điểm nghiên cứu, phân tích cho đến chứng minh các khía cạnh khác nhau của đề
tài.
Đề tài vận dụng một số cách tiếp cận xã hội học như: Tiếp cận xã hội học
về xã hội hóa và tiếp cận xã hội học về sự lựa chọn hợp lý.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp:
Luận văn sử dụng số liệu gốc của Đề tài nghiên cứu của Đại học Quốc gia
Hà Nội: “Sự hài lòng về cuộc sống” do PGS.TS Hoàng Bá Thịnh (Giám đốc
Trung tâm Nghiên cứu Giới, Dân số, Môi trường và Các vấn đề xã hội) làm chủ
nhiệm đề tài; nghiên cứu được thực hiện từ năm 2011 tại 5 tỉnh thành trong cả
nước (Hà Nội, Hải Dương, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh với cỡ mẫu là 2400
đại diện gia đình ở cả vùng nông thôn và thành thị.

10


7. Khung lý thuyết
Chính sách của Đảng, Nhà nước

Đặc điểm cá nhân

Đặc điểm gia đình

Mức độ hài
lòng về đời
sống hôn
nhân: Khác
biệt giữa
nông thôn và
đô thị trong

8. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận và Giải pháp, Kiến nghị; Danh mục tài
liệu tham khảo; Phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: Khác biệt giữa nông
thôn và đô thị
Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng về đời sống hôn
nhân:

12


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị về đời sống hôn nhân
trong quá trình đô thị hóa hiện nay đã và đang trở thành một trong những đối
tượng nghiên cứu mang tính thời sự của khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là
xã hội học. Vấn đề hôn nhân ở nông thôn và đô thị diễn ra ngày càng phức tạp
được thể hiện trên nhiều khía cạnh như…Trong đó, mức độ hài lòng về hôn nhân
được xem là nhân tố quan trọng góp phần giữ vững hạnh húc gia đình trong quá
trình đô thị hóa. Chính vì vậy mà hiện nay đã có khá nhiều đề tài khoa học, công
trình nghiên cứu, sách báo về hôn nhân cũng như đời sống gia đình nhằm tìm
hiểu thực trạng cũng như ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài
lòng trong hôn nhân.
Nghiên cứu trong nước:
Cuốn sách “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”, 2011, Lê Ngọc
Văn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách gồm 3 phần, tập trung chủ yếu
vào những khía cạnh hôn nhân và gia đình trong thời kỳ đổi mới. Phần thứ nhất
đề cập đến những vấn đề lý luận và biến đổi gia đình. Làm rõ các khái niêm then
chốt như gia đình, cấu trúc gia đình, văn hóa gia đình và biến đổi gia đình...với

Minh, Trần Thị Vân Anh (chủ biên), 2009, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Các
tác giả đã rất thành công trong việc đưa ra bức tranh đầy đủ về những vấn đề
chung trong nghiên cứu gia đình và giới. Đề cập đến những khía cạnh dân số của
gia đình và nghiên cứu gia đình trong bối cảnh đổi mới. Cuốn sách được chia
thành năm phần, từ những vấn đề chung, tổng quát đến những vấn đề mang tính
chất chuyên sâu đối với bốn lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo chủ yếu bao gồm:
phụ nữ, bình đẳng giới, gia đình và trẻ em. Các bài viết mang tính chất tổng hợp
đã phân tích và đánh giá một chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển
của gia đình Việt Nam. Thêm vào đó là những thay đổi và thách thức liên quan
đến biến đổi giới trong xu hướng hội nhập và phát triển. Nghiên cứu gia đình
trong bối cảnh mới đã phản ánh được tính đa dạng của gia đình, đời sống hôn
nhân hiện nay và nhấn mạnh những mâu thuẫn về lối sống cũng như một số vấn
đề đặt ra trong nghiên cứu và xây dựng chính sách gia đình.

14


Nghiên cứu “Gia đình nông thôn Đồng bằng Bắc bộ trong chuyển
đổi”(Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Hà Nam), 2011, Trịnh Duy Luân (chủ biên),
Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội. Tập hợp các bài viết trong nghiên cứu này là
thành qủa của Dự án nghiên cứu liên ngành “Gia đình nông thôn Việt Nam trong
chuyển đổi”. Nội dung nghiên cứu của dự án đã được triển khai thông qua nhiều
hoạt động nghiên cứu tại 4 địa phương, đại diện cho ba tỉnh miền Bắc, Trung,
Nam bao gồm các tỉnh: Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang và Hà Nam.
Nghiên cứu tại ba tỉnh đầu đã được nghiên cứu từ năm 2004-2007 và được thực
hiện trong cuốn sách với tiêu đề “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển
đổi”.
Nghiên cứu thứ tư trong cuốn sách “Gia đình nông thôn Đồng bằng Bắc
bộ trong chuyển đổi” được thực hiện tại xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà
Nam, 2008-2009. Những bài viết trong cuốn sách này đã làm nổi bật được những

nay.
“Khảo sát sự hài lòng cuộc sống (LSS): Sự phát triển của các công cụ.
Thomas M. Krapu, Lynn Meinke, Lisa Kramer, Roy Friedman và John Voda. Đo
lường sự hài lòng cuộc sống nói chung đặt ra một số câu hỏi rất tinh tế. Các câu
hỏi khác về sự hài lòng cuộc sống và nghề huấn luyện cũng phát sinh vấn đề. Sự
phát triển của khảo sát hài lòng cuộc sống và các công cụ khác được thiết kế đặc
biệt cho nghề huấn luyện sẽ giúp nghề tiếp tục phát triển. Bằng cách làm theo mô
hình huấn luyện sử dụng cách lắng nghe, đặt câu hỏi đúng, và có thể trò chuyện
trực tiếp (Liên đoàn huấn luyện viên, năm 1999), huấn luyện viên sẽ có thể
khuyến khích và hỗ trợ khách thể khám phá tất cả các khía cạnh trong cuộc sống
của họ bao gồm cả những người quan tâm ngay lúc đó. Đây cũng chính là một
hướng đi mới cho những nghiên cứu khảo sát về sự hài lòng của khách thể
nghiên cứu, đặc biệt là trong nghiên cứu đời sống hôn nhân, gia đình
Nhìn chung, những nghiên cứu trong nước và nghiên cứu của người nước
ngoài về gia đình phần lớn đều là những nghiên cứu trường hợp, đã đề cập được
các khía cạnh khác nhau trong đời sống hôn nhân và gia đình. Đưa ra được
những công cụ phù hợp và cách thức nghiên cứu. Phần lớn nghiên cứu đã lột tả
được những thay đổi trong gia đình Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa
hiện nay. Thêm vào đó, các công trình nghiên cứu đã hướng tới nghiên cứu thực

16


tiễn và lý luận nhằm mô tả thực trạng hôn nhân giữa nông thôn và thành thị, làm
rõ mối quan hệ của họ về quan hệ hôn nhân với các nhân tố liên quan như : trình
độ học vấn, việc làm, thu nhập, quá trình đô thị hóa…Tuy nhiên trong các vấn đề
trên thì việc nghiên cứu tìm thực trạng về mức độ hài lòng trong hôn nhân: sự
khác biệt giữa nông thôn và đô thị vẫn đang còn còn ít được đề cập đến một cách
cụ thể. Vì vậy nghiên cứu “Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: sự khác biệt
giữa nông thôn và đô thị” là một hướng mới, nhằm đi sâu vào tìm hiểu và phân

tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Đồng thời, trong gia đình có
những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ
tình dục giữa các thành viên.
Theo Levy Strauss (trong từ điển kinh tế - xã hội Pháp ), gia đình là một
nhóm xã hội được quy định bởi đặc điểm thường thấy nhiều nhất là: hôn nhân ,
quan hệ huyết thống, những ràng buộc về mặt pháp lý, nghĩa vụ quyền lợi có tính
chất kinh tế, sự cấm đoán tình dục gắn với các thành viên và những ràng buộc về
tình cảm, tâm lý, tình yêu, tình thương và sự kính trọng, sợ hãi .
Theo Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học: “ Gia đình là một trong
những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một
thiết chế văn hoá – xã hội đặc thù , được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ
sở quan hệ hôn nhân huyết thống, các quan hệ nuôi dưỡng, giáo dục...giữa các
thành viên ” [6].
Luật hôn nhân và gia đình (năm 2000), xác định: gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo
luật định. Đây là quan niệm chính thống của Nhà nước ta, vừa có tính khoa học
vừa là cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề liên quan. [24]
Gia đình được các nhà xã hội học định nghĩa như sau: Gia đình là một
thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn với
nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi
tính cộng đồng về sinh hoạt , trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những
nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính chất tất yếu của xã
hội về tái sản xuất con người ”

18


1.2.3. Nông thôn
Xác định bản chất xã hội nông thôn là một công việc quan trọng để nhận


điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân tối thiểu từ 4000 người trở lên, trong
đó ít nhất 60% dân cư không làm nông nghiệp. Theo quan niệm của nhà xã hội
học Trung Quốc, Thị trấn “ đầu là nông thôn_đuôi là thành phố ” , và vì vậy thị
trấn, và dưới là thị tứ không thuộc vào đô thị[ 8].
Định nghĩa xã hội học về đô thị: Đô thị như là những hình thức tổ chức xã
hội có xuất xứ địa lý và mang những đặc trưng nhất định. Thứ nhất, có số dân
tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất (Wirth 1938). Thứ hai, ít
nhất có một bộ phận dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có một số
chuyên gia (một số nhà KHXH còn yêu cầu phải có ngôn ngữ viết Sjoberg 1965)
Thứ ba, theo Max Weber, một đô thị phải đảm nhiệm những chức năng thị
trường và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành (Werber 1958)
Thứ tư, các đô thị thể hiện những hình thức tương tác, trong đó một cá nhân được
biết đến không phải như là một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất có một số
tương tác với những người khác không phải như là những cá nhân, mà là với các
vai trò mà họ đảm nhiệm Thứ năm, các đô thị đòi hỏi một “ gắn kết xã hội ” dựa
trên một cái gì đó rộng hơn là một gia đình trực hệ hay bộ lạc, mà có thể là dựa
trên luật lệ hợp lý hay truyền thống như tôn giáo hay sự trung thành với nhà vua.
Nhìn chung các nhà xã hội học định nghĩa đô thị theo sự tổng hợp các chức năng
và những đặc trưng xã hội của nó
Định nghĩa khác: Đô thị như một kiến tạo lãnh thổ_ xã hội, một hình thức
cư trú mang tính toàn vẹn lịch sử của con người, được đặc trưng bởi các dấu hiệu
sau: Là nơi tập hợp của một số lượng lớn dân cư trên một lãnh thổ hạn chế 13
Đại bộ phận dân cư sống ở đây làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp (công
nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ…) Là môi trường trực tiếp, tạo ra những điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội và các cá nhân giữ vai trò chủ đạo đối với
các vùng nông thôn xung quanh và cả toàn xã hội nói chung.
1.2.5. Đô thị hóa
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu

Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã
hội được cho là hoàn chỉnh nhất; ông cho rằng, hành động xã hội là hành vi mà
chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, một hành động xã hội là một hành

21


động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó
tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi
hành động đó. Weber đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong chủ thể như nguyên
nhân của hành động - Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì
không thể là một hành động xã hội. Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và
những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã
hội. Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không
phải là hành động xã hội. Theo quan niệm của Weber, một hành động xã hội là
một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá
nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào
chuỗi hành động đó. Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không
thể là một hành động xã hội. Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những
phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội.
Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải
là hành động xã hội.
Weber cho rằng xã hội học cố gắng diễn giải hành động nhờ phương pháp
luận về kiểu loại lý tưởng. Ông thực hành phương pháp này để xây dựng một
phân loại học về hành động xã hội gồm bốn kiểu: kiểu hành động truyền thống
được thực hiện bởi vì nó vẫn được làm như thế từ xưa đến nay, kiểu hành động
cảm tính bị dẫn dắt bởi cảm xúc, kiểu hành động duy lý - giá trị hướng tới các giá
trị tối hậu, kiểu hành động duy lý - mục đích hay còn gọi là kiểu hành động mang
tính công cụ. Trước khi có thể tìm ra nguyên nhân của một hành động, cần phải
hiểu được ý nghĩa mà chủ thể hành động đã gắn vào hành động đó. Weber phân

của nhiều yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của nhiều yếu tố - tạo nên
sự biến đổi. Mặc dù trong những hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất định, các yếu tố
cụ thể đôi lúc có thể ảnh hưởng nhiều hơn những yếu tố khác. Những yếu tố được
các nhà lý thuyết hiện đại quan tâm khi xem xét về biến đổi xã hội, như sau:
-

Môi trường vật chất;

-

Công nghệ;

-

Sức ép dân số;

-

Giao lưu văn hóa;

-

Xung đột xã hội.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status