1
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
OBO
OKS
.CO
M
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xã hội càng phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh càng đợc mở
rộng, càng mang tính đa dạng, phức tạp thì nhu cầu thông tin càng trở nên bức
thiết và quan trọng.
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế - xã
hội của một tổ chức để phục vụ nhu cầu quản lý của các đối tợng bên trong
và bên ngoài tổ chức, doanh nghiệp còn có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay- giai đoạn toàn cầu hoá nền kinh tế , sự cạnh tranh mang
tính chất phức tạp, khốc liệt. Có thể nói, chính chất lợng và hiệu quả của
công tác kế toán ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng và hiệu quả quản lý, điều
hành tổ chức để đạt đợc các mục tiêu đã đề ra.
Xuất phát từ yêu cầu và tính chất thông tin cung cấp cho các đối tợng
bên trong và bên ngoài tổ chức có sự khác biệt nên thông tin kế toán đợc
phân biệt thành thông tin KTTC và thông tin KTQT. Mặc dù KTQT mới đợc
phát triển trong giai đoạn gần đây nhng đã minh chứng đợc sự cần thiết và
quan trọng của nó đối với công tác quản trị, điều hành các tổ chức, doanh
" Hoàn thiện mô hình KTQT trong các
doanh nghiệp Dợc phẩm"
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Đề tài góp phần làm rõ bản chất, nôị dung, phơng pháp nghiên cứu
và việc tổ chức công tác KTQT trong các DNKDDP.
- Thông qua việc nghiên cứu thực tế, đánh giá thực trạng KTQT trong
các DNKDDP ở Việt Nam, từ đó đa ra mô hình tổ chức công tác KTQT
trong các đơn vị này.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là xác định nội dung KTQT, nghiên
cứu thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và kết quả ở các DNKDDP ở nớc
ta, từ đó đa ra phơng hớng mô hình tổ chức công tác KTQT ở các
DNKDDP.
KI L
4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Luận văn đã trình bày và làm rõ sự cần thiết, cơ sở lý luận và thực tiễn
của tổ chức công tác KTQT trong các DNKDDP.
Qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng KTQT trong các DNKDDP,
luận văn đã phân tích những vấn đề còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn
chế đó và đa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác KTQT trong các
DNKDDP.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chơng 1:
OBO
OKS
.CO
M
lý luận chung về KTQT trong doanh nghiệp
1.1. Khái quát chung về KTQT.
1.1.1. Khái niệm:
Trớc đây, ngời ta chỉ đơn thuần định nghĩa kế toán nh là một công
việc giữ sổ sách của nhân viên kế toán. Năm 1941, việc các giám định viên kế
toán ( Anurican Institute of Certified Public Accountants - AICPA) đã định
nghĩa: " Kế toán là một nghệ thuật của việc ghi chép, phân loại và tổng hợp
bằng một phơng pháp riêng và ghi bằng tiền các nghiệp vụ, sự kiện có tính
chất tài chính và giải thích kết quả của nó ". Cách định nghĩa này về kế toán
dù sao cũng đợc phổ biến rộng rãi.
Năm 1970, tổ chức AICPA xác định chức năng của kế toán là cung cấp
thông tin, nhất là thông tin về tài chính có ích để các tổ chức kinh tế thực hiện
việc ra quyết định ( mỗi đơn vị kinh tế là một đơn vị hạch toán độc lập).
Vậy có thể hiểu, kế toán là khoa học và nghệ thuật thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin ở doanh nghiệp mà thông tin đó có bản chất về kinh tế .
Trong các doanh nghiệp, thông tin kế toán không những cần thiết cho những
KI L
cạnh tranh, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật Chính điều này và kết hợp với sự
tiến bộ trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn kế toán đã làm cho kế toán
phát triển sâu rộng hơn về tính chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp.
Kế toán không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc
mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp thời, hữu ích. Đồng thời, thông tin kế toán cũng
phải đảm bảo tính đơn giản, nhanh chóng nhằm hỗ trợ đắc lực cho nhà quản
trị trong môi trờng kinh doanh mới.
Đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về KTQT . Ta có thể hiểu
thông qua một số khái niệm sau:
Theo GS,TS Ronald. W. Hiton- Trờng đại học Cornelb của Mỹ: "
KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức mà
chức".
KI L
các nhà quản trị dựa vaò đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ
Theo GS, TS Jack. L. Snit.M. Krith và Wiliam. L. Stephens ở Trờng
Đại học South Florida: " KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà
quản trị những thông tin định lợng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát".
Theo quan điểm của giáo trình KTQT - Học viện Tài chính xuất bản
năm 2002: " KTQT là một khoa học thu nhận, xử lý và cụ thể, phục vụ cho
6
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
thể Để thực hiện đựơc mục tiêu này, cần phải huy động các nguồn lực vào
đầu t thiết bị, dự trữ hàng tồn kho, lao động ( nhân công) nghĩa là doanh
nghiệp phải đơng đầu với một nhu cầu đầu t về vốn cố định và vốn lu
động. Vì vậy, một trong các nhiệm vụ của KTQT là tính toán và đa ra mô
hình về nhu cầu vốn ( vốn lu động và vốn cố định) cho một loại sản phẩm
một thời hạn giao hàng nào đó.
Trong thực tế, KTQT phải tính toán, đo lờng giá phí, giá thành của
từng loại hàng tồn kho, từng sản phẩm , lao vụ, dịch vụ, từng loại tài sản cố
định cũng nh xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinh của chi phí nhằm
tăng cờng trách nhiệm vật chất của các bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp
, tăng cờng hạch toán kinh tế nội bộ doanh nghiệp.
Việc đo lờng chi phí của một hoạt động theo một mục đích nào đó là
kết quả cụ thể của KTQT. Tuy nhiên, một nhiệm vụ quan trọng hơn của
KTQT là phải giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lên các chi phí
KI L
này, nghĩa là cần phải xác định nguyên nhân gây ra chi phí để có thể can
thiệp, tác động vào các nghiệp vụ, các hoạt động phát sinh các chi phí. Nghĩa
là cần:
- Một mặt, phân tích một cách cụ thể để hiểu các chi phí đợc hình
thành nh thế nào.
- Mặt khác, khuyến khích những ngời, những bộ phận có khả năng tới
các thành phần chi phí làm việc phù hợp với chính sách và quy định của doanh
Thực hiện
KI L
Kiểm tra
Qua sơ đồ này, có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập
kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế
hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định.
9
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Nh vậy, để làm tốt chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin
cần thiết để có thể ra quyết định đúng đắn. KTQT là nguồn chủ yếu, dù không
OBO
OKS
.CO
M
phải là duy nhất, cung cấp thông tin đó. KTQT với chức năng quản lý thể hiện
trong các khâu của quá trình quản lý đợc thể hiện cụ thể nh sau:
* Lập kế hoạch :
Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bớc
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Thông thờng, các nhà quản trị thừa hành thờng đánh giá từng phần
trong phạm vi kiểm soát của họ. Các nhà quản trị cấp cao hơn không tham gia
OBO
OKS
.CO
M
trực tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày mà đánh giá và kiểm tra dựa vào
các báo cáo thực hiện của từng bộ phận thừa hành do kế toán quản trị cung
cấp.
* Ra quyết định.
Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra
quyết định của nhà quản trị. Đây là một chức năng quan trọng xuyên suốt các
khâu quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch tổ chức thực hiện, cho đến
kiểm tra và đánh giá.
KTQT giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ
bằng cách cung cấp thông tin phù hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ
thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa
chọn, ra quyết định thích hợp nhất.
1.1.4. Phân biệt KTQT với KTTC.
KTQT và KTTC là hai bộ phận của kế toán doanh nghiệp, chúng có mối
quát về tình hình huy động, sử dụng vốn trong doanh nghiệp, hiệu quả sản
xuất kinh doanh của kỳ qua, phát hiện những sai sót, những tiềm năng để có
biện pháp tốt hơn trong kỳ tới; còn sử dụng thông tin KTQT để đánh giá việc
thực hiện những yêu cầu quản trị kinh doanh đã đợc đề ra cụ thể ở doanh
nghiệp.
- KTQT và KTTC đều biểu hiện thông tin kinh tế tài chính trong mối
quan hệ với trách nhiệm của nhà quản trị phạm vi. KTTC biểu hiện trách
nhiệm của ngời quản lý cấp cao, còn KTQT biểu hiện trách nhiệm của ngời
quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp.
1.1.4.2. Sự khác nhau.
Xuất phát từ nguồn gốc hình thành và nhu cầu sử dụng khác nhau nên
KTQT và KTTC có những điểm khác nhau cơ bản sau:
* Về đối tợng sử dụng thông tin.
- KTQT đa ra tất cả các loại thông tin kinh tế đã đợc đo lờng, xử lý
và cung cấp chỉ cho nội bộ doanh nghiệp sử dụng phục vụ quản trị doanh
nghiệp.
- KTQT đa ra những thông tin kinh tế mà ngoài việc nó đợc sử dụng
KI L
trong nội bộ doanh nghiệp, còn đợc cung cấp cho các tổ chức bên ngoài.
* Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin.
Thông tin KTTC phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ
hiện hành về kế toán của từng quốc gia,kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc
tế về kế toán đợc các quốc gia công nhận. Trái lại, trong nền kinh tế thị
trờng, do yêu cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa
lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phơng án, đề án cho
một sự kiện hoặc một quá trình cha xảy ra.
- Thông tin của KTTC chủ yếu là các thông tin thuần tuý, đợc thu thập
từ các chứng từ ban đầu kế toán ; KTQT ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép
KI L
ban đầu của kế toán còn phải kết hợp với nhiều ngành khoa học khác nh
thống kê, hạch toán nghiệp vụ để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin
thành dạng có thể sử dụng đợc. Vì trong KTQT , thông tin đợc thu thập
nhằm phục vụ cho chức năng và quyết định của nhà quản lý và thờng không
có sẵn.
13
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
* Về hình thức báo cáo sử dụng.
Báo cáo sử dụng trong KTTC là các báo cáo kế toán tổng hợp ( gọi là
OBO
OKS
.CO
M
các báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp kết qủa hoạt động của
doanh nghiệp trong một thời kỳ nh: Bảng cân đối kế toán , báo cáo kết quả
14
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm. Đây là nội dung hạch
toán cơ sở để làm nền tảng tính toán cho các mục tiêu dự kiến. Thông tin về
OBO
OKS
.CO
M
lĩnh vực này có vai trò hết sức quan trọng, cần phải chi tiết hoá đến từng
khoản mục và đối tợng chi phí để tiến hành việc phân loại theo tiêu chuẩn
thích hợp với KTQT nh: Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lợng
sản phẩm ( chi phí bất biến, chi phí khả biến và chi phí hỗn hợp), phân loại chi
phí theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính (
chi phí sản xuất , chi phí thời kỳ)
Trên cơ sở phân loại chi phí, KTQT xác định các chỉ tiêu quản trị chi
phí nh chi phí tính cho sản phẩm hoàn thành, chi phí trên doanh thu; lợi
nhuận trên chi phí Từ đó xác định đựơc cần phải mở những tài khoản chi tiết
nào, sổ kế toán nào để thu thập, xử lý thông tin phục vụ yêu cầu nhiều hơn
đến phơng pháp phân bổ chi phí, từ đó để tìm ra phơng pháp phân bổ hợp lý
nhất.
- KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh.
M
và khả năng thanh toán để mở sổ kế toán theo dõi các hoạt động này.
Trong các nội dung nói trên, trọng tâm của KTQT là lĩnh vực chi phí.
Vì vậy, một số tác giả cho rằng, KTQT là kế toán chi phí.
1.2.2. Xét theo quá trình KTQT trong mối quan hệ với khả năng quản
lý.
Nội dung của KTQT bao gồm các khâu sau:
- Chính thức hoá các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêu kinh
tế. Nghĩa là , các mục tiêu của doanh nghiệp không còn ở dạng chung chung
nữa mà đợc thể hiện cụ thể, rõ ràng dới dạng con số, chỉ tiêu kinh tế.
- Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết.
Trong doanh nghiệp , lập dự toán là khâu rất quan trọng , không thể
thiếu trong công tác kế hoạch. Việc lập dự toán chung và dự toán chi tiết phải
dựa trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập đợc từ hệ thống sổ kế toán phản ánh
quá trình đã thực hiện của chỉ tiêu nào đó; dựa vào các tiêu chuẩn, định mức
của Nhà nớc và của ngành, đơn vị để lập dự toán theo từng chỉ tiêu.
- Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu.
Thông tin kế toán quản trị cung cấp về bản chất thờng là thông tin
KI L
kinh tế - tài chính định lợng và thông tin này giúp cho các nhà quản trị hoàn
thành các chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết
định. Trong môi trờng kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin trong công
tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những thay đổi
thông tin khác nh: hiện vật, thời gian lao động
1.3. Tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp.
1.3.1. Các nhân tố ảnh hởng đến tổ chức công tác KTQT trong
doanh nghiệp.
KTQT là một công cụ quan trọng đáp ứng yêu cầu quản trị doanh
nghiệp. Tổ chức công tác KTQT khoa học và hợp lý là điều kiện cần thiết để
KI L
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và vai trò cũng nh đảm bảo đợc chất
lợng và hiệu quả của công tác KTQT trong doanh nghiệp. Nh chúng ta biết,
không phải tất cả các doanh nghiệp đều tiến hành tổ chức công tác KTQT nh
nhau, mà tuỳ mỗi đơn vị, mỗi doanh nghiệp mà công tác tổ chức KTQT khác
nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể khái quát những nhân tố ảnh hởng đến tổ
chức công tác KTQT trong doanh nghiệp nh sau:
17
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
* Các nhân tố khách quan.
OBO
OKS
.CO
M
động của doanh nghiệp một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản lý trong
việc lập kế hoạch tổ chức thực hiện,kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện
các hoạt động của doanh nghiệp.
18
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
* Xét dới góc độ chức năng công tác KTQT trong doanh nghiệp
đợc tổ chức theo các nội dung sau:
OBO
OKS
.CO
M
- Tổ chức thu thập thông tin .
Thông tin KTQT là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở
doanh nghiệp, mà hoạt động kinh tế - tài chính này đợc hình thành từ các
hoạt động kinh tế - tài chính đã phát sinh và sẽ phát sinh. KTQT có thể sử
dụng nhiều nguồn tin khác nhau, mỗi nguồn tin cung cấp các thông tin đặc thù
khác nhau phục vụ cho việc phân tích, đánh giá và lập dự đoán
Tổ chức thu thập thông tin là công việc khởi đầu của toàn bộ quy trình
KTQT, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc ra quyết định của các nhà
quản lý. KTQT đợc coi nh một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý ra
quyết định, là phơng tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp.
- Phân tích thông tin:
.CO
M
ngời lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, họ phải tham khảo
các ý kiến khác nhau đã đợc trình bày trong báo cáo các KTQT và các tờ
trình phong án kinh doanh của các bộ phận quản lý, t vấn trong doanh
nghiệp. Vì vậy, lựa chọn phơng án đúng hay không phụ thuộc rất nhiều vào
quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin của KTQT.
Có thể mô tả nội dung tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp theo
từng chức năng quản lý nh sau:
Sơ đồ 1
Tổ chức KTQT theo chức năng quản lý.
Hoạt động kinh tế
Chọn lọc và ghi chép số liệu
( Tổ chức thu nhận thông tin)
Ra quyết định
Báo cáo cho nhà
quản trị
Cung cấp thông tin
Phân tích số liệu
(thông tin)
KI L
Để có số liệu một cách chi tiết, tỷ mỷ phục vụ quản trị doanh nghiệp,
KTQT phải sử dụng những tài khoản chi tiết đến cấp 2, cấp 3, cấp 4 và chi
tiết các tài khoản theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từng loại hàng hoá,
dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý từng chỉ tiêu cụ thể. Tuy nhiên, trong
thực tế, đối tợng kế toán cụ thể cần theo dõi chi tiết lại quá nhiều, làm chi phí
hạch toán tăng lên. Do đó, nhà quản lý cần cân đối giữa chi phí bỏ ra và lợi
ích thu về để làm sao việc sử dụng tài khoản chi tiết là hợp lý nhất.
- Sổ kế toán.
Ngoài việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính trên các
sổ kế toán tổng hợp, KTQT còn tổ chức ghi chép các thông tin chi tiết trên các
sổ kế toán chi tiết để phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp hàng ngày.
- Tính giá và lập báo cáo KTQT.
Đối với KTQT , việc tính giá các loại tài sản mang tính linh hoạt cao
hơn và gắn với mục đích sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu quản trị
KI L
doanh nghiệp. Các dữ liệu để tính giá không chỉ căn cứ vào các chi phí thích
hợp cho từng quyết định cá biệt, đặc biệt là các quyết định mang tính ngắn
hạn.
Các báo cáo trong KTQT là các bảng cân đối bộ phận ( cho từng bộ
phận, trung tâm chi phí, loại tài sản). Các báo cáo này còn đợc gọi là báo
cáo kế toán nội bộ, đợc lập theo kỳ hạn ngắn hơn các Báo cáo tài chính.
21
Sổ
kế
toán
quản
trị
Phân tích
Báo
cáo
KTQT
1.4. Sự biểu hiện của KTQT trong hệ thống kế toán Việt Nam.
KTQT là một vấn đề còn tơng đối mới mẻ đối với các doanh nghiệp
Việt Nam. Có thể khái quát các quan điểm về KTQT nh sau:
KI L
* Quan điểm thứ nhất: Cho rằng KTQT là khoa học thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ
cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch thực hiện, kiểm tra và đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp.
Theo quan điểm này, KTQT là loại kế toán dành cho ngời làm công
tác quản lý. KTQT đợc coi nh một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý ra
22
tiết và đợc dùng phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
+ Quan điểm 2 thừa nhận sự đồng nghĩa giữa KTQT và kế toán chi tiết.
KI L
Vì vậy, ở Việt Nam từ trớc đến nay đã có KTQT , đó chính là hệ thống
thông tin chi tiết của kế toán phục vụ cho việc quản lý doanh nghiệp. Nghĩa là,
không thể nói KTQT là vấn đề hoàn toàn mới mẻ.
Từ đó có thể rói rằng, hệ thống kế toán Việt Nam là hệ thống kế toán
kết hợp giữa KTTC và KTQT , trong đó chủ yếu là KTTC. Tuy vậy, KTQT đã
có sự biểu hiện rõ ràng trong chế độ kế toán và ở sự vận dụng của các doanh
23
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
nghiệp trong quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống hoá, cung cấp thông tin cho
các nhà quản trị.
OBO
OKS
.CO
M
Trong chế độ kế toán Việt Nam đã ban hành và đang áp dụng tại các
doanh nghiệp đều có hớng dẫn theo các nội dung cơ bản sau:Hệ thống tài
khoản kế toán, chế độ chứng từ kế toán , chế độ sổ kế toán, chế độ báo cáo kế
toán.Việc hớng dẫn của Nhà nớc mang tính định hớng theo những nguyên
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
nh: thống kê, toán. Để hệ thống hoá, xử lý và cung cấp thông tin cho nhà
quản trị.
OBO
OKS
.CO
M
- Về sổ kế toán: KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết,
còn KTQT căn cứ vào yêu cầu quản trị cụ thể đối với từng chỉ tiêu để mở sổ
KTQT nhằm thu nhận đợc các thông tin phục vụ nhà quản trị.
- Về báo cáo kế toán :Mỗi bộ phận kế toán có chức năng thu nhận, cung
cấp thông tin kế toán vừa ở dạng tổng hợp vừa ở dạng chi tiết theo yêu cầu
quản lý. Căn cứ vào các thông tin này, bộ phận kế toán tổng hợp lập báo cáo
tài chính, báo cáo KTQT để cung cấp thông tin phục vụ cho các đối tợng bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp.
+ Ưu điểm: Tiện lợi, dễ điều hành, gọn nhẹ, kế toán tổng hợp bộ phận
nào kết hợp kế toán chi tiết bộ phận ấy. Do đó, thông tin kế toán rõ ràng và
đáng tin cậy hơn.
+ Nhợc điểm: Khó chuyên môn hoá từng lĩnh vực.
+Điều kiện áp dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc
biệt thích hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay.
1.5.2. Mô hình tổ chức tách riêng KTQT với KTTC.
- Về báo cáo kế toán : Theo mô hình này, các báo cáo KTQT đợc lập
riêng dới dạng các bảng cân đối bộ phận ( báo cáo kế toán nội bộ) với kỳ hạn
ngắn hơn các báo cáo tài chính. Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các Bảng cân đối
bộ phận còn sử dụng rộng rãi các thớc đo về hiện vật và thời gian lao động ;
ngoài các chỉ tiêu quá khứ, các chỉ tiêu đã thực hiện, KTQT còn thiết lập các
cân đối trong dự đoán, trong kế hoạch.
+ Ưu điểm: Phân định ranh giới công việc rõ ràng, mang tính chuyên
môn hoá cao, chuyên sâu về lĩnh vực giúp cho từng bộ phận có điều kiện nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Nhợc điểm: Cồng kềnh, kém linh hoạt, hiệu quả kinh tế thấp.
+ Điều kiện áp dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp có quy môn lớn
với trình độ cơ giới hoá cao. Phù hợp với kế toán pháp và các nớc Đông Âu.
kết luận chơng 1
KI L
Qua quá trình nghiên cứu về cơ sở lý luận chung về KTQT nh: khái
niệm, đối tợng, nhiệm vụ, vai trò của KTQT thể hiện qua việc cung cấp
thông tin cho nhiều đối tợng sử dụng khác nhau. Ta thấy, nhu cầu sử dụng
thông tin KTQT là vô cùng cần thiết đối với các nhà quản trị doanh nghiệp.
Chính nhu cầu này là cơ sở hình thành nên môn KTQT.