TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN
LÊN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI
SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ĐẾN 30 NGÀY
TUỔI CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testusdineus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN
LÊN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI
SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ĐẾN 30 NGÀY
TUỔI CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testusdineus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. NGUYỄN VĂN KIỂM
(Anabas testudineus) ” được thực hiện tại trại cá khoa Thủy sản – trường
Đại học Cần Thơ kết quả thu được:
Với thí nghiệm tăng dần độ mặn của môi trường thì ảnh hưởng không rõ
ràng tới sự phát triển phôi cá rô đồng. Tỷ lệ thụ tinh của trứng cá rô đồng
không có sự khác biệt (p>=0.05) khi độ mặn tăng dần đến 19‰; thời gian
nở tăng dần theo độ mặn, tỷ lệ nở giảm, tỷ lệ dị hình tăng khi độ mặn tăng
dần nhưng khi độ mặn cao hơn 13‰ thì cá bột rô đồng không thể tồn tại
sau 48h. Một số chỉ tiêu phát triển phôi ở thí nghiệm gây sock độ mặn kết
quả thu được tương đương với thí nghiệm tăng dần độ mặn. Nhưng có thể
coi 11‰ là giới hạn độ mặn cao đối với sự phát triển phôi vì có tới 33.2%
cá bột rô đồng chết sau khi nở 48 giờ.
Mức tăng trưởng về chiều dài/ngày của cá thay đổi theo giai đoạn
phát triển của cơ thể và thay đổi theo độ mặn của môi trường. Mức tăng
trưởng về chiều dài tăng dần khi độ mặn tăng đến đến 7‰ và sau đó giảm
dần. Tỷ lệ sống của cá cao nhất ở nghiệm thức 3‰ và tương đương với
đối chứng (52.7%), tỷ lệ sống thấp nhất ở độ mặn 17‰. Cá bột rô đồng
chỉ chịu đựng được độ mặn 11‰ khi tiến hành gây sock. Vượt qua độ mặn
này cá bột rô đồng sẽ chết hoàn toàn sau 12 giờ thí nghiệm. Mức tăng
trưởng về chiều dài tăng dần khi độ mặn tăng đến đến 9‰ và sau đó giảm
dần ở độ mặn cao hơn. Nhìn chung nếu ương nuôi cá bột rô đồng thì độ
mặn của môi trường nước không quá 5-7‰.
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ........................................................................................... i
Tóm tắt ................................................................................................. ii
Mục lục ................................................................................................. iii
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......... 21
4.1 Kết quả thí nghiệm 1 ................................................................. 21
4.1.1 Nhận xét ............................................................................. 23
4.1.2 Tỷ lệ thụ tinh của phôi ...................................................... 23
4.1.3 Tỷ lệ nở của phôi. .............................................................. 23
4.1.4 Thời gian nở của phôi ....................................................... 24
4.1.5 Tỷ lệ dị hình ....................................................................... 25
4.1.6 Tỷ lệ sống cá bột sau 48h .................................................. 26
4.2 Kết quả thí nghiệm 2 ................................................................. 26
4.2.1 Nhận xét ............................................................................. 26
4.2.2 Tỷ lệ thụ tinh ..................................................................... 27
4.2.3 Tỷ lệ nở............................................................................... 28
4.2.4 Thời gian nở....................................................................... 29
iv
4.2.5 Tỷ lệ dị hình ....................................................................... 29
4.2.6 Tỷ lệ sống cá bột sau 48h .................................................. 30
4.3 Kết quả thí nghiệm 3 ................................................................. 30
4.3.1 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ ngày thả đến 10
ngày tuổi...................................................................................... 32
4.3.2 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ 11- 20 ngày ương .. 33
4.3.3 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ 21- 30 ngày tuổi..... 34
4.3.4 Tỷ lệ sống ........................................................................... 36
4.4 Kết quả thí nghiệm 4 ................................................................. 37
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT........................................... 41
5.1 Kết luận ...................................................................................... 41
5.2 Đề Xuất ....................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 42
Hình 2.1 Hình thái ngoài cá rô đồng
Hình 3.1: tets đo môi trường và kính hiển vi
Hình 3.2: Thức ăn sử dụng ương cá bột rô đồng sữa cá, moia, trùng chỉ
Hình 3.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2
Hình 3.5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3
Hình 3.6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 4
Hình 4.1: Hệ thống thí nghiệm 1 và 2
Hình 4.2: So sánh tương quan giữa tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở
Hình 4.3: So sánh tương quan giữa thời gian nở và tỷ lệ nở
Hình 4.4: So sánh tương quan giữa tỷ lệ dị hình và thời gian nở
Hình 4.5: Tỷ lệ sống của cá bột sau 48h
Hình 4.6: So sánh tương quan tỷ lệ thụ tinh giữa 2 thí nghiệm gây sock và
tăng dần độ mặn
Hình 4.7: So sánh tương quan tỷ lệ thụ tinh giữa 2 thí nghiệm gây sock và
tăng dần độ mặn
Hình 4.8: So sánh tương quan thời gian nở giữa 2 thí nghiệm gây sock và
tăng dần độ mặn
Hình 4.9: So sánh tương quan tỷ lệ dị hình giữa 2 thí nghiệm gây sock và
tăng dần độ mặn
Hình 4.10 Hệ thống thí nghiệm 3 và 4
Hình 4.11: Tăng trưởng chiều dài từ 0-10 ngày ương của cá bột rô đồng
vii
Hình 4.12: Tăng trưởng chiều dài cá bột rô đồng từ 11- 20 ngày tuổi
Hình 4.13: Tăng trưởng chiều dài/ngày (mm/ngày) từ 11-20 ngày tuổi
Hình 4.14: Tăng trưởng chiều dài cá bột rô đồng từ 21- 30 ngày tuổi
Kilôgam trên hecta
tấn/ha
Tấn trên hecta
L
Lít
h
Giờ
’
Phút
kg
Kilôgam
cm
Centimet
m
Mét
trứng/m2
Trứng trên mét vuông
o
Độ C
NH3
Amoniac
H2 S
Hydro sunfua
mgO2/lít
Mili gam oxy trên lít
ppm
Phần triệu
NaCl
Natri clorua
ppt(‰)
con/mẫu
Con trên mẫu
mm/con
Milimet trên con
mm/ngày
Milimet trên ngày
L
Chiều dài
W
Trọng lượng
C
x
xi
CHƯƠNG 1
góp phần hoàn thiện các thông tin khoa học về cá rô đồng.
Khi trưởng thành cá rô đồng là loài có khả năng chịu đựng tốt trong
điều kiện môi trường bất lợi như: nhiệt độ cao, pH thấp, oxy hòa tan
thấp,…..nhưng điều đó không có nghĩa là ở những điều kiện như vậy thì cá
rô đồng có thể sinh sản tốt và phát triển bình thường. Tại sao những vùng
nhiễm phèn, nhiễm mặn thì không sản xuất giống được hoặc nếu có thì
hiệu quả không cao. Đó là vấn đề cần được giải đáp. Xuất phát từ thực tế
1
như vậy đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên quá trình phát
triển phôi, sinh trưởng và tỷ lệ sống đến 30 ngày tuổi của cá rô đồng
(Anabas testudineus) ” được thực hiện.
Mục tiêu của đề tài
Xác định ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển phôi và sinh
trưởng của cá rô đồng ở giai đoạn từ cá bột đến 30 ngày tuổi.
Nội dung của đề tài
So sánh một số chỉ tiêu ấp trứng ở độ mặn khác nhau.
So sánh một số chỉ tiêu ương nuôi cá rô đồng (từ sau khi nở đến 30
ngày tuổi) ở các độ mặn khác nhau.
2
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số đặc điểm sinh học
2.1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái
2.1.1.1 Đặc điểm phân loại
Theo Mai Đình Yên và ctv (1992, dẫn bởi Hồ Mỹ Hạnh, 2003), cá rô đồng
: Cá rô đồng
2.1.1.2 Hình thái cấu tạo
Theo Mai Đình Yên (1983) đã mô tả hình thái cá rô đồng ở các thủy
vực ao, hồ, ruộng như sau:
3
Hình 2.1 Hình thái ngoài cá rô đồng
Vây lưng XVI-XVIII/8-11. Vây hậu môn VIII-X-19-22. Vảy trên
đường bên 15-19/10-14. Thân cá kéo dài dẹp bên về phía sau. Chiều dài cá
rô không kể đuôi gấp 3-4 lần chiều cao thân. Đầu rộng, chiều dài đầu bằng
chiều cao thân. Mõm ngắn, đầu mõm tròn. Miệng ở tận cùng, nghiêng chẻ
sâu. Răng hàm xếp thành hàm rộng, ngắn và nhọn. Các mắt lớn. Đỉnh và
hai bên đầu có vảy. Cạnh của nắp mang khía răng cưa. Đường bên thành
hai hàng. Vây lưng và vây hậu môn dài, có những gai khỏe. Vây đuôi ít
nhiều tròn. Cỡ vừa năng 0.2 kg, dài 15 cm. Cá có màu nâu, mặt bụng sáng
hơn. Hai bên thân có các chấm đen xếp thành hàng ngang đều hoặc không
đều. Có một chấm đen lớn, tròn ở gốc vây đuôi. Vây lưng, vây hậu môn và
vây đuôi màu nâu, các vây khác màu nhạt.
Cơ qua hô hấp phụ của cá ở cung mang thứ nhất còn gọi là mê lộ
(Jayaram, 1981. dẫn bởi Hồ Mỹ Hạnh, 2003). Cơ quan hô hấp này giúp cá
trao đổi oxy với khí trời, và cũng nhờ cơ quan này mà cá có thể chịu đựng
được thời gian dài ở điều kiện thiếu nước. Với hoạt động của nắp mang,
các vây và cuốn đuôi cá có thể di chuyển một khoảng cách xa để tìm nơi
thích hợp.
4
Lý Thị Thanh Loan, 2004) nhưng thức ăn ưa thích của cá là động vật đáy
như giun tơ, ấu trùng côn trùng, mầm non thủy thực vật. Ngoài ra, cá rô
cũng có khả năng sử dụng thức ăn chế biến, phụ phẩm nông nghiệp rất tốt
(Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Trong xoang miệng cá rô có rất nhiều răng nhỏ, do đó cá có thể
nghiền nhiều loại thức ăn có vỏ cứng (Trần Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Hương, 1993. trích từ Lý Hồng Nga, 2003).
5
Khảo sát cá tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy độ mỡ
của cá rô đồng cao nhất vào các tháng 8-12, là thời kỳ sau sinh sản, đạt 35.8%, so với 1.2-2.4% ở các tháng còn lại. Ball mỡ 4-5 chiếm 87% số cá
trong các tháng 8-12 (Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004).
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá rô đồng là loài có kích thước nhỏ, tốc độ tăng trưởng chậm (khối
lượng lớn cá lớn nhất bắt gặp ở U Minh Thượng là 432 g). Khối lượng
trung bình của cá khai thác ở ĐBSCL dao động từ 60-120 g/con (Nguyễn
Văn Kiểm, 2004). Cá tự nhiên 1 năm tuổi đạt 50-80 g ở cá cái và 50-60 g ở
cá đực (Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004).
Ở ĐBSCL nếu ương cá rô đồng trong ao đất theo phương pháp bón
phân gây màu và cho thêm thức ăn bổ sung như bột đậu nành, bột cám
mịn, lòng đỏ trứng,….mật độ ương 1,000 cá bột/m2. Sau 40-45 ngày cá đạt
kích cỡ khoảng 500-700 con/kg; và nuôi cỡ 5.2 g với mật độ 30 con/m2 ,
cho ăn cám trộn với bột cá tỉ lệ 1:3 khẩu phần 5-7% trọng lượng thân
cá/ngày. Sau 6 tháng nuôi cá đạt 68-75 g/con tương đương 21.3 tấn/ha
(Dương Nhựt Long, 2004).
Cá rô đồng giống với trọng lượng khoảng 300-500 con/kg, mật độ
thả 25-40 con/m2, sử dụng thức ăn công nghiệp dạng nổi hoặc thức ăn tự
chế biến cho cá ăn. Sau 6-7 tháng nuôi cá có thể đạt trọng lượng khoảng
dẫn bởi Hồ Mỹ Hạnh, 2003). Tuy nhiên trong sản xuất giống nhân tạo thì
người ta đã thành công trong việc sử dụng thức ăn chế biến để nuôi cá rô
đồng. Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Mỹ Hạnh (2003) ương cá rô đồng
trong bể xi măng bằng thức ăn chế biến với thức ăn là lòng đỏ trứng và bột
đậu nành, sau đó là thức ăn của tôm càng xanh dạng mảnh có hàm lượng
đạm 36% thì tỷ lệ sống là: 31.47% ( mật độ ương 500 con/m2), 11.4% (mật
độ ương 1,000 con/m2), 9.47% (mật độ ương 1,500 con/m2).
Tương tự theo nghiên cứu của Dương Nhựt Long và ctv (2006) khi
ương cá bột trong ao đất (mật độ 1,000 cá bột/m2) bằng thức ăn lòng đỏ
trứng và bột đậu nành trong tuần lễ đầu, sau đó thức ăn Cagill có hàm
lượng đạm 28-36% sau 35 ngày ương thì cá đạt tỷ lệ sống từ 3.38-13.64%
trung bình 7.96%. Và cũng theo kết quả nghiên cứu của Đặng Khánh Hồng
và ctv (2006) thì cá rô đồng bằng thức ăn công nghiệp thì tỷ lệ sống thu
được sau 4 tuần ương là 4.95%.
Theo Đoàn Khắc Độ (2008) thì trứng cá rô đồng có thể được ấp
trong trong bể xi măng hoặc trong thau nhựa, mực nước sâu khoảng 25-30
cm. Mật độ ấp là 40,000-50,000 trứng/m2. Trong quá trình ấp không cần
sục khí, nhiệt độ nước là 28-30°C thời gian trứng nở là khoảng 18-20 giờ.
Cá bột sau khi nở có thể ương trong bể xi măng hoặc trong ao đất với mật
độ 400-600 con/m2. Thức ăn sử dụng là lòng đỏ trứng vịt + bột đậu nành
trong 10 ngày đầu, cám + bột đậu nành và bột cá cho ngày 11-20, cám và
bột cá cho ăn từ ngày 21 đến ngày thứ 30.
2.2 Sơ lược về một số yếu tố môi trường ảnh hưởng tới hoạt động sống
của thủy sinh vật.
i) Yếu tố nhiệt độ
7
Nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đối với các phản ứng hóa học. Người
Theo Lý Hồng Nga (2003, tích từ Nguyễn Thành Trung, 1998)
trứng cá rô đồng sau khi thụ tinh được tiến hành ấp với nhiệt độ từ 26.528°C hì sau 17,30 giờ trứng sẽ nở. Thời gian ấp trứng tỉ lệ nghich với nhiệt
độ, nhiệt độ càng cao thì tác động đến tốc độ phát triển phôi càng lớn, thời
gian ấp trứng ngắn. Đối với giai đoạn còn nhỏ (giống) theo Nguyễn Văn
Kiểm (2005) thì nhiệt độ thích hợp là khoảng 26-30°C, nhưng biên độ giao
động phải nhỏ, nếu biên độ giao động lớn hơn hoặc bằng 2 thì sẽ ảnh
hưởng đến quá trình phát triển của phôi. Ngoài ra nhiệt độ tăng cao nó
không những tác động trực tiếp lên quá trình trao đổi chất của thủy sinh
8
vật, mà còn có ảnh hưởng gián tiếp làm tăng tính độc tố của khí NH3 trong
nước.
ii) Yếu tố pH
PH là một trong những yếu tố của môi trường ảnh hưởng rất lớn
đến đời sống của thủy sinh vật. pH của máu tấc cả các động vật đều gần
bằng 7. Do đó, khi pH của môi trường quá cao hay quá thấp đều làm thay
đổi áp suất thẩm thấu của màng tế bào làm rối loạn quá trình trao đổi muối
nước giữa cơ thể với môi trường bên ngoài. Do đó pH là trong những yếu
tố quyết định giới hạn phân bố của các loài thủy sinh vật. PH có ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh
sản của cá. Cá sống trong môi trường pH thấp sẽ chậm phát dục, nếu pH
thấp cá sẽ không đẻ hoặc đẻ rất ít (Trương Quốc Phú và ctv, 2006).
Theo Lê Hoàng Bảo (1999. Trích từ Swingle, 1969) thì sự ảnh
hưởng của pH đến cá nuôi như sau:
pH = 4.0 : điểm cá chết acid
pH = 5.0 : cá không sinh sản
pH = 5.0-6.5 : cá phát triển chậm
pH = 6.5-9.0 : môi trường thích hợp cho đa số các loài cá tôm nuôi
đảm bảo cho hoạt động bình thường của cá phải từ 3-4 mgO2/lít. Nếu thấp
hơn 2 mgO2/lít cá có hiện tượng nổi đầu nhẹ. Oxy hòa tan thấp từ 0.5-1
mgO2/lít cá nổi đầu nặng và từ 0.1-0.5 mgO2/lít cá có thể chết hàng loạt.
Tuy nhiên một số loài cá do có cơ quan hô hấp phụ hoặc có khả năng hô
hấp toàn thân có khả năng sống trong môi trường oxy hòa tan rất thấphoặc
bằng không (Nguyễn Văn Kiểm, 2000). Ngoài ra ngưỡng oxy cao hay thấp
phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển, ví dụ ở giai đoạn phôi thì hàm
lượng oxy tối phải từ 3-4 ppm (Nguyễn Văn Kiểm, 2005). Đối với cá rô
đồng ở giai đoạn cá giống thì hàm lượng oxy trong các bể ương dao động
từ 2.39-5.28 ppm. Mặc dù hàm lượng oxy hòa tan thấp nhưng cá rô đồng
có cơ quan hô hấp phụ được hình thành từ ngày thứ 12-13 nên cá vẫn sống
được trong điều kiện oxy thấp (Hồ Mỹ Hạnh, 2003).
iv) Ảnh hưởng của độ mặn
Độ mặn là tổng hàm lượng các muối hòa tan trong môi trường nước
(chủ yếu là NaCl), hàm lượng này thông thường được biểu diễn dưới dạng
phần nghìn (ppt). Các động vật có khả năng sinh sống trong môi trường
nước mặn đòi hỏi phải có các cơ chế điều chỉnh đặc biệt, chẳng hạn các
tuyến bài tiết muối hay gia tăng năng lực bài tiết của thận (theo Bách khoa
toàn thư mở Wikipedia). Do đó các loài sống trong môi trường nước ngọt
khi vào môi trường nước lợ cần phải có quá trình điều hòa áp xuất thẩm
thấu của cơ thể để thích ứng. Độ mặn thích hợp cho mỗi loài thủy sinh vật
khác nhau tùy loài, nếu vượt ra khỏi khoảng thích hợp sinh vật sẽ tốn một
phần năng lượng để điều hòa áp xuất thẩm thấu. Điều này sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển và tăng trưởng của thủy sinh vật.
10
Có rất nhiều loài cá nước ngọt có thể sống trong môi trường nước
lợ, và có thể sinh sản và phát triển tốt ở vùng có độ mặn khoảng 4-5‰.
Thùng nhựa ấp trứng thể tích 30 lít/thùng
30 thùng xốp ương cá bột thể tích 30 lít/thùng
Kim tiêm 5ml, kích dục tố LH-RHa
70 chén nhựa ấp trứng
Máy thổi khí, máy bơm nước, bóng đèn
Ống dẫn khí, dây dẫn khí, van, đá bọt
Cân điện tử (d=0.01) dùng cân cá
Kính hiển vi, thước kẻ vạch (mm), bàn đo cá
Nhiệt kế
Ống xi phong
Đĩa Petri, lam, vợt, muỗng, sổ ghi chép
Các bộ tets đo môi trường: PH, NO2, NH3
Khúc xạ kế
12