MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng và
sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch… kéo theo lượng
chất thải phát sinh từ những hoạt động sinh hoạt của người dân ngày một nhiều hơn,
đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất. Hiện có rất nhiều giải pháp
để xử lí chất thải rắn cụ thể như: Đốt, làm phân, hiđro tách …Tuy nhiên không phù
hợp với tình hình ở Việt Nam do giá thành cao, kỹ thuật phức tạp vì vậy thiết kế bãi
chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp xử lý chất thải rắn được coi là kinh tế nhất cả về
đầu tư ban đầu cũng như quá trình vận hành. Đây là phương pháp xử lý chất thải rắn
phổ biến ở các quốc gia đang phát triển và thậm chí đối với nhiều quốc gia phát
triển. Nhưng phần lớn các bãi chôn lấp CTR ở nước ta không được quy hoạch và
thiết kế theo quy định của bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh. Các bãi này đều không
kiểm soát được khí độc, mùi hôi và nước rỉ rác là nguồn lây ô nhiễm tiềm tàng cho
môi trường đất, nước và không khí.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân
dân. Để thực hiện chủ trương phát triển bền vững, phát triển kinh tế cùng với bảo vệ
môi trường thì hiện nay vấn đề xử lý chất thải rắn tại huyện CưMgar tỉnh Đaklak
cũng đã và đang được chính quyền tỉnh và các cơ quan chức năng quan tâm. Song
với thực tế hạn chế về khả năng tài chính, kỹ thuật và cả về khả năng quản lý nên
huyện chưa có bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh (BCL HVS), việc xử lý CTR cũng gặp
nhiều bất cập. Phần lớn người dân tự xử lý rác bằng cách chôn lấp, đốt, ủ làm phân…
Việc cấp bách nhất bây giờ là cần có những giải pháp phù hợp để giữ môi trường
sạch đẹp và đảm bảo sức khỏe cho người dân.Vì vậy, việc thiết kế xây dựng bãi chôn
lấp chất thải rắn hợp vệ sinh huyện CưMgar là một việc làm hết sức cần thiết và cấp
bách.
Dựa trên cơ sở và thực tiễn trên nên tôi chọn đề tài: “ Thiết kế xây dựng bãi
chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh cho huyện CưMgar tỉnh Đaklak giai đoạn 2011
đến năm 2030” nhằm xử lí lượng rác thải còn tồn đọng trong môi trường làm mất vệ
sinh và gây ô nhiễm môi trường như hiện nay, đồng thời cũng giải quyết sức ép đối
với một lượng lớn chất thải rắn sinh ra trong tương lai.
CHƯƠNG 1
(712m), nơi thấp nhất là vùng Buôn Wing, Buôn Gia Vầm (200-250m). Có thể chia
thành các dạng địa hình như sau :
- Địa hình đồi núi, dốc : Diện tích khoảng 3.463ha chiếm 4,21% diện
tích tự nhiên.
- Dạng địa hình lượn sóng : Diện tích khoảng 62.420ha, chiếm 75,91%
diện tích tự nhiên.
- Dạng địa hình thung lũng hẹp : Diện tích khoảng 16.341ha , chiếm
19,88% diện tích tự nhiên.
1.1.1.3. Khí hậu
Huyện CưMgar mang đặc trung khí hậu vùng Cao Nguyên với nền nhiệt độ
tương đối cao đều trong năm, biên độ ngày và đêm lớn.
Mỗi năm có hai mùa rõ rệt : Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa
khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
a. Nhiệt độ
- Nhiệt độ trung bình :23,5
0
C
- Nhiệt độ cao nhất (tháng 5) : 26,5
0
C
- Nhiệt độ thấp nhất (tháng 12) : 19
0
C
- Biên độ nhiệt ngày và đêm : 9 – 12
0
C.
b. Ánh sáng
- Tổng số giờ nắng trong năm: 2.370 giờ
- Tổng số giờ nắng cao nhất: 326 giờ (tháng 5)
- Tổng số giờ có nắng thấp nhất : 140 giờ (tháng 10)
Bảng 1.1 Nhịp độ tăng trưởng kinh tế qua các gia đoạn
CHỈ TIÊU Giai đoạn 2001-2005 Giai đoạn 2006-2010
GTSX theo giá SS 1994 5,23 9,17
Chia theo ngành kinh tế
Nông - lâm nghiệp 3,45 5,45
Công nghiệp 21,96 20,11
Thương mại - dịch vụ 14,76 15,39
( Nguồn niên giám thống kê huyện năm 2008 và BC KTXH năm 2009)
b. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.
Nông nghiệp - lâm nghiệp
Trong những năm qua, dù gặp không ít khó khăn do thời tiết khí hậu : Hạn hán,
lũ lụt thường xuyên xảy ra trong diện rộng , giá cả nông sản có lúc không ổn định,
nhưng kinh tế nông nghiệp của huyện CưMgar vẫn giữ ở mức tăng trưởng khá, ngành
nông nghiệp thường xuyên chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế (64,52%), cơ cấu cây
trồng có xu hướng đa dạng hóa, ngành chăn nuôi phát triển mạnh trong 3 năm trở lại
đây, khoa học công nghệ được áp dụng nhiều trong công tác cải tạo nâng cao nâng
suất chất lượng vật nuôi cây trồng .
- Nông nghiệp:
Kết quả thực hiện năm 2009.
+ Sản lượng lương thực có hạt hàng năm đều tăng, năm 2009 đạt 83019 tấn tăng
1,48 lấn so với năm 2005 chỉ đạt 55865 tấn.
+ Cây công nghệp hàng năm : tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm 91102
ha/10866ha kế hoạch , đạt 83,84%kế hoạch.
+ Đối với các cây lâu năm như: cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, cây ăn quả…do thời
tiết khá thuận lợi, sâu bệnh phát triển không đáng kể; giá cả các mặt hàng cà phê,
nông sản tương đối ổn định.
- Lâm nghiệp
+ Tổng diện tích rừng và đất rừng 12526ha, trong đó: diện tích rừng tự nhiên
11162ha; rừng trồng 1364ha năm 2009 độ che phủ rừng đạt 14,7% dự kiến năm
2010 đạt tỉ lệ 15% thấp so với kế hoạch 3,86%.
triển vùng nguyên liệu, tập trung đầu tư chiều sâu năng lực một số mặt hàng chủ lực,
có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định: Cà phê, mủ cao su, phân vi sinh…nhằm chế
biến sản phẩm xuất khẩu và nhu cầu phân bón chăm sóc cho cây trồng. Ngoài ra công
nghiệp cơ khí phát triển góp phần đáng kể trong quá trình thúc đẩy cơ giới hóa công
nghiệp.
Thương mại-dịch vụ
Trong những năm qua, hoạt động thương mại-dịch vụ của huyện đã có những
bước chuyển biến tích cực, từng bước tiếp cận được với kinh tế thị trường, thúc đẩy
sản xuất phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng
hóa trên thị trường năm 2009 đạt 602 tỉ đồng (giá hiện hành) tăng gấp 1,73 lần so với
năm 2005 .
Đến nay trên địa bàn huyện có 18 hợp tác xã đang hoạt động, trong đó: 7 HTX
công nghiệp – dịch vụ. Đã bàn giao nhiệm vụ cho ngành điện quản lý là 5 đơn vị, còn
2 HTX đang tiếp tục bàn giao; 1 HTX vận tải, 1 HTX dịch vụ - thương mại và 7 HTX
dịch vụ nông nghiệp
Giáo dục – đào tạo
Sự nghiệp giáo dục đào tạo đã có sự chuyển biến tích cực đáp ứng được yêu
cầu dạy và học trên địa bàn. Các loại hình trường lớp, cấp học từ mầm non đến phổ
thông trung học được mở rộng và phát triển, đa dạng hóa các loại hình giáo dục
( Quốc lập, bán công, dân lập, trung tâm giáo dục thường xuyên, dân tộc nội trú, nhà
trẻ, mẫu giáo).
Năm 2008-2009, toàn huyện có 83 trường từ mầm non đến THPT và một
trung tâm Giáo dục thường xuyên. Trong đó: Mầm non 23 trường, tiểu học 37
trường, trung học cơ sở 19 trường, trường cấp II-III và trung học phổ thông 3 trường,
có 1562 lớp với 46787 học sinh từ mầm non đến THPT, trong đó dân tộc thiểu số
21343 học sinh, chiếm 45,62%.
Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trong 6 tháng năm 2009 trên địa bàn huyện không xảy ra dịch lớn, UBND
huyện đã tập trung công tác chỉ đạo về phòng dịch, duy trì tốt công tác giám sát dịch
tễ từ huyện đến xã và thôn buôn; triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc
3
/ngày.
Nguồn nước phục vụ sinh hoạt đời sống của dân cư khu vực nông thôn chủ
yếu là nước mưa, nước ngầm, nước mặt từ các sông suối, ao hồ… hiện nay có ít
người dân khu vực nông thôn sử dụng giếng khoan, con lại đa phần các nguồn sinh
hoạt đường dẫn từ các sông suối, hồ đập chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt vệ sinh
Đến năm 2009 toàn huyện đạt tỷ lệ số hộ được cấp nước sạch là 65%, trong
đó khu vực thành thị đạt 75% (thị trấn Quảng Phú và EaPốk ) khu vực nông thôn đạt
55% .
Lưới điện
Đến cuồi năm tổng số thôn, buôn là 183, số thôn buôn có điện la 157, số, buôn
chưa có điện la 25 chỉ đạt 85.79% thôn, buôn có điện, vì việc đầu tư xây dựng cho
các thôn buôn chậm. số hộ trên địa bàn huyện là 35400 hộ trong đó có điện là 3113
hộ, đạt 90% số hộ chưa có điện là 87 hộ.
Bưu chính viễn thông – phát thanh truyền hình
Đã hiện đại hóa mạng lưới thông tin trong toàn huyện, đảm bảo thông tin liên lạc kịp
thời trong 17 xã, thị trấn. Đài truyền thanh huyện tiếp phát các chương trình đài
TNVN, đài PTTH ĐakLak theo đúng quy định, tiếp sóng đầy đủ chương trình phát
thanh tiếng Êđê phục vụ đồng bào dân tộc tại chỗ.
1.2. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
1.2.1. Chất thải rắn
Chất thải rắn (Solid Waste) là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ
trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình ( bao gồm các hoạt động sản xuất, các
hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng …) trong đó quan trọng nhất là
các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống.
Rác là thuật ngữ được dùng để chỉ chất thải rắn có hình dạng tương đối cố
định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt
là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động
thường ngày của con người.[4]
1.2.2. Chất thải rắn sinh hoạt
gỗ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa, thủy tinh…), chất thải độc hại như chất tẩy rửa ( bột
giặt, chất tẩy trắng v.v…), thuốc diệt côn trùng, nước xịt phòng bám trên các rác thải.
Khu thương mại: Chợ, siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi
giải trí, trạm bảo hành, trạm dịch vụ…, khu văn phòng (trường học, viện nghiên cứu,
khu văn hóa, văn phòng chính quyền v.v…), khu công cộng (công viên, khu nghỉ
mát…) thải ra các loại thực phẩm (hàng hóa hư hỏng, thức ăn dư thừa từ nhà hàng
khách sạn), bao bì (những bao bì đã sử dụng, bị hư hỏng) và các loại rác rưởi, xà bần,
tro và các chất thải độc hại…
Khu xây dựng : Như các công trình đang thi công, các công trình cải tạo
nâng cấp… thải ra các loại xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, gỗ, ống dẫn v.v…
Các dịch vụ đô thị (gồm dịch vụ thu gom, xử lý chất thải và vệ sinh công cộng như
rửa đường, vệ sinh cống rãnh v.v…) bao gồm rác quét đường, bùn cống rãnh, xác súc
vật v.v…
Khu công nghiệp, nông nghiệp: CTRSH thải được thải ra từ các hoạt động
sinh hoạt của công nhân, cán bộ viên chức ở các xí nghiệp công nghiệp, các cơ sở sản
xuất tiểu thủ công nghiệp. Ở khu vực nông nghiệp chất thải được thải ra chủ yếu là:
Lá cây, cành cây, xác gia súc, thức ăn gia súc thừa hay hư hỏng, chất thải đặc biệt
như: Thuốc sát trùng, phân bón, thuốc trừ sâu, được thải ra cùng với bao bì đựng các
hoá chất đó.
1.2.5. Phân loại chất thải rắn
Việc phân loại chất thải rắn là một công việc khá phức tạp bởi vì sự đa dạng
về chủng loại, thành phần và tính chất của chúng. Có nhiều cách phân loại khác nhau
cho mục đích chung là để có biện pháp xử lý thích đáng nhằm làm giảm tính độc hại
của CTR đối với môi trường. Dựa vào công nghệ xử lý, thành phần và tính chất CTR
được phân loại tổng quát như sau:
Phân loại theo công nghệ quản lý – xử lý: Phân loại CTR theo loại này
người ta chia làm: Các chất cháy được, các chất không cháy được, các chất hỗn hợp.
Bảng 1.3. Phân loại theo công nghệ quản lý- xử lý
Thành phần Định nghĩa Thí dụ
1 . Các chất cháy được
- Đá và sành sứ
- Các loại vật liệu và sản
phẩm được chế tạo từ sắt
- Các loại vật liệu không bị
nam châm hút
- Các loại vật liệu và sản
phẩm chế tạo từ thuỷ tinh
- Các vật liệu không cháy
khác ngoài kim loại và thuỷ
tinh
- Hàng rào, dao, nắp lọ,
…
- Vỏ hộp nhuôm, đồ
đựng bằng kim loại
- Chai lọ, đồ dùng bằng
thuỷ tinh, bóng đèn,…
- Vỏ ốc, gạch đá, gốm
sứ,…
3 . Các chất hỗn hợp - Tất cả các vật liệu khác
không phân loại ở phần 1
và 2 đều thuộc loại này
- Đá, đất, các,…
Phân loại theo quan điểm thông thường:
Chất thải thực phẩm:
Là loại chất thải mang hàm lượng chất hữu cơ cao như những nông sản hư
thối hoặc dư thừa: Thịt cá, rau, trái cây và các thực phẩm khác. Nguồn thải từ các
chợ, các khu thương mại, nhà ăn v.v… Do có hàm lượng chủ yếu là chất hữu cơ nên
chúng có khả năng thối rữa cao cũng như bị phân hủy nhanh khi có điều kiện nhiệt độ
và độ ẩm cao. Khả năng ô nhiễm môi trường khá lớn do sự phân rã của chất hữu cơ
trong thành phần của chất thải.
môi trường đất, nước.
Chất thải rắn sinh ra trong xây dựng:
Là loại chất thải rắn sinh ra trong quá trình đập phá, đào bới nhằm xây dựng
các công trình công cộng, dân dụng, giao thông, cầu cống v.v… loại chất thải này có
thành phần chủ yếu là các loại gạch đá, xà bần, sắt thép, bê tông, tre gỗ… Chúng
thường xuất hiện ở các khu dân cư mới, hoặc các khu vực đang xây dựng.
Chất thải rắn sinh ra từ các cống thoát nước, trạm xử lý nước:
Trong loại chất thải này thì thành phần chủ yếu của chúng là bùn đất chiếm tới
90 - 95%. Nguồn gốc sinh ra chúng là các loại bụi bặm, đất cát đường phố, xác động
vật chết, lá cây, dầu mỡ rơi vãi, kim loại nặng… trên đường được thu vào ống cống.
Nhìn chung loại chất thải này cũng rất đa dạng và phức tạp và có tính độc hại khá
cao. Ngoài ra, còn một loại chất thải rắn khác cũng được phân loại chung vào là bùn
thải sinh ra từ các nhà máy xử lý nước thải, trạm xử lý nước thải, phân rút từ hầm
cầu, bể tự hoại. Các loại chất thải rắn này cũng chiếm một lượng nước khá lớn ( từ 25
– 95%) và thành phần chủ yếu cũng là bùn đất, chất hữu cơ chưa hoại.
1.2.6 Thành phần CTR [8]
1.2.6.1 Thành phần vật lý
CTRSH ở các đô thị là vật phế thải trong sinh hoạt và sản xuất nên đó là một
hỗn hợp phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Để xác định được thành phần của
CTRSH một cách chính xác là một việc làm rất khó vì thành phần của rác thải phụ
thuộc rất nhiều vào tập quán cuộc sống, mức sống của người dân, mức độ tiện nghi
của đời sống con người, theo mùa trong năm,…
Thành phần rác thải có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lựa chọn các thiết bị
xử lý, công nghệ xử lý cũng như hoạch định các chương trình quản lý đối với hệ
thống kỹ thuật quản lý CTR.
Theo tài liệu của EPA – USA, trình bày kết quả phân tích thành phần vật lý
của CTRSH cho thấy khi chất lượng cuộc sống ngày càng cao thì các sản phẩm thải
loại như: Giấy, carton, nhựa,…. ngày càng tăng lên. Trong khi đó thành phần các
chất thải như kim loại, thực phẩm càng ngày càng giảm xuống.
Độ ẩm:
3
)
1.1.6.2 Thành phần hoá học
Thành phần hoá học của CTR đô thị bao gồm: Chất hữu cơ, chất tro, hàm
lượng carbon cố định, nhiệt lượng.
Chất hữu cơ:
Chất hữu cơ được xác định bằng cách lấy mẫu rác đã làm phân tích xác định
độ ẩm đem đốt ở 950
0
C. Phần bay hơi đi là chất hữu cơ hay còn gọi là tổn thất khi
nung, thông thường chất hữu cơ dao động trong khoảng 40 – 60% giá trị trung bình
53%.
Chất hữu cơ được xác định bằng công thức sau:
Chất hữu cơ (%) = c – d / c * 100
Trong đó:
- c : là trọng lượng ban đầu
- d : là trọng lượng mẫu CTR sau khi đốt ở 950
0
C. Tức là các chất trơ
dư hay chất vô cơ và được tính:
Chất vô cơ(%) = 100 – chất hữu cơ (%)
Điểm nóng chảy của tro ở nhiệt độ 950
0
C thể tích của rác có thể giảm 95%.
Các thành phần phần trăm của C (cacbon), H (hydro), N (nitơ), S (lưu huỳnh) và tro
được dùng để xác định nhiệt lượng của rác.
Hàm lượng carbon cố định:
Hàm lượng carbon cố định là hàm lượng carbon còn lại sau khi đã loại bỏ các
phần vô cơ khác không phải là carbon trong tro khi nung ở 950
0
1.3.1.3. Vận chuyển
Hiện nay, việc vận chuyển rác có thể thực hiện bằng các phương tiện vận
chuyển trên các trục đường bộ, đường sắt, đường thủy, các hệ thống khí động và thủy
động lực của một số phương tiện vận chuyển khác cũng được sử dụng cho vận
chuyển rác nhưng không phổ biến.
Tùy vào vị trí địa lý, địa hình, diện tích mặt bằng, chi phí vận chuyển v.v…
mà người ta chọn cách vận chuyển rác hợp lý nhất. Các yêu cầu vận chuyển rác:
- Chi phí vận chuyển thấp nhất.
- Phương tiện vận chuyển phải kín, hợp vệ sinh.
- Phải chở rác bằng phương tiện chuyên dùng để đáp ứng tốt các yêu cầu
sử dụng, bảo quản dễ dàng đơn giản.
1.3.2. Phân loại
Chất thải rắn sau khi thu gom sẽ được vận chuyển về các trạm xử lý để tiến
hành phân loại rác, việc phân loại rác có thể thực hiện bằng tay hoặc bằng các thiết bị
cơ giới hóa vừa nhằm mục đích phân tách các thành phần có thể tái sinh như: Thủy
tinh, kim loại, giấy, nhựa, gỗ… với các thành phần không thể tái sinh. Đồng thời
cũng phân tách được phần lớn các chất hữu cơ và các chất vô cơ. Phần còn lại sẽ
được đốt nếu thích hợp hoặc được nén ép thành từng bánh để làm giảm thể tích CTR
và tăng thời gian sử dụng các bãi rác.
Phân loại CTR đóng vai trò quan trọng nhất vì quá trình này liên quan đến khả
năng tái sinh của các thành phần trong rác sinh hoạt, khả năng phân hủy của các chất
hữu cơ có trong rác. Các cách thức phân loại rác hiện nay gồm:
+ Phân loại CTR bằng tay: Việc phân loại bằng tay có thể thực hiện ngay tại
nguồn, nơi CTR phát sinh như: Các hộ gia đình, các cụm dân cư, các trạm trung
chuyển , trạm xử lý và ngay tại các bãi thải. Ở một số quốc gia phát triển, việc phân
loại bằng tay được tiến hành ngay từ trong từng đơn vị hộ gia đình. Phân loại bằng
tay giúp cho các công đọan phân loại kế tiếp và công tác xử lý để thu hồi nguyên liệu
trở nên dễ dàng hơn, tiện lợi và ít tốn kém hơn.
+ Phân loại bằng luồng khí: Phân loại bằng luồng khí được áp dụng để tách
các thành phần khác nhau của một hỗn hợp khô có trọng lượng riêng khác nhau.
Nén, ép rác là khâu quan trọng trong quá trình xử lý chất thải rắn. Ở hầu hết
các thành phố, xe thu gom thường được trang bị bộ phận ép rác nhằm tăng khối
lượng rác, tăng sức chứa của rác và tăng hiệu suất chuyên chở cũng như kéo dài thời
gian phục vụ cho bãi chôn lấp.
c. Giảm kích thước cơ học:
Là việc cắt, băm rác thành các mảnh nhỏ để cuối cùng ta được một thứ rác
đồng nhất về kích thước. Việc giảm kích thước rác có thể không làm giảm thể tích
mà ngược lại còn làm tăng thể tích rác. Cắt, giã, nghiền rác có ý nghĩa quan trọng
trong việc đốt rác, làm phân và tái chế vật liệu.
1.3.3.2 Phương pháp hóa học
Để giảm thể tích và thu hồi các sản phẩm, các phương pháp hóa học chủ yếu
sử dụng trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: Đốt, nhiệt phân và khí hóa.
a. Đốt rác
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một loại rác nhất định
không thể xử lý bằng các biện pháp khác. Phương pháp thiêu hủy rác thường được áp
dụng để xử lý các loại rác thải có nhiều thành phần dễ cháy. Thường đốt
bằng nhiên liệu ga hoặc dầu trong các lò đốt chuyên dụng với nhiệt độ trên 1000
0
C.
Ưu điểm
Ưu điểm của phương pháp này là khả năng tiêu hủy tốt đối với nhiều loại rác
thải. Có thể đốt cháy cả kim loại, thủy tinh, nhựa, cao su, một số loại chất dưới dạng
lỏng và bán rắn và các loại chất thải nguy hại. Thể tích rác có thể giảm từ 75 - 96%,
thích hợp cho những nơi không có điều kiện về mặt bằng chôn lấp rác, hạn chế tối đa
vấn đề ô nhiễm do nước rác, có hiệu quả cao đối với chất thải có chứa vi trùng dễ lây
nhiễm và các chất độc hại. Năng lượng phát sinh khi đốt rác có thể tận dụng cho các
lò hơi, lò sưởi hoặc các ngành công nghiệp cần nhiệt và phát điện.
Nhược điểm:
Khí thải từ các lò đốt có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các vấn
đề phát thải chất ô nhiễm dioxin trong quá trình thiêu đốt các thành phần nhựa.
phần gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí.
- Sử dụng lại được 50% các chất hữu cơ có trong thành phần rác thải để chế
biến làm phân bón phục vụ nông nghiệp theo hướng cân bằng sinh thái.
Hạn chế việc nhập khẩu phân hóa học để bảo vệ đất đai.
- Tiết kiệm đất sử dụng làm bãi chôn lấp. Tăng khả năng chống ô nhiễm môi
trường, cải thiện đời sống cộng đồng.
- Giá thành tương đối thấp, có thể chấp nhận được.
- Phân loại rác thải được các chất có thể tái chế như ( kim loại màu, thép,
thủy tinh, nhựa, giấy, bìa…) phục vụ cho công nghiệp.
Nhược điểm:
- Mức độ tự động của công nghệ chưa cao.
- Việc phân loại chất thải vẫn phải được thực hiện bằng phương pháp thủ
công nên dễ gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Phần tinh chế chất lượng kém do tự trang tự chế.
- Phần pha trộn và đóng bao thủ công, chất lượng không đều.
b. Biogas
Rác có nhiều chất hữu cơ, nhất là phân gia súc được tạo điều kiện cho vi
khuẩn kỵ khí phân hủy tạo thành khí methane. Khí methane được thu hồi dùng làm
nhiên liệu.
c. Bãi chôn lấp rác vệ sinh
Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân hủy của chất thải
rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt. Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị
tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là
các chất giàu dinh dưỡng như: Axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí
như CO
2
, CH
4
.
Như vậy, về thực chất chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn đô thị vừa là phương
- Đất trong BCL đã đầy có thể bị lún vì vậy cần được bảo dưỡng định kỳ.
- Các BCL thường tạo ra khí methane hoặc hydrogen sunfite độc hại có khả
năng gây nổ hay gây ngạt. Tuy nhiên, người ta có thể thu hồi khí methane
có thể đốt và cung cấp nhiệt.
1.3.3.4 Phương pháp tái chế
Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để
chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản
xuất.
Công nghệ tái chế phù hợp với rác khối lượng lớn và nguồn thải rác có đời
sống cao.
Ưu điểm:
- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bởi việc sử dụng vật liệu được tái chế
thay cho vật liệu gốc.
- Giảm lượng rác thông qua việc giảm chi phí đổ thải, giảm tác động môi
trường do đổ thải gây ra, tiết kiệm diện tích chôn lấp.
- Có thể thu hồi lợi nhuận từ các hoạt động tái chế.
Nhược điểm:
- Chỉ xử lý được với tỷ lệ thấp khối lượng rác (rác có thể tái chế).
- Chi phí đầu tư và vận hành cao.
- Đòi hỏi công nghệ thích hợp.
- Phải có sự phân loại rác triệt để ngay tại nguồn.
1.4. Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
Bất cứ hoạt động nào của con người cũng phát sinh một lượng chất thải rắn,
theo thống kê của cục Bảo vệ môi trường Việt Nam thì mỗi người, mỗi ngày phát
sinh khoảng 0,6 - 0,8 kg chất thải rắn. Vì vậy, ở các vùng nông thôn lượng chất thải
rắn cũng ngày càng tăng lên tương đương với các khu vực ở thành thị. Mặt khác, tại
các khu vực nông thôn lượng chất thải rắn gồm các loại hóa chất độc hại, kim loại
độc hại như chì, crôm, kẽm, thủy ngân của các làng nghề thủ công, rơm rạ, chăn nuôi,
thuốc bảo vệ thực vật… Theo báo cáo của Ủy ban nghiên cứu và bảo vệ môi trường
Chất thải Y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21 - -
Tỷ lệ thu gom trung bình (%) - 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung bình
theo đầu người (kg/người/ngày)
- 0,8 0,3
(Theo báo cáo Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - Chất thải rắn)
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng
Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm
37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến
là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là
1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có
lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp
đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô
thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Hình 2.2). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh
lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có
lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6
tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4
tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt
và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày), đô thị loại II và loại III có
tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 -
0,73 kg/người/ngày), đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên
một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát
triển du lịch như TP. Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP. Hội An 1,08kg/người/ngày;
TP. Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP. Ninh Bình 1,30kg/người/ngày. Các đô thị có tỷ lệ
phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP. Đồng Hới (Tỉnh Quảng
Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum
0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày. Trong khi đó tỷ lệ phát sinh
bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là
- Phosphorus tổng cộng từ 1 – 70 mg/l … và lượng lớn các vi sinh vật.
Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng trong giai đọan lên
men axit sẽ cao hơn trong giai đọan lên men metan. Đó là do các axit béo mới hình
thành tác dụng với lim loại tạo thành phức kim loại. Các hợp chất hydroxyt vòng
thơm, axit humic và axit fulvic có thể tạo phức với Fe, Pb, Cu, Cd, Mn, Zn … Hoạt
động của các vi khuẩn kỵ khí khử sắt có hóa trị 3 thành sắt hóa trị 2 sẽ kéo theo sự
hòa tan của các kim loại như: Ni, Cd và Zn. Vì vậy, khi kiểm soát chất lượng nước
ngầm trong khu vực bãi chôn lấp phải kiểm tra xác định nồng độ kim loại nặng trong
thành phần nước ngầm.
Ngoài ra, nước rò rỉ có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại như: Các chất
hữu cơ bị halogen hóa, các hydrocarbon đa vòng thơm … chúng có thể gây đột biến
gen, gây ung thư. Các chất này nếu thấm vào tầng nước ngầm hoặc nước mặt sẽ xâm
nhập vào chuỗi thức ăn, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe, sinh mạng
của con người hiện tại và cả thế hệ con cháu mai sau.
1.5.2. Ảnh hưởng đến môi trường đất [2]
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất trong
hai điều kiện hiếu khí và kỵ khí. Khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt các sản
phẩm trung gian, cuối cùng hình thành nên các chất khóang đơn giản, nước, CO
2
,
CH
4
…
Với một lượng rác thải và nước rò rỉ vừa phải thì khả năng tự làm sạch của
môi trường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành các chất ít ô nhiễm hoặc không ô
nhiễm.
Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi
trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm. Các chất ô nhiễm này cùng với kim loại
nặng, các chất độc hại và các vi trùng theo nước trong đất chảy xuống tầng nước
ngầm làm ô nhiễm tầng nước này.
2
S
2-
+ 2 H
+
H
2
S
Sufide lại tiếp tục tác dụng với các Cation kim loại, ví dụ như Fe
2+
tạo nên
màu đen bám vào thân, rễ hoặc bao bọc quanh cơ thể sinh vật.
Quá trình phân hủy các chất hữu cơ, trong đó có chứa sulfur trong chất thải
rắn để tạo thành các chất có mùi hôi đặc trưng như: Methyl mercaptan và axit amino
butyric.
CH
3
SCH
2
CH(NH
2
)COOH H
3
SH + CH
3
CH
2
CH
2
(NH
+ CO
2
Trong số các amin mới được tạo thành có nhiều loại gây độc cho người và
động vật. Trên thực tế, các amin được hình thành ở hai quá trình kỵ khí và hiếu khí.
Vì vậy, đã tạo ra một lượng đáng kể các khí độc và cả vi khuẩn, nấm mốc phát tán
vào không khí.
Nồng độ CO
2
trong khí thải bãi chôn lấp khá cao, đặc biệt trong 3 tháng đầu
tiên. Khí CH
4
được hình thành trong điều kiện phân hủy kỵ khí, chỉ tăng nhanh từ
tháng 6 trở đi và đạt cực đại từ 30 -36 tháng. Do vậy, đối với các bãi chôn lấp có quy
mô vừa đang hoạt động hoặc đã hoàn tất công việc chôn lấp nhiều năm, cần kiểm tra
nồng độ CH
4
để hạn chế khả năng gây cháy nổ tại khu vực.
1.5.4. Ảnh hưởng đến cảnh quan và sức khỏe con người
Chất thải rắn phát sinh từ các khu đô thị, nếu không được thu gom và xử lý
đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân
cư và làm mất mỹ quan đô thị.
Thành phần chất thải rắn rất phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ
người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác súc vật chết… tạo điều kiện tốt cho
ruồi, muỗi, chuột… sinh sản và lây lan mầm bệnh cho người, nhiều lúc trở thành
dịch. Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng… tồn tại trong rác có thể gây
bệnh cho con người như: bệnh sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, phó
thương hàn, tiêu chảy, giun sán, lao…
Phân loại, thu gom và xử lý rác không đúng quy định là nguy cơ gây bệnh
nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các chất thải
rắn nguy hại từ y tế, công nghiệp như: Kim tiêm, ống chích, mầm bệnh, hợp chất hữu