Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh - Pdf 33

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA
THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC
CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nhóm ngành khoa học: Kinh tế

HÀ NỘI, 2014


2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA
THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC
CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nhóm ngành khoa học: Kinh tế
Họ và tên nhóm sinh viên:

Vũ Thu Hà....................................Nữ
Nguyễn Thị Mỹ Phương...............Nữ
Hà Phương Thảo...........................Nữ


Chữ viết đầy đủ
Gía trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên
mỗi cổ phiếu
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

EC

Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu
hao
Tiền và tương đương tiền cuối kì

EPS

Thu nhập trên mỗi cổ phiếu

SGDCK TPHCM

Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí
Minh
Gía trị thị trường trên mỗi cổ phiếu

MPS
IPO
VNĐ

Viet Nam Đồng

UNCKNN


TỔNG QUAN

Mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu là mối quan tâm của
rất nhiều đối tượng và đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới. Những nghiên
cứu trước đây chỉ ra rằng có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
nhưng chỉ tập trung vào thông tin lợi nhuận kế toán và giá trị sổ sách của vốn
chủ sở hữu. Để có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, bài nghiên cứu không chỉ
đi theo xu hướng nêu trên mà còn phát triển thêm một số chỉ tiêu mới. Như vậy,
bài nghiên cứu sẽ đánh giá tác động của năm chỉ tiêu kế toán: lợi nhuận trên mỗi
cổ phiếu (EPS), giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu (BVS), lợi nhuận trước thuế và
lãi vay (EBIT), lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA), tiền và
tương đương tiền cuối kì (EC) đến giá cổ phiếu. Tác giả khảo sát trên 281 công
ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh trong
giai đoạn 2003-2012 và sử dụng mô hình Ohlson làm cơ sở lý thuyết.
Sau khi xử lý số liệu, kết quả thực nghiệm cho thấy chỉ tiêu lợi nhuận trên
mỗi cổ phiếu (EPS) là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất trong khi tiền và tương
đương tiền cuối kì cũng có ảnh hưởng đáng kể đến giá cổ phiếu. Nghiên cứu
cũng xác nhận rằng mô hình Ohlson đã hình thành một khung lý thuyết và công
cụ hữu ích trong việc nghiên cứu mối quan hệ thực tế giữa giá cổ phiếu và số
liệu kế toán. Cuối cùng, nghiên cứu gợi ý phương hướng phát triển đề tài này
thông qua việc thêm các biến mới vào mô hình.
Tất cả kết quả của bài nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho những
người quan tâm, các nhà nghiên cứu, nhà đầu tư và quản trị hoặc người đang sử
dụng mô hình Ohlson như là công cụ đánh giá tình trạng hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.


7

CHƯƠNG 1


8
1.2

Mục đích nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thiết kế các phương pháp tiếp cận để phân tích mối
quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí
Minh. Bài nghiên cứu đề ra hai mục tiêu cụ thể sau:
Phân tích khả năng ảnh hưởng của năm chỉ tiêu số kế toán: Lợi nhuận trên
mỗi cổ phiếu (EPS), Giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu (BVS), Lợi nhuận trước
thuế và lãi vay (EBIT), Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA),
Tiền và tương đương tiền cuối kì (EC) đến giá cổ phiếu của các công ty phi tài
chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng dịch chứng khoánTP.Hồ Chí Minh.
So sánh và nhận xét mức độ ảnh hưởng giữa các chỉ tiêu trên tới giá cổ
phiếu, kết luận về chỉ tiêu có ảnh hưởng lớn nhất đến giá cổ phiếu.
1.3

Câu hỏi nghiên cứu

Dựa vào mục đích nghiên cứu nêu trên, bài nghiên cứu tập trung giải
quyết mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu qua hai câu hỏi:
• Mỗi chỉ tiêu kế toán có quan hệ và ảnh hưởng như thế nào đến giá
cổ phiếu?
• Chỉ tiêu kế toán nào có tác động lớn nhất tới giá cổ phiếu?
1.4.

Phương pháp nghiên cứu


Do vậy, do giới hạn thời gian và dữ liệu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
281 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí
Minh.
1.6

Đóng góp dự kiến của nghiên cứu

Đóng góp về mặt khoa học: Đề tài đã tổng hợp, đánh giá những vấn đề lý
luận về mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu. Đề tài đã chắt lọc và
đưa ra định hướng về mô hình lý thuyết giúp thiết lập mối quan hệ giữa thông
tin kế toán và quyết định đầu tư nhằm bổ sung thông tin cho các công ty phi tài
chính niêm yết nói chung và chủ thể tham gia thị chứng khoán nói riêng. Đề tài
đã chỉ ra được chỉ tiêu lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu (EPS) là một chỉ tiêu quan
trọng trong việc đưa ra dự báo về giá thị trường của mỗi cổ phiếu.
Đóng góp về mặt thực tiễn: Bài nghiên cứu sẽ đưa ra những phương
hướng và ý kiến khoa học về mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu.
Từ đó giúp nhà đầu tư, nhà quản lý và các đối tượng quan tâm đưa ra quyết định
đúng đắn. Qua nghiên cứu cũng cho thấy, kế toán của mỗi công ty nên tính toán
chính xác, cẩn thận chỉ tiêu lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu EPS, góp phần tăng tính
minh bạch trong thông tin và góp phần làm cho Thị trường chứng khoán Việt
Nam hoạt động hiệu quả bền vững.


10
Đóng góp về phương pháp nghiên cứu: Luận văn mở ra dòng nghiên cứu
thực chứng trong kế toán tại Việt Nam. Cụ thể ở đây đã sử dụng Ohlson để kiểm
định giả thuyết.
1.7

Kết cấu bài nghiên cứu

Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ

phiếu của các công ty niêm
Theo lý thuyết, giá trị kinh tế của một tài sản có thể được xác định bằng
việc chiết khấu các lợi ích kinh tế kì vọng của tài sản đó với tỷ suất chiết khấu là
chi phí cơ hội vốn. Người đầu tiên ứng dụng và đưa phương pháp này vào thực
tiễn là Williams vào năm 1938. Ông đã đưa ra lý thuyết đầu tư và chỉ ra gốc rễ
của nó là ứng dụng phương pháp giá trị hiện tại thuần để đánh giá tính khả thi
của các dự án. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này cho toàn bộ công ty thì
dòng tiền có thể được xác định bằng nhiều cách khác nhau và điều này dẫn đến
các mô hình khác nhau dựa trên nền tảng mô hình cơ bản.
2.2

Mô hình chiết khấu cổ tức

Phương pháp tiếp cận trực tiếp để định giá cổ phiếu là dựa trên những lợi
ích mà nhà đầu tư nắm giữ, bao gồm cổ tức và giá bán cổ phiếu. Khi cổ phiếu
được đem bán, giá bán hợp lý được xác định bằng cách chiết khấu các dòng tiền
trong tương lai mà người mua kỳ vọng sẽ nhận được trong thời gian họ nắm giữ
cổ phiếu.
Giả sử thị trường hoạt động hiệu quả và công ty không giới hạn tuổi thọ,
giá hiện tại của cổ phiếu P được tính bằng cách chiết khấu các dòng tiền cổ tức
trong tương lai theo công thức sau:

Trong đó, là giá trị kỳ vọng của biến số liên quan tại thời điểm 0
t là tiền thanh toán cổ tức
là chi phí cơ hội của dòng tiền tại thời điểm t
Trên cơ sở mô hình này, Modigliani and Miller (1961) đã nghiên cứu và
chỉ ra rằng, với điều kiện không xét tới chi phí giao dịch và thuế, giá trị của một


vốn chủ sở hữu, thu nhập ròng, cổ tức và các thông tin hữu ích khác.
Khi so sánh với mô hình thu nhập ròng, điểm khác nhau căn bản giữa mô
hình Ohlson và mô hình này là quá trình biến động của thông tin tuyến tính đã


13
chỉ ra thu nhập khác biệt theo thời gian. Điểm khác biệt này là ưu điểm thu hút
các học giả do ở mô hình thu nhập ròng tổng quát hay đơn giản đều chỉ giả định
mô hình tăng trưởng cố định để cung cấp ước tính cụ thể về xu hướng tương
quan và giá trị các thông số.
Bên cạnh đó, như những mô hình khác, mô hình Ohlson cũng tồn tại một
số nhược điểm. Thứ nhất, mô hình hướng đến một công ty cụ thể và không dự
báo các thông số giống nhau cho tất cả các công ty. Tiếp theo, biến v trong mô
hình đại diện cho các thông tin hữu ích khác không được xác định một cách cụ
thể. Do vậy nghiên cứu thực nghiệm thường bỏ qua biến này với giả định chúng
nằm trong hệ số góc và sai sót ngẫu nhiên. Tuy nhiên việc này làm giảm nội
dung thực nghiệm của mô hình.
2.3.

Mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu.

Vai trò của thông tin kế toán rất quan trọng với những hoạt động chứng
khoán, đặc biệt là giá cổ phiếu. Trên thế giới, sau sự sụp đổ của tập đoàn Erron
và Arthur Andersen - một công ty kiểm toán Mỹ, thì sự ưu tiên hàng đầu của
nhà đầu tư và Chính phủ là sự công bố rộng rãi thông tin kế toán từ những công
ty được niêm yết. Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán của các nước trong
đó có Việt Nam đều bổ sung các quy định mới chặt chẽ hơn đối với việc quản lý
các công ty niêm yết về công khai tài chính và thông tin kế toán, cũng như các
hoạt động kiểm toán.
Mục đích căn bản của các công ty niêm yết là tối đa hóa sự giàu có cho

Khi tiến hành nghiên cứu này, tác giả nhận ra rằng thông tin lợi nhuận
không chỉ tác động đến giá cổ phiếu, mà các thông tin kế toán cũng tác động đến
giá cổ phiếu. Như vậy, tác giả nghi ngờ về tính chính xác của giá trị lợi nhuận
được báo cáo. Trong thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn yếu kém
trong việc công bố thông tin. Một số doanh nghiệp không muốn công bố thông
tin, hoặc nếu có thì nội dung công bố đều rất sơ sài. Mặc dù có nghiên cứu
chứng minh rằng lợi nhuận là số liệu quan trọng trong việc xác định giá cổ
phiếu, nhưng tác giả cho rằng thông tin lợi nhuận bị giới hạn vì mối quan hệ
giữa lợi nhuận và giá cổ phiếu là không bền vững và ổn định trong thời gian dài.


15
Do đó, những thông tin kế toán như giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, lợi
nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao
(EBITDA), vv… sẽ được sử dụng để đánh giá và ước tính giá cổ phiếu với sự
trợ giúp của các mô hình.

CHƯƠNG 3
GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.

Các giả thuyết nghiên cứu

Việc xây dựng các giả thiết được dựa vào những tìm hiểu trước đó của
nhiều tác giả. Sau đây sẽ là vài học thuyết đề cập đến mối quan hệ giữa thông tin
kế toán và giá cổ phiếu.
Vào năm 1997, Colins, Maydew và Weiss đã điều tra những sự thay đổi
trong giá trị có liên quan của các khoản lợi nhuận và giá trị sổ sách tại Hoa Kỳ
trong khoảng 40 năm. Mô hình lợi nhuận ròng được sử dụng như là cơ sở lý
thuyết. Các học giả này nhận thấy có một sự đối lập với những tuyên bố trong

một cải tiến nhỏ trong một mô hình đã tính ra được giá trị lợi nhuận ước tính
vĩnh viễn cho các năm sau. Các học giả cũng kết luận được rằng mô hình
Ohlson rất hữu dụng trong nghiên cứu thực nghiệm vì nó cung cấp một khung lý
thuyết thống nhất cho các nghiên cứu xác định giá trị mà các nghiên cứu khác
chưa có. Mô hình Ohlson được thiết lập trong lý thuyết về tài chính mà giá trị
kinh tế của một tài sản có thể được xác định bằng việc chiết khấu các lợi ích


17
kinh tế kỳ vọng của tài sản hoặc dòng tiền thu được trong suốt thời gian sử dụng
tài sản đó với tỷ lệ chiết khấu là chi phí cơ hội của vốn. Tuy nhiên, mô hình này
chỉ được áp dụng trong lý thuyết và nó khó có thể áp dụng trong thực tế vì nó
liên quan đến dự đoán cổ tức trong tương lai cho hoạt động còn lại của công ty.
Đây cũng là khó khăn để áp dụng mô hình này cho các công ty tăng trưởng
nhanh mà giữ lại hầu hết lợi nhuận, họ chỉ phân phối một ít hoặc không phân
phối dưới các hình thức chia cổ tức trong khoảng thời gian dài.
Mô hình Ohlson đã được áp dụng như khung lý thuyết cho một số nghiên
cứu thực nghiệm về mối liên quan giữa các giá trị của các biến số kế toán trong
những hoàn cảnh khác nhau. Qua quá trình nghiên cứu đã nhận ra rằng lợi nhuận
và giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu kết họp với nhau có giá trị hơn khi các
biến số đó đứng một mình. Một số nghiên cứu đã có các kết quả khác nhau khi
tiến hành kiểm tra sự liên quan về giá trị của các biến số khác với giá trị sổ sách
của vốn chủ sở hữu và lợi nhuận. Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy lợi
nhuận ròng không nhất thiết phải tiến triển theo quy trình biến đổi tuyến tính mà
Ohlson giả định. Những phát hiện này cho thấy khi những nhà đầu tư và quản trị
công ti sử dụng những biện pháp đo lường kế toán cơ bản sử dụng bởi các nhà
đầu tư hoặc quản lý kinh doanh để ước tính giá trị hoặc giá trị sáng tạo có thể sẽ
hiểu quả hơn nếu họ tập trung vào cả hai khoản lợi nhuận và giá trị sổ sách của
vốn của sở hữu hơn là tập trung vào một trong các biến chính đơn lẻ.
3.2.

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay.

EBITDA:

Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao.

EC:

Tiền và các khoản tương đương tiền cuối kỳ.

Biến

Đặc trưng

Quan hệ với biến phụ
thuộc (lý thuyết)

MPS

Biến phụ thuộc

BVS

Biến độc lập

+/-

EPS

Biến độc lập

19
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu có quan hệ cùng chiều (+) hoặc ngược chiều
(-) với giá trị thị trường của mỗi cổ phiếu. Lợi nhuận luôn là yếu tố được rất
nhiều đối tượng quan tâm, nó cũng là nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc đưa ra
quyết định của các nhà đầu tư. Do đó, khi mối quan hệ này là cùng chiều (+) tức
là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu tăng lên sẽ thu hút các nhà đầu tư hơn, sẽ kéo
theo sự tăng lên của giá trị thị trường của mỗi cổ phiếu và ngược lại.
Mặt khác, việc sử dụng mô hình Ohlson sẽ giải thích vai trò của giá trị sổ
sách của vốn chủ sở hữu và thông tin lợi nhuận. Giá trị thích hợp được chọn để
đo lường là hệ số hồi quy điều chỉnh . Hệ số này sẽ giải thích sức mạnh của biến
số giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu. Từ kết quả kinh nghiệm nghiên cứu của
Bernard (1995), Penman & Sougiannis (1998), Frankel & Lee (1998), Liu &
Thomas (2000), tác giả nhận ra rằng kết quả phân tích thực nghiệm dựa trên mô
hình này sẽ có sức mạnh giải thích cao hơn các mô hình khác. Ví dụ như nghiên
cứu của Bernard (1995) và Frankel & Lee (1998) đã chỉ ra rằng chỉ tiêu giá trị sổ
sách của vốn chủ sở hữu và thông tin lợi nhuận có thể tác động đến 70% giá trị
thị trường của cổ phiếu. Do đó, khi tiến hành phân tích thực nghiệm mối quan hệ
giữa giá cổ phiếu với các biến kế toán, tác giả đã sử dụng mô hình như sau:
= + + + EBIT + EBITDA + EC + (1)
Trong đó:
là giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu của công ty i tại ngày cuối cùng
của năm tài chính t, đã được công bố trên các báo cáo tài chính.
là giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu của công ty i tại ngày kết thúc năm tài
chính t.
là thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty i trong năm t.
EBIT là lợi nhuận trước thuế và lãi vay của công ty i trong năm t.


20
EBITDA là lợi nhuận trước thuế, lãi vay, và khấu hao của công ty i trong

phiếu chuyển đổi, các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông.
EPS thay đổi tùy theo phương pháp kế toán và EPS mà các chuyên gia
đánh giá được lấy từ thông tin công ty. Do đó, dù là EPS lấy từ công ty hay
chuyên gia thì cũng chỉ là con số ước tính.
Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn
cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên. Hai
doanh nghiệp có thể có cùng tỉ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần
hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố
khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì
doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp
dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để
đảm bảo chất lượng của tỉ lệ này.
*BVS.
BVS là giá trị sổ sách kế toán trên một cổ phiếu, được tính bởi công thức:
BVS =
BVS thường không có nhiều ý nghĩa khi các chuẩn mực kế toán VAS vẫn
phần lớn theo nguyên tắc giá gốc. BVS chỉ là một công cụ trong việc so sánh
trong đánh giá một công ti. Trong thị trường sôi động, giá trị BVS thường thấp
hơn rất nhiều so với giá cổ phiếu. Tuy nhiên trong giai đoạn thị trường điều
chỉnh sâu, rất nhiều cổ phiếu có giá trị thị trường thấp hơn giá trị sổ sách. BVS
cũng thường được những nhà đầu tư sử dụng để xác định vốn của một công ti
liên quan đến giá trị thị trường của công ti đó. BVS là công cụ hữu ích khi xem
xét cổ phiếu ngành ngân hàng, tài chính chứng khoán và bảo hiểm.
* EBIT.
EBIT là lợi nhuận trước thuế và lãi vay, được xác định bởi công thức:
EBIT = Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế + Chi phí lãi vay.


22
EBIT là tất cả lợi nhuận trước khi xem xét đến những khoản trả lãi và

nhất được trình bày trong danh mục tài sản của bản cân đối kế toán. Bản cân đối
kế toán chỉ ra số lượng tiền và các khoản tương đương tại một thời điểm cho
sẵn, và báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích sự thay đổi nguồn tiền theo thời
gian. Mặc dù có vài sự chậm trễ trong việc kiểm định, nhưng những ví dụ gần
đây về tiền và các khoản tương đương bao gồm cả tài khoàn ngân hàng, quỹ thị
trường tiền tệ, chứng khoán trái phiếu dễ bán, và trái phiếu kho bạc. Muốn được
công nhận là “tiền và các khoản tương đương” thì một chứng khoản phải gần
đến hạn thanh toán, khi đó sẽ có ít rủi ro hơn trong giá trị của nó nếu lãi suất
thay đổi.
Số lượng tiền và các khoản tương đương mà công ty đang nắm giữ rất
quan trọng và là một yếu tố lớn tạo thành chiến lược hoạt động chung của một
công ti. Ví dụ, những công ty có lượng tiền và các khoản tương đương cao thì sẽ
có thể dễ dàng vượt qua những giai đoạn khó khăn khi lượng bán hàng hóa ra
thấp hoặc chi phí hoạt động quá cao.
Tuy nhiên, những công ty có quá nhiều lượng tiền và các khoản tương
đương trong tay thường bị mua lại. Sự tích trữ nguồn tiền cao cũng chỉ ra rằng
nhà quản trị không biết cách phân bổ nguồn tiền.
Một chú ý quan trọng đó là có xảy ra chi phí cơ hội khi nắm giữa nguồn
tiền trong tay. Chi phí đó sẽ quay trở lại nguồn vốn mà công ti có thể kiếm bằng
cách đầu tư tiền vào một sản phẩm mới hoặc mở rộng phạm vi kinh doanh.
3.2.3. Ứng dụng mô hình hồi quy để giải thích mối quan hệ giữa thông
tin kế toán và giá cổ phiếu các công ti niêm yết.
Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu thực nghiệm là giá trị
thị trường của mỗi cổ phiếu, giá trị của vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên mỗi cổ
phiếu, lợi nhuận sau thuế và lãi vay, lợi nhuận sau thuế, lãi vay và khấu hao, và
tiền và các khoản tương đương tiền. Các biến này thể hiện giá trị trên mỗi cổ


24
phiếu hơn là tổng giá trị của công ty. Các biến số được sử dụng trong mô hình

25
thu nhập bất thường được sử dụng trong nghiên cứu sẽ phù hợp nhiều hơn trong
lý thuyết.
Trong kiểu mẫu mở rộng, phần cổ tức trên mỗi cổ phiếu được định nghĩa
là phần cổ tức được chi trả, thanh toán trong năm hiện hành, được phân chia cho
số lượng cổ phiếu bình quân đang lưu hành trong năm. Những khoản vốn góp
ròng là số tiền ròng thu được từ việc bán cổ phiếu được phân chia bởi số lượng
những cổ phiếu được sử dụng để tính thu nhập trên mỗi cổ phiếu, kết quả sẽ là
số cổ phiếu trung bình trong năm phát hành. Biến cá biệt này có thể bao gồm lỗi
đo lường không thể tránh khỏi, bởi vì những khoản mục thông tin trong cơ sở dữ
liệu phạm vi toàn thế giới được định nghĩa là số tiền ròng thu được từ việc bán
tất cả các loại cổ phiếu mà không cần được phân loại theo bất cứ hạng mục nào
và nó sẽ bao gồm cổ phiếu ưu đãi bên cạnh những cổ phiếu thường. Tuy nhiên
vẫn có thể có lỗi đo lường mặc dù là rất nhỏ, bởi vì những công ti phi tài chính
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cổ phiếu ưu đãi thường không
phổ biến.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status