GVHD: Ngô Văn Phong
Phần 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ TỔ CHỨC LIÊN MINH CHÂU
ÂU (EU) ,LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM EU
I.
Giới thiệu chung về EU:
Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) hiện bao gồm 27
nước thành viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai Len, Đan
Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Điển, Phần Lan, Séc, Hungga-ri, Ba Lan, Slô-va-kia, Slô-ve-nia, Lít-va, Lát-vi-a, Exờ-tô-nia, Man-ta, Síp,
Bun-ga-ri và Ru-ma-ni.
Trụ sở:
Brussels (Bỉ)
Số ngôn ngữ chính
thức:
23
Ngày châu Âu;
Ngày 9 tháng 5
Diện tích:
4.422.773 km² (nước có diện tích lớn nhất là Pháp với
554.000 km2 và nhỏ nhất là Malta với 300 km2);
đạo luật của EU và ngân sách chung của Liên minh. Các quyết định của Hội đồng
châu Âu chủ yếu được thông qua theo hình thức đồng thuận.
Chủ tịch Hội đồng châu Âu (President of the European Council) có nhiệm kỳ 2,5
năm (tối đa 2 nhiệm kỳ).
2. Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi sau Hiệp ước Lisbon của Council of the European
Union hoặc Council of Ministers hoặc The Council):
Hội đồng Bộ trưởng gồm đại diện (thường ở cấp Bộ trưởng) của các quốc gia
thành viên là cơ quan đưa ra định hướng chính sách trong các lĩnh vực cụ thể và
khuyến nghị EC xây dựng các đạo luật chung. Ngoài Hội đồng Ngoại trưởng do
Đại diện cấp cao về Chính sách đối ngoại và An ninh chung của EU làm Chủ tịch,
Chủ tịch Hội đồng các Bộ trưởng khác do nước Chủ tịch luân phiên đảm nhiệm.
3. Nghị viện châu Âu (European Parliament – EP):
Nghị viện châu Âu có chức năng chính là cùng Hội đồng Bộ trưởng ban hành luật
pháp; giám sát các cơ quan của Liên minh châu Âu, đặc biệt là Ủy ban châu Âu.
Nghị viện có quyền thông qua hoặc bãi miễn các chức vụ ủy viên Ủy ban châu Âu;
cùng Hội đồng Bộ trưởng có thẩm quyền đối với ngân sách, đối với việc chi tiêu
của Liên minh. Từ năm 1979, các Nghị sĩ của Nghị viện EU được bầu cử trực tiếp,
nhiệm kỳ 5 năm. Lần bầu cử mới đây vào tháng 6/2009. Trong Nghị viện các Nghị
sĩ phân chia theo nhóm chính trị khác nhau mà không theo Quốc tịch.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 2
GVHD: Ngô Văn Phong
4. Ủy ban châu Âu (European Commission - EC)
•
•
III.
của thế giới
Lịch sử hình thành và phát triển quan hệ
Trong hơn 20 năm qua, quan hệ Việt Nam - EU đã phát triển nhanh chóng và
sâu rộng về chính trị, lãnh đạo cấp cao hai bên luôn khẳng định coi trọng tăng
cường hợp tác nhiều mặt cho tương xứng với tiềm năng và vị thế của hai bên.Việt
Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày
28/11/1990, kể từ đó đến nay, quan hệ hai bên đã đi vào khuôn khổ, phát triển
nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. EU trở thành một trong những đối tác
quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 3
GVHD: Ngô Văn Phong
mại, đầu tư; đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt
Nam - EU đã phát triển nhanh chóng cả về bề rộng và chiều sâu. Sự phát triển năng
động này đặt ra yêu cầu thiết lập một khuôn khổ hợp tác mới cho quan hệ Việt
Nam - EU thay thế cho Hiệp định khung Việt Nam - EC năm 1995.
Trên tinh thần đó, tháng 6/2005, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê
duyệt Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2015; chủ trương xây dựng “Quan hệ đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện, lâu
dài giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu vì hoà bình và phát triển” và đã giao Bộ
Ngoại giao đàm phán, ký kết Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) Việt
Nam - EU.Sau quá trình hai năm với chín vòng đàm phán, Hiệp định PCA được hai
bên ký trong tháng 10/2010 và ký chính thức tháng 6/2012, đã đánh dấu bước phát
triển về chất mới của quan hệ giữa Việt Nam và EU.
Hiệp định PCA không chỉ điều chỉnh quan hệ song phương giữa Việt Nam
•
•
•
•
•
•
Hà Nội (TTXVN) - Sau gần hai thập kỷ thiết lập quan hệngoại giao, và đặc
biệt là từ khi Hiệp định khung về hợp tác được ký kết năm 1995, thương mại
đã trở thành một trong những lĩnh vực nổi bật nhất trong quan hệ hợp tác
giữa Việt Nam và EU.
Trong những năm qua, hợp tác thương mại và kinh tế giữa Việt Nam và EU
đã có những bước tiến vững chắc. Hiện EU đã trở thành đối tác thương mại
lớn nhất của Việt Nam, chiếm 17% tổng giao dịch thương mại của Việt Nam
với quốc tế.
Theo số liệu của Vụ châu Âu (Bộ Công Thương), trong 6 tháng đầu năm
nay, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt trên 6,7
tỷ USD, tăng hơn 26% so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2005, là thời điểm đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và EU, với kim ngạch hai chiều đạt 8,1 tỷ USD gấp 27 lần năm
1990 và hai lần năm 2000. Năm 2006 con số này đạt hơn 10 tỷ USD, tăng
26% so với cùng kỳ năm trước và là mức tăng cao nhất trong vòng sáu năm
qua
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU năm 2006 đạt trên 7 tỷ USD,
gấp 2,5 lần giá trị năm 2000 và nhập khẩu đạt khoảng 3 tỷ USD gấp 2,4 lần
Vụ châu Âu, là hai bên đã dành cho nhau ưu đãi thuế quan liên tục trong
nhiều năm. Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Đề án tổng thể về quan
hệ Việt Nam - EU (14/6/2005) và Chương trình hành động về Quan hệ Việt
Nam-EU giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2015 nhằm thúc đẩy quan
hệ song phương.
Cùng với Hiệp định khung, Việt Nam và EU cũng đã ký một số hiệp định,
thỏa thuận về kinh tế-thương mại, đáng chú ý như Hiệp định Dệt may, Thỏa
thuận về chống gian lận thương mại giày dép, Hiệp định tiếp cận thị trường.
Việt Nam và EU đã kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ năm 2004.
Những năm gần đây, cộng đồng người Việt tại các nước EU cũng là một cầu
nối tích cực trong quan hệ thương mại giữa hai bên. Hàng năm, cộng đồng
người Việt tại EU đã nhập khẩu một lượng hàng Việt Nam để bán tại các
trung tâm thương mại và các cơ sở kinh doanh của người Việt tại các nước
này.
Tuy nhiên, theo ông Hồi, trong quan hệ thương mại hai bên còn gặp nhiều
khó khăn do trong đàm phán mở cửa thị trường, EU còn gắn kết điều kiện
mở cửa thị trường với các điều kiện lao động, môi trường, các vụ kiện chống
bán phá giá...mà không tính đến trình độ phát triển của Việt Nam.
Để thúc đẩy quan hệ hợp tác phát triển thương mại giữa Việt Nam và EU,
ông Hồi cho rằng, thời gian tới, hai bên cần tăng cường đối thoại về các
chính sách thương mại nhất là những chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến
kinh tế Việt Nam như chính sách cạnh tranh, chính sách tiêu chuẩn kỹ thuật.
EU cần thúc đẩy hơn nữa đầu tư vào những ngành công nghiệp mà Việt Nam
khuyến khích và EU có thế mạnh như dầu khí, năng lượng mới, đóng tàu,
công nghệ cao, công nghệ phần mềm công nghiệp.
VIỆT NAM - EU: THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
GIỮA VIỆT NAM- EU NĂM 2012
Số liệu thống kê Hải quan Việt Nam cho thấy trong những năm gần đây quan hệ
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng xuất khẩu
của Việt Nam sang một số thị trường
khối EU năm 2011 và năm 2012
Biểu đồ 3: Tốc độ tăng nhập khẩu của Việt
Nam từ một số thị trường khối EU năm 2011 và
năm 2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
•
Hiện nay, EU là khu vực thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là đối
tác lớn thứ tư (sau ASEAN, Trung Quốc và Hàn Quốc) cung cấp hàng hoá cho
nước ta.
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2012 của Việt Nam sang thị
trường EU đạt 20,3 tỷ USD, tăng 22,7% (tương ứng tăng 3,76 tỷ USD) so với một
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 8
GVHD: Ngô Văn Phong
năm trước đó và chiếm 17,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ra thị trường
thế giới.
Dẫn đầu về đóng góp vào tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU
trong năm 2012 là 3 nhóm hàng: điện thoại các loại & linh kiện tăng 2,73 tỷ USD
(tương ứng tăng 93%), máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 793 triệu
USD (tăng 98,3%), máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng tăng 209 triệu USD (tăng
47,1%). Chỉ tính riêng kim ngạch tăng của 3 nhóm hàng này đã đóng góp 3,73 tỷ
USD, chiếm tới 99,3% trong tổng số tăng thêm của kim ngạch xuất khẩu sang EU
Năm 2012, thương mại giữa Việt Nam và các thành viên EU có 8 đối tác xuất
khẩu và 2 đối tác nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD.
Kim ngạch của thị trường xuất khẩu trên 1 tỷ USD chiếm 87% kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang EU và đối với các thị trường nhập khẩu con số này chỉ là
hơn 45%.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 10
GVHD: Ngô Văn Phong
Bảng 1: Số lượng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu khối EU theo mức kim
ngạch năm 2012
Xuất khẩu
Số lượng
Mức kim ngạch
(thị
trường)
Lớn hơn 2 tỷ
4
Từ 1 tỷ USD- 2 tỷ USD
4
Từ 500 triệu USD- 1 Tỷ USD 1
Từ 100 triệu - 500 triệu
6
Dưới 100 triệu USD
12
Tổng cộng
27
lớn nhất cung cấp hàng hoá cho các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ trọng chiếm
khoảng 65% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các thành viên EU.
Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu: Trong năm qua, Việt Nam chủ yếu
xuất sang EU các nhóm hàng chính như: điện thoại các loại & linh kiện, giày
dép, dệt may, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, cà phê, hàng thủy
sản, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng,...Đa số các sản phẩm xuất khẩu
sang EU có tỷ trọng khá cao trong tổng kim ngạch sản phẩm đó của nước ta
xuất sang tất cả các thị trường trên thế giới.
Bảng 3: Kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính
của Việt Nam sang EU năm 2012
•
Stt Mặt hàng
Kim ngạch
(TriệuUSD)
1
2
5.663
2.650
Điện thoại các loại & linh kiện
Giày dép
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 11
Tốc độ
tăng/giảm
1.133
Máy móc thiết bị dụng cụ & phụ
7
653
tùng
8 Gỗ & sản phẩm từ gỗ
654
9 Túi xách, ví, vali, mũ & ôdù
437
10 Sản phẩm từ chất dẻo
427
11 Hàng hóa khác
3.331
Tổng cộng
20.303
-4,5
12,1
16,3
98,3
7,9
20,4
22,3
-16,7
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Ghi chú: 1.Tốc độ tăng/giảm là tốc độ tăng/giảm nhóm hàng đó năm 2012 so với
năm 2011
2. Tỷ trọng 1 là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của từng mặt hàng trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU
3. Tỷ trọng 2 là tỷ trọng trị giá xuất khẩu nhóm hàng của Việt Nam sang
EU so với kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đó của cả nước sang tất cả các thị
trường.
•
Các nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu: Việt Nam nhập khẩu hàng hoá từ các
nước/thị trường trong khối EU chủ yếu là các nhóm hàng như: máy móc
thiết bị dụng cụ & phụ tùng, phương tiện vận tải & phụ tùng, dược phẩm,
máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện. Trị giá nhập khẩu của 4 nhóm
hàng này chiếm tới hơn 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ
EU.
Bảng 3: Kim ngạch, tỷ trọng nhập khẩu một số nhóm hàng chính
của Việt Nam từ EU năm 2012
Stt Mặt hàng
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 12
Kim ngạch Tốc độ
Tỷ
Tỷ
(Triệu USD) tăng/giảm trọng 1 trọng
(%)
-15,2
133,0
24,1
(%)
23,3
14,3
10,0
2 (%)
12,8
74,9
48,9
630
149,4
7,2
4,8
334
275
245
226
207
202
2.485
Ghi chú:1.Tốc độ tăng/giảm là tốc độ tăng/giảm nhóm hàng đó năm 2012 so với
năm 2011
2. Tỷ trọng 1 là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của từng mặt hàng trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN.
3. Tỷ trọng 2 là tỷ trọng trị giá xuất khẩu nhóm hàng của Việt Nam sang ASEAN so
với kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đó của cả nước sang tất cả các thị trường.
III.
quan hệ thương mại giữa Việt Nam –EU & chính sách ngoại thương
Sau gần 2 thập kỉ thiết lập quan hệ ngoại giao và đặc biệt khi hiệp định khung được
kí kết năm 1995 , thương mại đã trở thành một trong những lĩnh vực nổi bật nhất
trong quan hệ giữa Việt Nam và EU
•
thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP)
Việt Nam và EU đã dành cho nhau những chế độ đãi ngộ tối huệ quốc
( MFM) và EC cam kết dành cho hàng hóa Việt Nam có chế độ ưu đãi phổ
cập ( GSP),gia hạn và tăng ngạch nhập khẩu hang dệt may của Việt Nam
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 13
GVHD: Ngô Văn Phong
.Tuy nhiên ,2009 EU đã thông qua quy định về việc bỏ quy chế hệ thống
thuế quan phổ cập đối với mặt hang giày dép Việt Nam làm cho lợi thế cạnh
tranh về giá của mặt hàng giày xuất khẩu giảm xuống so với các nước
khác .Hội da giày Việt Nam cho biết khi không được hưởng mức thuế ưu đãi
TƯ
I.
Hợp tác:
Kể từ khi Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) thiết lập quan hệ ngoại
giao cấp đại sứ (ngày 28/11/1990) đến nay đã tròn 22 năm. Trải qua một
chặng đường dài gần một phần tư thế kỷ, hai bên Việt Nam - EU đã kề vai sát
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 14
GVHD: Ngô Văn Phong
cánh, vượt qua mọi thử thách, từng bước xây dựng quan hệ hợp tác từ thấp
lên cao
Việt Nam - EU đã xây dựng được mối quan hệ hợp tác tin cậy, thủy chung,
lâu dài, bền vững. Lãnh đạo hai bên có quyết tâm cao, thường xuyên trao đổi
các đoàn cấp cao, đã ký kết các Hiệp ước hợp tác có hiệu quả, đưa ra nhiều
sáng kiến hợp tác thiết thực. Mối quan hệ hợp tác giữa hai bên được dựa trên
cơ sở pháp lý vững vàng.Tất cả những điều đó đã tạo ra một nền móng vững
chắc cho việc thực hiện Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) sau
này.Cụ thể, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với từng quốc gia thành
viên của EU 27 từ thập kỷ 50, 60 (với các nước Đông Âu), với các nước Tây
Bắc Âu từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Sau khi Việt Nam và EU thiết lập quan
hệ ngoại giao (11/1990) đến năm 1992, hai bên đã ký kết hiệp định dệt may,
tháng 7/1995 ký hiệp định khung về hợp tác, năm 1999 ký thỏa thuận chống
gian lận thương mại giày dép, năm 2004 ký thỏa thuận Việt Nam gia nhập tổ
chức thương mại thế giới (WTO), năm 2005 ký hiệp định tiếp cận thị trường.
Và đặc biệt tháng 6/2012 ký PCA2. Kim ngạch hai chiều nâng từ mức 1,5 tỷ
USD (1995) lên 24,3 tỷ USD (2011) tăng hơn 16 lần, EU là đối tác thương
mại lớn thứ 3, là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Cơ cấu hàng
hóa giữa hai bên luôn bổ sung cho nhau, không làm tổn hại đến sự cạnh tranh
người lại đang trong quá trình phát triển, với việc thực hiện chiến lược công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhu cầu tiêu dùng về tư liệu sản xuất, cũng như nhu
cầu sinh hoạt không ngừng tăng lên.
- Tình hình chính trị trong nước ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo. Tuy
có những tệ nạn xã hội song Chính phủ có những biện pháp hữu hiệu để xoá
bỏ, tạo ra môi trường trong sạch.
- Luật Đầu tư Nước ngoài vừa được sửa đổi có nhiều điểm thông thoáng hơn
đã khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực, khu vực cụ thể.
- Có chính sách ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng.
- Người Việt Nam, với trình độ giáo dục khá tốt, sự tinh tế, khả năng ứng xử
và bàn tay khéo léo hứa hẹn một nguồn lực mạnh, kèm theo đó là thị trường
lao động tương đối rẻ và ổn định. Thêm vào đó, tài nguyên thiên nhiên đa
dạng, nhiều nguồn lực chưa được khai thác hoặc mới chỉ được khai thác bước
đầu.
- Sau chín năm mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đã bắt
đầu có được những kinh nghiệm của cơ chế thị trường. Nó ngày càng hoạt
động mạnh mẽ, thị trường đã từng bước được xây dựng đồng bộ và dần dần
củng cố vững chắc.
- Đặc biệt là quan hệ giữa Việt Nam và từng nước EU đã có từ lâu, và gần đay
quan hệ song phương cũng như đa phương giữa Việt Nam và EU được tăng
cường mạnh mẽ.
Chính vì những lý do này mà luồng vốn đầu tư FDI của EU vào Việt Nam
ngày càng tăng lên với nhiều nước EU đầu tư hơn. Với những năm trước đây,
khi bắt đầu mở cửa chỉ có Đan Mạch, Pháp, CHLB Đức, và Thụy Điển thì vào
những năm tiếp theo các nước khác lần lượt đầu tư vào.
b/ Những khó khăn:
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 16
GVHD: Ngô Văn Phong
Tổng vốn
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 17
Vốn cấp
Vốn thực
GVHD: Ngô Văn Phong
Áo
Đức
Đan mạch
Hà lan
Italia
Lucxambua
pháp
Tây ban nha
Anh
án
2
14
9
10
4
2
22
1
1,4
4,2
3,8
(Nguồn: Cục ĐTNN - Bộ KH&ĐT)
Kể từ khi Việt Nam ban hành Luật ĐT nước ngoài tháng 12/1987 đến hết
tháng 8/2005, các nước EU có 466 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn ĐT đăng
ký gần 6,8 tỷ USD và vốn ĐT thực hiện gần 3,8 tỷ USD. Đã có 16 trong tổng
số 25 quốc gia thành viên EU ĐT vào Việt Nam, trong đó dẫn đầu là Pháp với
150 dự án và tổng vốn ĐT là 2,12 tỷ USD; tiếp theo là Hà Lan với 57 dự án và
tổng vốn ĐT 1,8 tỷ USD; Anh có 66 dự án tổng vốn ĐT 1,2 tỷ USD…Các
nhà ĐT EU có mặt trong hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam, trong đó tập
trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, với 260 dự án và tổng
vốn ĐT là 4 tỷ USD, đặc biệt đáng chú ý là riêng dầu khí có 7 dự án còn hiệu
lực, với tổng vốn lên tới 1,35 tỷ USD. Trong lĩnh vực dịch vụ, EU có 158 dự
án với tổng vốn ĐT là 2,3 tỷ USD và trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, 48 dự
án, tổng vốn ĐT là 452,5 triệu USD có nguồn gốc từ EU.
Lĩnh vực
Số vốn
Công nghiệp xây
dung
Dịch vụ
260
Số vốn đầu tư(tỷ
USD)
(Thuỵ Điển)…; các tập đoàn kinh doanh siêu thị như Metro (Đức), Bourbon
(Pháp)…
Đối với Việt Nam, châu Âu là một đối tác ĐT chiến lược đứng trên quan điểm
thế mạnh về vốn và công nghệ của khu vực này.Các nhà ĐT EU đã góp phần
tạo ra một số ngành nghề, sản phẩm mới có hàm lượng khoa học và công nghệ
cao. Tuy nhiên, để đẩy mạnh thu hút vốn ĐT từ châu Âu cần có những giải
pháp mạnh mẽ hơn nữa, đặc biệt trong điều kiện EU đang mở rộng, nhu cầu
ĐT của các nước thành viên mới là rất lớn và vốn ĐT của EU sẽ ưu tiên cho
các thành viên mới.
Việc EU là đối tác lớn đầu tiên kết thúc đàm phán với Việt Nam về việc gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho thấy những tác động của quá
trình này lên thu hút ĐT của EU vào Việt Nam. “Khi Việt Nam gia nhập
WTO, tính hấp dẫn của Việt Nam cao hơn và các nhà đầu tư có thể đưa ra
những quyết định ĐT lớn hơn.Các nhà ĐT châu Âu có thể sẽ tìm cách mua cổ
phần của các doanh nghiệp Việt Nam tìm cách tiếp cận thị trường”, một
chuyên gia ĐT nhận xét. Trong khi chờ đợi các vòng đàm phán WTO kết thúc,
thực hiện việc mở cửa lĩnh vực dịch vụ theo đúng cam kết và đối với một số
dự án cụ thể, có thể xem xét cho phép ĐT sâu hơn được coi là những giải
pháp có tính thuyết phục.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 19
GVHD: Ngô Văn Phong
b/ Sau khi gia nhập WTO
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với EU, Việt Nam cùng EU đã ký hơn 10
Hiệp định quan trọng liên quan đến hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương
mại, các hoạt động hỗ trợ, viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc đổi mới.
•
777.611
367.773
CH Séc
16
50.461
26.411
Đan Mạch
81
583.830
220.513
CH Pháp
274
3040.302
1543.273
Hà Lan
Nguồn : Tổng cục Thống kê
Từ bảng số liệu trên , ta thấy Pháp là quốc gia đầu tư nhiều vào Việt Nam với
số dự án lên tới 274 và có vốn đăng ký là 3040.302 nghìn USD.Tiếp đó đến
CHLB Đức với 139 dự án và vốn đăng ký : 77.661 nghín USD. Hà Lan với
124 dự án và 2933.914 nghìn USD. Có thể nói, Việt Nam là một thị trường
tiềm năng trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài.
Theo vụ thị trường châu Âu, trong năm 2012, các nước thành viên EU đã có
thêm 140 dự án đầu tư mới vào Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký cấp mới trên
1,03 tỷ USD.
Hiện nay, 22 trong số 27 nước thành viên EU có dự án đầu tư vào Việt Nam.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 21
GVHD: Ngô Văn Phong
Tính đến tháng 1/2013, EU có 1.810 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký
34,28 tỷ USD, thực hiện 13,8 tỷ USD. Trong đó vốn đăng ký và vốn thực hiện
từ Đảo British Virgin - lãnh thổ hải ngoại của Anh, nơi có cơ chế tài chính
thoáng và các công ty quốc tế thường đăng ký đạt lần lượt 14,3 tỷ USD và 5,3
tỷ USD.
Đến hết năm 2012, Hà Lan với 176 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 5,88 tỷ USD đã
dẫn đầu và vượt Pháp với 375 dự án, tổng vốn đầu tư 1,61 tỷ USD, tiếp theo là
Anh (162 dự án, 2,61 tỷ USD); Síp (13 dự án, 2,74 tỷ USD), Luxembourg (24
dự án, 1,49 triệu USD); Đức (195 dự án, trên 1,05 tỷ USD).
Nhìn chung đầu tư từ Việt Nam sang EU là không nhiều và dừng ở mức khiêm
tốn, chủ yếu tập trung vào một số nước như Hà Lan, Séc, Đức.
Tính đến nay, tính cả các dự án đã hết và đang còn hiệu lực thì Việt Nam có 10
dự án đầu tư sang CHLB Đức với tổng vốn đăng ký là 24,2 triệu USD, Hà Lan
có 1 dự án (5,6 triệu USD), Ba Lan có 2 dự án (8,1 triệu USD), Vương quốc
Anh có 6 dự án (2,1 triệu USD), Cộng hòa Séc (5,3 triệu USD).
nghiệp Việt Nam và vượt trội ở một số ngành so với FDI vào lĩnh vực dịch vụ
của Việt Nam. Doanh thu trung bình của các doanh nghiệp FDI châu Âu trong
hầu hết các ngành dịch vụ lớn hơn nhiều lần so với doanh thu trung bình của
các doanh nghiệp FDI khác. Cụ thể các ngành khoa học và công nghệ (1,91
lần), y tế và các hoạt động cứu trợ (1,83 lần), giáo dục đào tạo (1,79 lần), tài
chính tín dụng (gấp 1,77 lần), vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc (gấp 1,77
lần) và thương nghiệp và sửa chữa (gấp 1,45 lần). Tuy nhiên, có một điểm cần
xem xét là doanh thu trung bình của ngành dịch vụ châu Âu đầu tư vào nhiều
nhất là các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn lại thấp
hơn mức bình quân của các doanh nghiệp FDI từ các nước khác (trung bình
bằng 0,8 lần các doanh nghiệp FDI nói chung). Bên cạnh đó, doanh thu vào các
ngành khách sạn và nhà hàng cũng rất thấp, chỉ bằng 0,54 lần các doanh nghiệp
FDI cùng ngành). Điều này cho thấy các ngành khách sạn và nhà hàng cũng
như kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn không phải là những ngành có lợi thế
cạnh tranh lớn của FDI châu Âu tại Việt Nam so với FDI từ các khu vực khác
trong khi thực chất đầu tư vào các ngành dịch vụ này lại chiếm tỷ trọng vốn và
doanh nghiệp
tương đối lớn trong tổng vốn FDI của châu Âu vào Việt Nam.
c/ Những tác động FDI của EU đến một số mặt của kinh tế Việt Nam:
. Tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
Với số vốn đầu tư và số doanh nghiệp tăng dần qua các năm, số lượng việc làm
do nguồn FDI từ khu vực châu Âu tạo ra trong nền kinh tế cũng tăng lên đáng
kể. Tốc độ tăng trưởng tạo việc làm trung bình của FDI từ khu vực châu Âu
khoảng gần 15% một năm. Nếu như năm 2002, khu vực này sử dụng trung bình
khoảng 61042 lao động thì năm 2009, tổng số lao động trong các doanh nghiệp
FDI của châu Âu đã lên tới 160557 lao động. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung
FDI, các doanh nghiệp có vốn FDI từ khu vực châu Âu sử dụng số lượng lao
lao động thấp hơn mức trung bình. Dù quy mô vốn và số doanh nghiệp của khu
vực này luôn trên 11% trong tổng giá trị của các doanh nghiệp FDI song số
lượng lao động sử dụng chỉ chiếm khoảng 8 – 9% so với tổng số lao động thuộc
Số việc làm Đóng góp vào việc làm tạo
tạo thêm hàng thêm hàng năm trong khu vực
năm
doanh nghiệp
6231
13648
11405,5
110817,5
18577,5
31161,5
1,18%
2,40%
2,19%
10,05%
2,09%
4,46%
Lưu ý: số liệu về lao động là số trung bình của lao động đầu kỳ và cuối kỳ vào
thời điểm 1/1 và 31/12 hàng năm.
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp các năm 2002 – 2009, Tổng cục Thống kê
c.2. Đóng góp vào ngân sách nhà nước(NSNN):
FDI từ khu vực châu Âu có vai trò khá lớn trong thu ngân sách nhà nước. Nếu
như năm 2002, khi tổng giá trị nộp NSNN của các doanh nghiệp FDI chiếm
khoảng 42% giá trị nộp NSNN của khu vực doanh nghiệp thì riêng doanh
nghiệp FDI từ châu Âu đã nộp tới 30%. Nhìn chung xét theo các doanh nghiệp
trong mặt bằng chung của từng ngành kinh tế, khu vực doanh nghiệp FDI từ
châu Âu luôn đóng góp tương đối lớn vào NSNN so với các khu vực còn lại.
Tuy nhiên, nếu loại bỏ những khoản nộp ngân sách nhà ở các doanh nghiệp có
FDI từ châu Âu thuộc ngành khai thác mỏ, tỷ trọng đóng góp của khu vực
giúp một phần chuyển giao máy móc tiên tiến và có thể là công nghệ hiện đại
trong sản xuất từ các nước phát triển này cho Việt Nam.
c.4. Tác động tới xuất nhập khẩu:
Bên cạnh nhập khẩu, các doanh nghiệp FDI châu Âu cũng có những đóng
góp tích cực vào xuất khẩu của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam
sang các nước châu Âu nói chung và các nước EU nói riêng tăng mạnh qua
các năm (Hình 10). Hơn nữa, xét về tổng thể, Việt Nam luôn xuất siêu sang
các nước châu Âu, đặc biệt là khu vực EU. Các nước bạn hàng lớn của Việt
Nam cũng chính là những nước đầu tư trực tiếp nươc ngoài nhiều tài Việt
Nam như Hà Lan, Vương quốc Anh, Pháp; và các mặt hàng công nghiệp
chính xuất khẩu sang những nước này cũng chủ yếu từ các ngành có đầu tư
FDI lớn (như xuất khẩu thực phẩm và đồ uống sang Hà Lan). Đồng thời,
điều này cũng được thể hiện thông qua số doanh nghiệp tham gia hoạt động
xuất khẩu tăng từ 160 doanh nghiệp năm 2003 lên tới 224 doanh nghiệp năm
2010. Tuy nhiên xét đồng thời giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của khu vực
châu Âu năm 2010 lại cho thấy FDI từ các nước này nhập siêu vào Việt Nam
thay vì xuất siêu. Điều này gây lo ngại cho nền kinh tế do FDI nhập siêu có
thể khiến cho cán cân thanh toán của Việt Nam xấu đi. Đồng thời, con số
nhập siêu này cũng có thể một phần nào đó bao gồm cả vấn đề chuyển giá
khi doanh nghiệp xuất khẩu thành phẩm sang công ty mẹ với mức giá thấp
trong khi nhập khẩu nguyên liệu và các đầu vào khác với mức giá cao.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 25