BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ HẰNG TRANG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐẢNG VIÊN MỚI Ở ĐẢNG BỘ
KHỐI CÁC CƠ QUAN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ HẰNG TRANG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐẢNG VIÊN MỚI Ở ĐẢNG BỘ
KHỐI CÁC CƠ QUAN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: LL &PP dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
B. NỘI DUNG................................................................................................. 12
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐẢNG VIÊN MỚI .......................................................... 12
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài ............................................ 12
1.2. Bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới ......................................... 27
Kết luận chương 1 .......................................................................................... 40
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ CHO ĐẢNG VIÊN MỚI Ở ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN HUYỆN
CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ................. 42
2.1. Khái quát chung về huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh ..................................... 42
2.2. Thực trạng về đội ngũ Đảng viên mới Đảng bộ khối cơ quan huyện Can Lộc, tỉnh
Hà Tĩnh ............................................................................................................. 45
2.3. Thực trạng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới ở Đảng
bộ khối các cơ quan huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh ............................................ 51
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 64
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐẢNG VIÊN MỚI Ở ĐẢNG
BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ............................................................................... 66
3.1. Quan điểm về bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới ................... 66
3.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng
viên mới ở Đảng bộ khối các cơ quan huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trong giai
đoạn hiện nay ................................................................................................... 67
Kết luận chương 3 .......................................................................................... 90
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................... 92
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 94
E. PHỤ LỤC
4
CNH- HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
5
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Số liệu kết nạp Đảng viên mới của các tổ chức cơ sở Đảng ở Đảng bộ
khối cơ quan huyện Can Lộc năm 2012 và 2013 .............................................. 48
Bảng 2.2. Cơ cấu Đảng viên mới của Đảng bộ khối cơ quan huyện Can Lộc, tỉnh
Hà Tĩnh ............................................................................................................ 49
Bảng 2.3. Kết quả học tập của các lớp Đảng viên mới Đảng bộ khối các cơ quan
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh năm 2012 ........................................................... 55
Bảng 2.4. Kết quả học tập của các lớp Đảng viên mới Đảng bộ khối các cơ quan
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh năm 2013 ........................................................... 56
6
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển của đất nước Việt Nam, Đảng cộng sản Việt
Nam là lực lượng lãnh đạo, đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động. Nhờ sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc. Để có được những kết quả đó, một trong những yếu tố
quan trọng làm nên năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng chính là đội
ngũ đảng viên, là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công
Điều này xuất phát từ công tác quản lý, giáo dục đảng viên của các tổ chức đảng
nhưng có nguyên nhân sâu xa là công tác bồi dưỡng lý luận để nâng cao nhận
thức chính trị cho đảng viên chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, sự tác
động của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế mang lại những thời cơ
tốt nhưng cũng không ít thách thức cho nhân dân Việt Nam. Chiến lược diễn
biến hòa bình, bạo loạn lật đổ và sự du nhập các luồng văn hóa khác nhau ngày
càng tác động lớn đến lập trường, bản lĩnh, tư tưởng của một số cán bộ đảng
viên. Đó là thực trạng đáng báo động và đáng lo ngại đối với chất lượng đảng
viên của Đảng bộ huyện nói riêng và các tổ chức Đảng nói chung hiện nay.
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu vấn đề: “Nâng cao chất lượng bồi
dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới ở Đảng bộ khối các cơ quan
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay” là đề tài có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ nói chung và đảng viên nói
riêng đã được nhiều Nghị quyết của Trung ương Đảng, nhiều nhà nghiên cứu và
một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Chính
trị quan tâm nghiên cứu, trao đổi. Tiêu biểu trong đó có các công trình:
Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 20/9/1979, Hội nghị lần thứ sáu Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về tình hình và nhiệm vụ cấp bách. Nghị quyết
8
Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về một
số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Nghị
quyết số 16-NQ/TW, ngày 18/3/2002 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá IX về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận
trong tình hình mới. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương khoá IX số 16-NQ/TW, ngày 18 tháng 3 năm 2002 về nhiệm vụ chủ yếu
của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới.
thực tiễn của việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng
viên mới Đảng bộ khối các cơ quan trên địa bàn huyện Can Lộc.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu công tác
bồi dưỡng lý luận chính trị cho đối tượng cụ thể là Đảng viên mới Đảng bộ khối
các cơ quan trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng ta về công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho
Đảng viên mới. Luận văn kết hợp các phương pháp lịch sử và logic, phân tích và
tổng hợp, các phương pháp so sánh thống kê...
6. Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn yêu cầu cấp thiết
phải nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ Đảng viên mới
ở Đảng bộ các cơ quan huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Qua đó đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên
mới ở Đảng bộ khối các cơ quan của huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo, giúp
các cấp ủy Đảng, hệ thống các trường chính trị trong việc nghiên cứu, xây dựng nội
dung chương trình, đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới nhằm
đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của đội ngũ Đảng viên mới trong tình hình hiện nay.
7. Giả thiết khoa học
Nếu xây dựng được các giải pháp giáo dục một cách phù hợp, khả thi, sẽ
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ
11
Đảng viên mới ở Đảng bộ khối các cơ quan trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà
Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
biến tất nhiên, bên trong của sự vật, vì vậy nhận thức lý tính đạt đến trình độ
phản ánh sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn cái bản chất của đối tượng.
13
Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm
thực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật
của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống
các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật, là sản phẩm của sự phát triển cao
của nhận thức, đồng thời thể hiện như là trình độ cao của nhận thức, nó tồn tại
và phát triển cùng với sự phát triển của trí tuệ loài người trên mọi lĩnh vực tự
nhiên và xã hội. Theo Từ điển Triết học: “Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về
tự nhiên và xã hội tích lũy được trong quá trình lịch sử”; là “Hệ thống tư tưởng
chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức” [45, 526]. Chủ tịch Hồ Chí Minh định
nghĩa: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp
những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”
[30, 497]. Xét về mặt bản chất, lý luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ mang
tính trừu tượng khái quát, đúc kết từ thực tiễn, được diễn đạt thông qua các khái
niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật ... phản ánh bản chất của sự vận động, biến
đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
Mọi lĩnh vực đời sống tự nhiên, xã hội, tư duy khi đã trở thành đối tượng
nghiên cứu của con người thì kết quả của quá trình nghiên cứu ấy đều được thể
hiện dưới hình thức tri thức lý luận với trình độ khái quát hóa nhất định. “Lý
luận hiểu theo nghĩa chung nhất là các khái niệm, phạm trù, quy luật được khái
quát từ nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận là
kết quả nhận thức chủ quan của con người về những hiện tượng khách quan
trong tự nhiên, xã hội và tư duy” [18, 183]. Lý luận được hình thành từ thực
tiễn, trên cơ sở thực tiễn đa dạng, phong phú của loài người. Để tồn tại và phát
triển, buộc con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, phải có tri thức nhất
định về nó. Lý luận chính là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa từ những tri thức
tính phức tạp của nó mà cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh khái
niệm chính trị. Thuật ngữ chính trị có nguồn gốc từ hy lạp cổ, “politica” nghĩa là
những công việc của nhà nước, là nghệ thuật cai trị đất nước, đó còn là một tổ
chức xã hội nằm dưới một quyền lực nhất định, quyền lực nhà nước.
C.Mác và Ph.Ăngghen xem xét chính trị với tư cách là một hiện tượng xã
hội - chính trị mang tính lịch sử, chỉ ra vai trò to lớn của nó trong đời sống xã hội.
15
“Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, khi kinh tế phát triển đến một trình độ nhất
định, xã hội phân chia thành giai cấp và mâu thuẫn giữa các giai cấp trở nên gay
gắt không thể điều hòa được thì nhà nước, chính trị ra đời” [14, 5]. “Kế thừa
những tinh hoa của nhân loại, đồng thời là lãnh tụ của giai cấp công nhân,
V.I. Lênin cho rằng cái căn bản nhất của chính trị là tổ chức chính quyền Nhà
nước. Chính trị là sự tham gia vào các công việc Nhà nước, định hướng nhà nước,
xác định hình thức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước. Bất kỳ hoạt
động xã hội nào cũng có tính chất chính trị, nếu như việc giải quyết nó trực tiếp
hay gián tiếp gắn với lợi ích giai cấp, gắn với vấn đề chính quyền” [14, 9]. Chính
trị phản ánh cuộc đấu tranh của các giai cấp xung quanh vấn đề giành, giữ, sử
dụng chính quyền và cuối cùng do địa vị kinh tế của những giai cấp đó quy định.
Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Những quan hệ chính trị, những vấn
đề chính trị có ảnh hưởng trở lại mạnh mẽ đối với kinh tế hoặc thúc đẩy, hoặc cản
trở sự phát triển kinh tế. Chính trị biểu hiện trên các tri thức được tích lũy trong
quá trình lịch sử và những quan hệ thực tế gắn với con người, với giai cấp, với
dân tộc và với thời đại. Với tư cách là hệ thống các quan hệ xã hội hiện thực,
chính trị có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ cá
nhân hay đảng phái nào. Với tư cách là một thiết chế xã hội, chính trị luôn tìm
cách dẫn dắt xã hội theo tư tưởng của giai cấp nắm quyền thống trị xã hội.
“Theo Hồ Chí Minh, đời sống xã hội có bốn lĩnh vực cơ bản là kinh tế,
chính trị, văn hóa và xã hội, phải coi các lĩnh vực đó đều quan trọng như nhau.
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của
dân tộc và nhân loại. Nó phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế- chính
trị- xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Căn cứ vào
những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta xác
định những quan điểm chỉ đạo cơ bản, từ đó xây dựng một hệ thống những chủ
trương, chính sách phù hợp. Nhờ đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng
17
lợi này đến thắng lợi khác. Cho dù hoàn cảnh nào, Đảng ta vẫn luôn kiên trì chủ
nghĩa Mác - Lênin, kiên trì phát triển đất nước theo con đường mà Bác và cả dân
tộc đã lựa chọn.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý
luận không thể tách rời, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong quá
trình cách mạng Việt Nam, nhất là trong quá trình đổi mới vừa qua. Đại hội lần
thứ VII của Đảng ta lần đầu tiên đã chính thức khẳng định sự song hành gắn kết
giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tạo thành nền tảng tư
tưởng vững chắc: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” [15, 127]. Có thể nói, chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch
sử cách mạng Việt Nam. Thực tế cách mạng Việt Nam cũng chứng minh rằng,
khi nào chúng ta vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo hệ thống lý luận này thì
gặt hái được nhiều thành quả, và ngược lại. Trong cách mạng dân tộc, dân chủ
nhờ vận dụng sáng tạo lý luận này mà chúng ta đã đánh bại các thế lực thực dân,
đế quốc và bè lũ tay sai; từ một nước thuộc địa bị xâm chiếm, chia cắt trở thành
một quốc gia độc lập, thống nhất đang trên đà phát triển. Trong thời kì cả nước
cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đã có lúc chúng ta vận dụng chưa
đúng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã có giai đoạn rơi vào
trị chính là xây dựng, phát triển, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm đường lối của Đảng, hình thành hệ giá trị cách mạng và
khoa học trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Điều này khẳng định vai trò và
tầm quan trọng to lớn của nó đối với nhận thức và hành động của từng cá nhân
nói riêng và sự phát triển của toàn xã hội nói chung, đồng thời cho thấy sự khó
khăn, phức tạp của quá trình sáng tạo, nhận thức và vận dụng lý luận chính trị.
1.1.3.2. Bản chất của lý luận chính trị
Lý luận chính trị xuất phát từ thực tiễn
Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở,
động lực và mục đích của nhận thức. Chính trong quá trình cải tạo thế giới mà
19
nhận thức, lý luận ở con người mới được hình thành và phát triển. Thực tế lịch
sử cho thấy, con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà
bằng thực tiễn. Trong quá trình này, con người sử dụng các công cụ, phương
tiện tác động vào các sự vật, hiện tượng, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc
tính và tính qui luật, nhờ đó mà con người có được những hiểu biết về thế giới
khách quan, từ đó con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng
hóa, khái quát hóa... để xây dựng thành lý luận. Do đó, có thể nói, thực tiễn cung
cấp những tài liệu cho nhận thức, cho lý luận, không có thực tiễn thì không có
nhận thức, không có lý luận. Những tri thức mà chúng ta có được cho đến hôm
nay hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn.
Quá trình cải tạo thế giới bằng hoạt động thực tiễn cũng chính là quá trình
hoàn thiện bản thân con người. Thông qua thực tiễn, con người phát triển năng
lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình. Ph.Ăngghen viết: “Từ trước đến nay,
khoa học tự nhiên cũng như triết học đã coi thường ảnh hưởng của hoạt động
con người đối với tư duy của họ. Hai môn ấy một mặt chỉ biết tự nhiên mặt khác
chỉ biết có tư tưởng. Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên... là cơ sở chủ
yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người phát đã
sung, hoàn thiện. Nếu hệ thống lý luận bất biến, xơ cứng, không được bổ sung,
hoàn thiện sẽ không thể lý giải được những vấn đề thực tiễn phát sinh, không
làm tròn sứ mệnh dẫn đường của mình.
Thực chất công tác lý luận là quá trình sáng tạo ra hệ tư tưởng và đường
lối chính trị của một giai cấp.
Một quốc gia không thể phát triển nếu thiếu triết lý và chiến lược phát
triển dựa trên một nền tảng lý luận khoa học, phù hợp với thực tiễn, thích ứng
với thời đại và hướng tới những thang bậc giá trị của xã hội văn minh. Đối với
một Đảng cầm quyền, lý luận là kim chỉ nam cho sự lãnh đạo, là cơ sở cho việc
xác định mục tiêu, con đường và phương pháp cách mạng.
Hệ thống lý luận cũng chính là ngọn cờ tập hợp lực lượng, đoàn kết các
dân tộc để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cách mạng. Thiếu hệ thống lý
21
luận đúng đắn sẽ không thể tập hợp được sức mạnh của quần chúng, tạo nên sự
đồng thuận, đoàn kết của dân tộc, của bạn bè quốc tế, hơn thế nữa, chính trong
nội bộ Đảng cũng không thể đoàn kết do bị phân rã về mục tiêu, phương pháp
và các điều kiện căn bản khác để thống nhất ý chí, thống nhất hành động.
Lý luận là cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Việc hoạch định chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chỉ bảo đảm đúng đắn, hiệu quả
khi được dựa trên cơ sở lý luận đúng đắn và vững chắc. Đến lượt nó, một hệ
thống lý luận khoa học sẽ luôn được bổ sung, làm giàu thông qua quá trình
thực tiễn hiện thực hóa các chủ trương, chính sách, qua đúc rút kinh nghiệm,
qua những nghiên cứu tìm tòi, không ngừng đổi mới và hoàn thiện. Ngoài ra
nó còn cung cấp những luận cứ khoa học, những căn cứ không thể bác bỏ cho
cuộc đấu tranh với sự chống phá của kẻ thù, bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ,
bảo vệ Đảng, bảo vệ những thành quả cách mạng và công cuộc xây dựng, phát
triển đất nước, đổi mới công tác lý luận, nghiên cứu, phát triển lý luận là đòi
và phát triển của sự vật. Với đặc tính phản ánh cái chung, cái bản chất có tính
quy luật của các sự vật, hiện tượng, nên quy luật có tính chính xác, chặt chẽ,
lôgíc và có độ tin cậy cao. Mặc dù các khái niệm, phạm trù, nguyên lý…biểu
đạt những khía cạnh, những yếu tố khác nhau nhưng chúng lại có quan hệ chặt
chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Lý luận MácLênin là một điển hình về tính thống nhất, chặt chẽ và lôgic. Do đó, nó là khoa
học về những quy luật chung, phổ biến đang vận động trong thế giới tự nhiên,
xã hội và tư duy con người.
Nhờ có tính trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận mà tư duy con
người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những cái mới, khoa học, đáp ứng
những nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn.
Hai là, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Đây là nguyên tắc cơ bản của lý luận khoa học nói chung và của chủ
nghĩa Mác - Lênin nói riêng. Lý luận, xét đến cùng là thuộc về lĩnh vực hoạt
23
động tinh thần của xã hội, còn thực tiễn thuộc về hoạt động vật chất. Theo lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin thì vật chất quyết định ý thức, hoạt động vật
chất đóng vai trò quyết định đối với hoạt động tinh thần. Tuy nhiên, lý luận
cũng đóng vai trò tác động trở lại đối với thực tiễn, đặc biệt trong cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Lý luận chính là kết quả nhận thức của con người, nó có vai trò
chỉ đạo, hướng dẫn thực tiễn, do đó nếu không có nhận thức đúng thì cũng
không thể có hành động đúng. Chính vì vậy, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến vai
trò kim chỉ nam của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong
thực tiễn cách mạng của đất nước.
Lý luận và thực tiễn luôn có mối quan hệ biện chứng, là điều kiện, là tiền
đề cho sự tồn tại và phát triển của nhau. Điều đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn
mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" [30, 496].
xây dựng các luận cứ khoa học cho việc đề ra và tổ chức thực hiện thắng lợi
những mục tiêu, đường lối chính trị của Đảng. Lý luận đó là sự tổng hợp những
tinh hoa trí tuệ của dân tộc và của thời đại, là sự khái quát những thành tựu
khoa học tiên tiến nhất của nhân loại, đồng thời, nó còn là sự đúc kết kinh
nghiệm từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ sự
tổng kết phong trào cách mạng của thế giới. Đây chính là một điển hình về sự
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, về sự thống nhất giữa tính đảng và
tính khoa học, giữa tính khoa học và tính cách mạng.
Trong lý luận chính trị không có sự tách rời giữa tính đảng và tính khoa
học, mà là sự thống nhất chặt chẽ, là điều kiện, là tiền đề thúc đẩy nhau cùng
phát triển. Trong đó tính đảng càng cao thì tính khoa học càng sâu sắc. Khẳng
định tính thống nhất đó, Ph.Ăngghen viết: “Khoa học càng được tiến hành một
cách dũng cảm và kiên quyết thì nó càng phù hợp với lợi ích và nguyện vọng
của giai cấp công nhân” [12, 451]. Vì vậy, tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta khẳng
định: “Phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa