ảnh hưởng văn hóa ấn độ trung hoa đến văn hóa việt nam thời cổ trung đại trên lĩnh vực chính trị xã hội - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Mỗi quốc gia dân tộc đều có những đặc trưng văn hóa riêng. Nó là những thành tựu
phản sáng quá trình sáng tạo của dân tộc đó và chính là đóng góp của dân tộc đó vào nền
văn hóa chung của nhân loại. Nó đã in đậm vào lịch sử và nhờ có những nét văn hóa
riêng biệt, các dân tộc, các quốc gia mới có thể đứng trong rừng cây văn hóa các dân tộc
trên thế giới.
Nền văn hóa của mỗi dân tộc đều có một vị trí và ảnh hưởng nhất định trong sự phát
triển chung của nền văn hóa thể giới. Các quốc gia cổ đại phương Đông (Ai Cập, Lưỡng
Hà, Ấn Độ và Trung Quốc) là những cái nôi của văn minh nhân loại. Tại nơi đây, nền
văn minh của các dân tộc tỏa sáng, lan truyền và hội nhập với nhau, tạo nên đỉnh cao của
văn minh thế giới cổ đại. Cũng từ đó, những nền văn hóa cổ đại phương Đông đã có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát sinh, phát triển của các nền văn minh trên thế giới nhất là các
nền văn hóa Hy Lạp, La Mã, Nhật Bản, Triều Tiên vá các quốc gia Đông Nam Á thời kì
cổ đại. Việt Nam cũng là một quốc gia nằm trong số đó, ảnh hưởng rất lớn bởi văn hóa
Ấn Độ và Trung Hoa.
Việt Nam, với điều kiện địa lí, tư nhiên vô cùng thuận lợi đã có điều kiện thuận lợi
để chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa không chỉ về mặt nghệ thuật, kinh tế,
văn hóa, chữ viết mà còn cả trên chính trị - xã hội. Để hiểu rõ hơn ảnh hưởng văn hóa
Ấn Độ, Trung Hoa đến Việt Nam mà trọng tâm là trên lĩnh vực chính trị, xã hội, chúng
ta cùng nghiên cứu với đề tài: “Ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa đến văn hóa
Việt Nam thời kì cổ trung đại trên lĩnh vực chính trị, xã hội”.


NỘI DUNG
1.MỘT SỐ THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM
 Văn hóa

Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm trình độ sản xuất,
khoa học, văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, tập quán,…mà loài người, dân tộc tạo ra nhằm
phục vụ nhu cầu của mình trong quá trình phát triển lịch sử. [Nguồn: Phan Ngọc Liên
(Chủ biên), Thuật ngữ lịch sử dùng trong nhà trường, NXB Giáo Dục Việt Nam].

vào tay nhà vua, không bị pháp luật ràng buộc. Công cụ chính là bộ máy quan liêu, tòa
án, nhà tù, quân đội và cảnh sát. [Nguồn: Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Thuật ngữ lịch sử
dùng trong nhà trường, NXB Giáo Dục Việt Nam].
 Ấn Độ hóa

“Ảnh hưởng của những tư tưởng tôn giáo của đạo Hindu và đạo Phật, quan niệm của
Ấn Độ về vương quyền, việc dùng chữ Phạn như một ngôn ngữ chính thức và trong lễ
thức, cũng như những truyền thống nghệ thuật Ấn Độ được đem tới các dân tộc vùng
Đông

Nam

Á”.

[nguồn:

http://baotanglichsu.vn/portal/vi/Tin-tuc/Sach-tham-

khao/2010/07/3A9219D0/ ]
2.KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ
THỜI CỔ TRUNG ĐẠI
2.1.Ấn Độ
2.1.1.Ấn Độ thời cổ đại
 Tình hình chính trị

Vào khoảng 1500 TCN, một số bộ lạc thuộc chủng tộc Arian (người da trắng nói
ngôn ngữ Ấn – Âu) từ vùng thảo nguyên Trung Á đã di cư vào Ấn Độ. Khi vào Ấn Độ,


người Arian đang sống ở giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy, sinh sống bằng


địa vị kinh tế như trước. Các quan chức và các nhà buôn giàu, có thợ thủ công làm các
nghề nghiệp thông thường và nông dân. Cuối cùng là tầng lớp nô lệ (dasa) chủ yếu làm
các công việc hầu hạ, dasa ở Ấn Độ cũng chỉ phát triển một cách hạn chế và mang tính
chất gia trưởng như nhiều nước phương Đông khác. Người nông dân công xã sống trong
các công xã nông thôn vẫn là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội.
 Tình hình xã hội
Chế độ đẳng cấp Varna là một chế độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc,
dòng họ, về nghề nghiệp và tôn giáo. Chế độ đẳng cấp Varna hình thành trog quá trình
người Arian chinh phục và thống trị người Dravida. Theo chế độ đẳng cấp Varna thì
-

chia xã hội ra bốn đẳng cấp:
Đẳng cấp thứ nhất: Bàlamôn gồm những giáo sĩ phụ trách việc nghiên cứu, giảng kinh

-

Veda và lo việc tế tự.
Đẳng cấp thứ hai là quý tộc, vũ sĩ (Kshatrya) gồm quý tộc, vương công, vũ sĩ có nhiệm
vụ đọc kinh Veda, cai trị dân chúng hay luyện tập quân sự để bảo vệ lãnh thổ và tiến

-

hành các cuộc chiến tranh xâm lược.
Đẳng cấp thứ ba là đẳng cấp bình dân (Vaisya) gồm nông dân, thợ thủ công, thương
nhân có nhiệm vụ sản xuất, cung cấp mọi thứ cho hai đẳng cấp trên, ngoài ra còn nộp

-

thuế, lao dịch,…

Thời kì cầm quyền của ông được gọi là thời kì “vàng kim” trong lịch sử trung đại Ấn
Độ. Thế nhưng, thời kì thịnh vượng của vương triều Gupta không được lâu dài. Từ giữa
thế kỉ V, Ấn Độ đứng trước sự đe dọa của người Huns Hephthalites (hay còn gọi là
Hung trắng). Đến cuối thế kỉ V đầu thế kỉ VI, miền Bắc Ấn Độ thuộc sự thống trị của
người Hun Hephthalites.
Vào đầu thế kỉ VII, ở miền Bắc Ấn Độ, một nhà vua của vương quốc Vardhana
(kinh đô là Kanauj) thuộc dòng dõi Gupta đã dần dần mở rộng lãnh thổ và khôi phục lại
sự thống nhất ở miền Bắc Ấn Độ, lập nên vương triều Harsha. Vương quốc do Harsha
cai trị trên thực tế chỉ là một liên bang phong kiến tạm thời dưới một tôn chủ có năng lực
và uy quyền.
Sự thống nhất miền Bắc Ấn Độ lại không giữ được bởi từ thế kỉ VII đến thế kỉ X,
miền Bắc Ấn Độ bị phân chia thành các quốc gia độc lập lớn, nhỏ khác nhau và đó là cơ
hội thuận lợi cho sự xâm chiếm của người Afghans và người Turks theo Hồi giáo vào
cuối thể kỉ X.
Trong khi vương triều Gupta và Harsha cai trị ở miền Bắc Ấn Độ, thì ở cao nguyên
Dekkan có vương quốc Chalukya và ở miền Nam Ấn Độ, người Tamil (hay Tamul,


thuộc chủng tộc Dravida) bắt đầu xây dựng quốc gia của họ, trong đó nổi lên hai vương
quốc: Pallava (Tây Nam Dekkan) và Chola.
Nhìn chung, từ thế kỉ VII trở về sau thì Ấn Độ thường xuyên bị chia cắt và nằm
dưới các triều đại phong kiến ngoại tộc thống trị.
 Tình hình xã hội
Quan hệ kiểu phong kiến đã được xác lập ở thời Gupta. Các vua Gupta tự xưng là
“Đại vương” (Maharaja) nắm lấy quyền sở hữu ruộng đất tối cao trong toàn vương quốc.
Vua phân cấp ruộng đất và các làng xã sống trên ruộng đất đó cho các tiểu vương hay
vương công và cho các đền thờ Balamon hay chùa Phật giáo.
Dưới thời Gupta, ngoài bốn đẳng cấp đã có từ thời cổ đại vẫn tiếp tục được duy trì,
có một tầng lớp mới xuất hiện – thân binh gọi là radput, là những người suốt đời phục vụ
cho quân đội và được hưởng một khoản ruộng đất quy định và một số nông dân bị gắn

Nghệ là thủ lĩnh bộ lạc Đông Di cướp ngôi vua. Về sau, Hậu Nghệ chỉ vui thú hưởng
lạc, mải mê săn bắn, không quan tâm đến việc triều sính, nên bị một tướng tá thân cận là
Hàn Trạc giết và cướp ngôi. Hàn Trạc chỉ lo truy lùng dòng dõi nhà Hạ, nên bị nhân dân
phản đối. Nhân đó, một người dòng dõi nhà Hạ là Hạ Thiếu Khang đã liên hiệp với lực
lượng của nhiều bộ lạc khác, giành được ngôi vua, khôi phục lại nhà Hạ.
Nhà Hạ, trong thời thịnh trị từng phát triển về phía đông, từ thời Đế Dân Giáp trở
đi, nhà Hạ bắt đầu suy yếu, nhân tình hình chính trị bất ổn, một lực lượng mới trỗi dậy là
Thương đã tấn công và tiêu diệt nhà Hạ.
 Nhà Thương (khoảng thế kỉ XVI – XI TCN)

Khi bộ lạc Hạ chuẩn bị chuyển sang xã hội có giai cấp thì bộ lạc Thương mới bắt
đầu bước vào giai đoạn tan rã của công xã nguyên thủy.
Cuối thời Hạ, bộ lạc Thương dần dần lớn mạnh và không ngừng phát triển thế lực
lên phía trung lưu Hoàng Hà, trở thành đối thủ nguy hiểm của nhà Hạ. Lợi dụng tình
hình chính trị rối ren của nhà Hạ, thủ lĩnh bộ lạc Thương đã lật đổ nhà Hạ, lập nên nhà
Thương. Trong mười đời vua đầu của nhà Thương, tình hình chính trị chưa ổn định (vua
thì ham vui, hưởng lạc, quý tộc thì xa xỉ tham ô) và vì nạn lũ ở Hoàng Hà thường xuyên
xảy ra, triều đình phải dời đô đến năm lần. Đến thế kỉ XIV TCN, vua Thương là Bàn
Canh cho dời đô đến đất Ân (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). Từ đó cho đến khi nhà
Thương diệt vong (chỉ vua cuối cùng là Trụ đóng ở Triều Ca) đều lấy Ân làm kinh đô
nên nhà Thương còn được gọi là nhà Ân (hay Ân Thương).


Về mặt xã hội, sự phân hóa giai cấp, phân hóa giàu nghèo trong xã hội Ân Thương
khá rõ rệt. Nô lệ ở thời nhà Thương khá đông.
 Nhà Tây Chu (từ thế kỉ XI – VIII TCN)

Sau khi diệt xong nhà Ân, Chu Vũ Vương lập ra nhà Chu, đóng đô ở Hạo Kinh,
lịch sử gọi là Tây Chu. Tuy nhiên, thế lực nhà Thương lúc này còn rất mạnh, chưa thể
trực tiếp thống trị hoặc nô dịch trực tiếp họ được, nên Chu Vũ Vương đã phong cho con

và đặt ra chế độ “bá chủ chư hầu”.
Đến thời nhà Tần, với sự lớn mạnh của mình, chỉ trong vòng 10 năm, nhà Tần đã
lần lượt đánh bại các nước: Hàn (230 TCN), Triệu (228 TCN), Ngụy (225TCN), Sở (223
TCN), Yên (222 TCN) và Tề (221 TCN), thống nhất lãnh thổ Trung Quốc, chấm dứt
tình trạng hỗn chiến lâu dài thời Xuân Thu - Chiến Quốc, lập ra nhà Tần, mở đầu cho
chế độ phong kiến ở nước này. Việc nhà Tần thống nhất Trung Quốc là một việc phù
hợp với nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội lúc bấy
giờ.

2.2.2.Trung Quốc thời trung đại
Trung Quốc thời kì trung đại là thời gian chế độ phong kiến ra đời và phát triển.
Chế độ phong kiến tồn tại lâu dài, từ năm 211 TCN đến 1840 (hơn 20 thế kỉ). Con
đường phát triển của chế độ phong kiến Trung Quốc phức tạp, triều đại phong kiến Hán
tộc xen lẫn triều đại phong kiến ngoại tộc, thời kì thống nhất xen kẽ thời kì phân liệt, cát
cứ, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra.
Trong các triều đại phong kiến Trung Quốc, có những triều đại phát triển mạnh như
Tây Hán (202TCN – 24), Đông Hán (25 – 220), Tùy (581 – 618), Đường (618 - 907),
Minh (1368 – 1644). Các triều đại Tần, Hán, Đường, Minh có vị trí quan trọng trên con
đường phát triển của chế độ phong kiến Trung Quốc.
 Tình hình chính trị
Ở Trung Quốc, nhà nước được tổ chức theo thể chế quân chủ chuyên chế.
Tần Thủy Hoàng là vua đầu tiên khởi đầu việc khởi đầu việc xây dựng bộ máy
chính quyền phong kiến tập trung. Vua Tần tự xưng là Hoàng đế, tự coi mình là đấng tối


cao, vua của các vua. Hoàng đế có quyền hành tuyệt đối, quyết định mọi vấn đề về kinh
tế, chính trị quân sự, văn hóa. Dưới Hoàng đế có bộ máy quan lại được tổ chức chặt chẽ
từ trung ương xuống các địa phương.
Bộ máy chính quyền trung ương gọi là triều đình gồm tam công và cửu khanh.
Tam công có Thừa tướng, Thái úy và Ngự sử đại phu. Dưới tam công là cửu khanh gồm

có đặt Tổng đốc và Tuần phủ nắm quân chính địa phương, chịu sự điều khiển của trung
ương.
 Tình hình xã hội

Do đặc điểm của chế độ ruộng đất và nền kinh tế, cơ cấu giai cấp của Trung Quốc
thời phong kiến tương đối phức tạp, trong đó bao gồm các giai cấp và tầng lớp sau:
-

Giai cấp địa chủ gồm địa chủ quan lại và địa chủ bình dân. Ngoài ra còn có địa chủ nhà

-

chùa. Đây là những giai cấp có vai trò quan trọng về kinh tế và chính trị.
Giai cấp nông dân phân loại thành 2 loại đó là nông dân tự canh và nông dân lĩnh canh.
Tầng lớp công thương: thợ thủ công, thương nhân.
Tầng lớp nô lệ hay còn gọi là nô tì đến thời trung đại vẫn còn khá đông. Họ chủ yếu là
những người phạm tội, tù binh hay những người quá nghèo khó phải bán bản thân hoặc
vợ con.
Có thể thấy rằng, mọi đặc quyền, đặc lợi đều thuộc về giai cấp địa chủ. Họ là
những người trong triều đình, là vua, quan lại, quý tộc. Còn các giai cấp, tầng lớp khác
họ chiếm số đông trong xã hội nhưng họ không có quyền lực kinh tế, tiềm năng về chính
trị. Bên cạnh đó, các giai cấp, tầng lớp này họ phải đóng nhiều thứ thế, bị bóc lột nặng
nề, đời sống vô cùng khổ cực. Do đó, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra liên tục
để chống lại các chính sách của nhà nước, sự áp bức, bóc lột nặng nề.
3. CƠ SỞ, ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆT NAM CHỊU ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA ẤN
ĐỘ, TRUNG HOA TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI
3.1.Văn hóa bản địa


Lớp văn hóa bản địa được tạo nên chủ yếu trong hai giai đoạn: giai đoạn văn hóa

(Nguồn: https://www.google.com/search?q=tài+liệu+quốc+gia+phù+nam&biw=)

Không gian văn hóa Đại Việt, Chăm pa, Phù Nam
(Nguồn: https://www.google.com/search?q=tài+liệu+quốc+gia+phù+nam&biw=)
 Quốc gia Văn Lang – Âu Lạc


Sự phát triển của công cụ lao động bằng đồng thời kì văn hóa Đông Sơn đã thúc
đẩy nền nông nghiệp lúa nước của người Việt cổ phát triển. Nhờ thế, nhu cầu mở rộng
đất đai canh tác và định cư rất được các bộ lạc quan tâm. Bước chân của họ đã tiến dần
về phía hạ lưu các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Cà Lồ. Văn hóa của
người Việt cổ bắt đầu lan tỏa xuống đồng bằng từ đây.
Quốc gia cổ đại Văn Lang ra đời dựa trên nhiều nguyên nhân khác nhau như sự
chuyển biến xã hội (công xã thị tộc chuyển thành công xã nông thôn), yêu cầu cấp bách
phải tổ chức đắp đê quan trọng nhất chính là chiến tranh. Nhiều bộ lạc trong nhóm Bách
Việt mạnh lên rõ rệt từ cuộc cách mạng về công cụ lao động và vũ khí.
Hùng Vương và bộ lạc của mình – Lạc Việt – đã đóng vai trò hạt nhân của quốc
gia sơ khai. Quốc gia Văn Lang tồn tại từ khoảng thế kỉ thứ VII, VI đến thế kỉ thứ III
TCN. Về địa giới, phía bắc có thể gồm một phần hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây
của Trung Quốc hiện nay; phía đông giáp biển Đông; phía nam giáp nước Lâm Ấp (hay
Chiêm Thành); phía tây giáp Lục Chiếu (gồm sáu nước Chiếu, ở phía Tây Bắc nước ta).
Buổi đầu khai sinh, quốc gia Văn Lang không tránh khỏi sự phân chia quyền lực
sâu sắc, vai trò của thủ lĩnh các bộ lạc vẫn được coi trọng. Sự hợp nhất chỉ mang tính
thuần thục vì lợi ích chung. Cho nên, 15 bộ lạc được tổ chức thành 15 bộ, đứng đầu là
Lạc tướng (trước là tù trưởng), với hình thức thế tập quyền lực theo huyết thống. Dưới
bộ có các công xã nông thôn tự chủ (tên gọi là Kẻ, Chiềng, Chạ), đứng đầu công xã là
Bồ chính – có tuổi cáo, uy tín lớn. Hùng Vương thống lĩnh các bộ, tổ chức điều hành các
hoạt động của quốc gia như: chiến tranh, ngoại giao, thủy lợi. Giúp việc cho vua có các
Lạc hầu, Lạc tướng.
 Vương quốc Chăm pa

có những cứ liệu rõ ràng. Những ngôi mộ và các đồ tùy táng chôn theo cũng không cho
phép ta đoán được vì người Phù Nam chủ yếu sử dụng điểu táng và hỏa táng.
Trong xã hội có các tầng lớp khác nhau, như quý tộc, bình dân (nhân dân lao
động), tầng lớp nô tỳ (từ nguồn tù binh).
 Chính nền văn hóa bản địa là cơ sở, là cội nguồn, nòng cốt để Việt Nam tiếp nhận và
tiếp biến văn hóa Trung Hoa hay Ấn Độ cũng như văn hóa của các nước khác trong khu
vực và trên thế giới. Văn hóa Việt Nam có tiếp thu, tiếp nhận nhưng vẫn giữ được những
nét truyền thống, giữ được cái gì gọi là bản sắc văn hóa dân tộc.


Trên cơ sở một nền văn hóa bản địa vững chắc kết tinh bản lĩnh, cá tính, lối sống và
truyền thống của người Việt cổ với ý thức hệ cốt lõi là ý thức độc lập, tự chủ và tinh
thần yêu quý, gắn bó với quê hương, đất nước, tổ tông mà các thời kì Văn Lang – Âu
Lạc xây dựng nên, bởi vậy, dù cho các triều đại phương Bắc ra sức đồng hóa dân tộc hóa
ta, nhằm thủ tiêu nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, nhưng kết cục, trước cuộc đấu tranh
mãnh liệt của nhân dân ta, nền văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc vẫn giữ được vị
trí chủ thể và tác dụng Việt hóa những yếu tố văn hóa ngoại nhập.
3.2.Cơ sở để văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa ảnh hưởng vào Việt Nam
3.2.1.Điều kiện để văn hóa Ấn Độ truyền bá vào Việt Nam
Tuy không có vị trí thuận lợi về điều kiện địa lý là nằm tiếp giáp nhau như Trung
Quốc với Việt Nam nhưng Ấn Độ vẫn có những điều kiện để truyền bá văn hóa vào
nước ta. Khi mà ngành hàng hải phát triển thì sự cách trở về mặt biển không còn là vấn
đề lo ngại mà đã trở thành điều kiện thuận lợi để văn hóa Ấn Độ vào nước ta. Theo tư
liệu ngành Khảo cổ học đã chứng tỏ được mối quan hệ này có từ rất sớm đặc biệt là qua
các hiện vật được phát hiện ở Óc Eo và các địa điểm khác ở đồng bằng sông Cửu Long.
Mặt khác, do Ấn Độ có tính ôn hòa nên nó phù hợp với tính cách của người Việt,
nó trở thành điều kiện thuận lợi thứ hai khi văn hóa Ấn Độ được du nhập vào Việt Nam,
làm cho người Việt Nam dễ dàng tiếp nhận hơn.
3.2.2. Điều kiện để văn hóa Trung Hoa truyền bá vào Việt Nam
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước liền kề nhau về mặt địa lí, gần gủi tương

xứ - thiết chế Mandala.
- Người Ấn Độ biết đến Chăm pa, Phù Nam bởi những nguồn nguyên liệu như:
trầm hương, vàng,… Và khi mà những tàu buôn cập bến ở đây để mua hàng hóa thì họ
phải ở lại đây một năm để chờ gió Đông Nam mới trở về. Do đó, trong một năm chờ đợi
đó, họ sinh sống tại đây và họ khi đến đây cũng mang theo những phong tục, tập quán,
văn hóa và cả tôn giáo. Đó là lí do xã hội Chăm pa chịu ảnh hưởng rất lớn bởi văn hóa
Ấn Độ.
- Mặt khác, có một thời gian các ông vua cai trị ở đây là người Ấn, do đó thể chế
chính trị, bộ máy chính quyền ảnh hưởng rất lớn bởi văn hóa Chăm pa.
 Trung Quốc
Khác với Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa được truyền vào Việt Nam bằng con đường
chiến tranh. Điều đó không thể phủ nhận bởi nước ta trải qua 1000 năm Bắc thuộc, đó


cũng là điều kiện thuận lợi cho văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng một cách đậm nét và rộng
rãi hơn.
Tuy nhiên chúng ta cũng thấy được, trên lĩnh vực chính trị, xã hội thì người Việt
Nam tiếp nhận văn hóa Trung Hoa bằng phương thức tự nguyện là chính. Cũng dễ hiểu
được bởi trong 1000 năm Bắc thuộc nhưng dù các triều đại phong kiến phương bắc có
sử dụng những chính sách gì thì các chính sách đó chỉ ảnh hưởng ở các tầng lớp trên.
Sau 1000 năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Việt Nam mới học hỏi, tiếp thu và
chọn lọc những yếu tố văn hóa phù hợp với nước ta.
4.ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA ẤN ĐỘ, TRUNG HOA THỜI CỔ TRUNG ĐẠI
ĐẾN VĂN HÓA VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI
4.1. Ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ đến văn hóa Việt Nam trên lĩnh vực chính trị,
xã hội
4.1.1.Chính trị
Khi đánh giá ảnh hưởng của Ấn Độ đối với khu vực Đông Nam Á, G.Xodes đã
viết: “ảnh hưởng của một nền văn minh Ấn chủ yếu là sự bành trướng của một nền văn
hóa có tổ chức, dựa trên quan điểm Ấn về vương quyền…”. Người Ấn Độ không hề tiến

rất phong phú. Một số học giả xem việc biến động của các tài liệu lịch sử trên là phản
ánh việc di dời của thủ đô Chăm Pa và quan niệm Chăm Pa nếu không phải là một thể
chế chính trị đơn nhất thì cũng là một liên bang các tiểu quốc và việc tài liệu phong phú
chính minh chứng cho điều này là thủ đô của Chăm Pa. Các học giả nhận thấy, thế kỷ
thứ X tài liệu về Indrapura rất phong phú, có lẽ xuất phát từ lý do đây là thủ đô của
Chăm Pa. Các học giả khác không nhất trí như vậy và cho rằng Chăm Pa chưa bao giờ là
một quốc gia thống nhất và không cho rằng việc giàu cứ liệu ở một giai đoạn lịch sử là
cơ sở để cho rằng đó là thủ đô của quốc gia thống nhất. Điều đó dẫn một số nhà nghiên
cứu nghĩ đến một thiết chế lỏng lẻo, không phải là vương quốc mà là thiết chế kiểu
Mandala theo thuyết của W.Wolters, và theo A.Reid chẳng hạn thì Chăm pa là một điển
hình của thiết chế Mandala này.


Tóm lại, thể chế nhà nước Chăm pa là quân chủ chuyên chế, xây dựng nhà nước
theo mô hình Mandala vua có toàn quyền đối với đất nước và cư dân, thường dùng
vương hiệu Ấn: Varman. Giúp vua trị nước có hai tôn quan (Đại thần): Senapati (Tây na
bà đế) phụ trách dân sự và Tapatica (Tát bà địa ca) phụ trách quân sự.
 Bộ máy nhà nước của Chăm pa:

Các vua Chăm pa thường được gọi là đại vương (maharaja) hay đại vương tối cao
hay vua tối cao. Vua đứng đầu nhà nước và giải quyết mọi việc từ sản xuất theo dõi các
hình phạt. Uy quyền của vua rất lớn. Dưới vua là các kế vương hay hoàng thân. Qua các
bia kí chúng ta biết thêm về một số quan chức trong triều đình Chăm pa: tổng tư lệnh,
thượng thư, và một số nhân vật giữ chức vụ khác nhau, một số nhân vật có tên là Po
khun Piilih Rajadvara được vua Bhadravarman phong hàm Akaladhipati và là người giữ
hương hỏa cho vua Indravarman II; một người khác tên là Praleyesvara Dharmaraja có
chức vị là tiểu vương. Cũng các bia kí, đôi chỗ, nói tới một vài tổ chức hành chính của
Chăm pa, như đô thị, quận,…
Từ những tư liệu dẫn trên đây, chúng ta thấy rõ một điều là Chăm pa đã mô phỏng
một cách khá trung thành những quy tắc tổ chức hành chính của Ấn Độ như chia đất

“luật thiêng”. Cũng theo quan niệm của Ấn Độ , vua không phải là người tạo ra luật lệ,
mà luật lệ là “thiêng liêng” đối với mọi người. Thậm chí, nếu vua phạm luật một cách
trắng trợn sẽ bị thần dân sụp đổ, hay nói như sử thi Mahabharata, “vị vua như thế không
còn là vua nữa, mà ông ta phải bị giết chết như giết một con chó điên”. Trong những
trường hợp như vậy thì đẳng cấp Balamon và triều thần sẽ là lực lượng lật đổ vua.
Ngay những bia kí đầu tiên của Chăm pa mà chúng ta được biết (trước thế kỉ VII),
vua Chăm pa đã được đồng nhất với vị thần quốc gia: Vua Bliadravarman I được đồng
hóa với Siva dưới tên gọi Bhadresvara và được thờ ở Mĩ Sơn. Đầu thế kỉ VIII,
Sambhuvarman khôi phục lại ngôi đền thờ Bhadresvara đã bị cháy và đổi tên là
Sambhubhadresvara (tên vua nhập vào cùng thần Siva). Bia kí còn nói,
Sambhubhadresvara có thể “đem lại hạnh phúc cho đất nước Chăm pa”. Vua Chăm pa
thời Hoàn Vương tên là Prathivindravarman được bia kí ca ngợi “giống như thần Indra


của các thần trên trái đất”. Các vua sau đó của vương triều Hoàn Vương cũng ví mình
với các thần, ví dụ: Indravarman I tụ so sánh mình với Vikrama (một hóa thân của
Visnu) “nâng quả đất lên bằng hai cánh tay” hay với Narayama (một hóa thân khác của
Visnu) “nằm trên con rắn và nâng thế giới lên bốn cánh tay”. Các vua triều đại Đồng
Dương (hay Indrapura) cố chứng minh dòng dõi của mình thuộc thời huyền thoại xa xưa
của các thần linh. Vua Harivarman IV, sau khi khôi phục lại đất nước vào cuối thế kỉ XI,
đã cho dựng bia ca ngợi và so sánh mình với Krisna, Kama, Indra, Brahma và Siva. Vào
giữa thế kỉ XII, ở Chăm pa nổi bật lên một vị vua tài ba – Jaya Harivarman I – mà bia kí
nói ông là “hình thức có thể thấy được của thần Visnu”. Rồi các vị vua nổi tiếng cuối
cùng của Chăm pa như Pô Klaung Garai, Pô Rômê… đều được thờ phụng trong các tháp
sau khi chết dưới hình thức vị thần Siva.
Cũng như ở Ấn Độ, đã có trường hợp phế vua xảy ở Chăm pa. Vua Jaya
Indravarman bị phế vì còn trẻ và không biết điều tốt xấu để cai trị quốc gia. Sau khi phế
vua, triều đình đã lập lên làm vua một người “có tất cả các dấu hiệu của một Mahatatja
(đại vương)”.
Theo quan niệm về chính trị của Ấn Độ, đất nước không thể thiếu vua, hay nói một

phía tây là châu Thượng Nguyên, có hơn 100 thôn lạc, mỗi thôn lạc có từ 300-500, có
khi tới 700 hộ. Cũng đặt trấn, huyện. Vua thường dùng anh em làm phó vương hay thứ
vương. Có tám quan lớn chia nhau trông coi mọi việc ở đông, tây, nam, bắc. Quân đội
cũng khá đông, có cấm quân vệ (bảo vệ vua), kỵ binh, tượng binh và thủy binh. Một số
tài liệu khác của Trung Quốc ghi chép khá tỉ mỉ về bộ máy quan lại của Chăm pa như
Tùy thư, Tấn Đường: Tôn quan, gồm hai người là Tây-na-bà-đề và Tát-bà-địa-ca. 2)
Thuộc quan, có ba bậc: Luân đa tinh, Ca-luân-trí-đế và Ất-tha-già-lan; 3) Ngoại quan,
gồm hai cấp bậc là Phất la và Khả luân; ngoài ra còn có chức ba-man-địa, đứng đầu tất
cả các quan.
 Luật pháp


Chăm pa chưa có luật pháp thành văn. Ai bị tội nhẹ thì đánh bằng gậy từ 50 – 100
gậy. Tội nặng thì treo lên cây, lấy gậy nhọn đâm vào cổ hay vào đầu. Tội nặng hơn nữa
thì cho voi giày hay quật chết, cũng có khi bắt tự tử mà chết. Sách Tân Đường
thư phần Liệt truyện có viết: “Không đặt hình pháp, người có tội thì cho voi giày hay
quật chết hoặc là đưa ra mũi Bất Lao cho tự tử mà chết”
Sách Thuỷ phiên chí cũng viết về phần nước Chiêm Thành cũng nói tới một số quy
định về luật pháp khá chi tiết: “Nam nữ phạm tội thông gian đều bị giết, ăn trộm cũng
có những hình phạt như chặt ngón tay, ngón chân. Lúc chiến trận, cử 5 người họp thành
1 giáp, nếu bỏ chạy thì người cùng giáp đều chịu tội chết”. Có thể thấy đây là những
quy định bất thành văn, có tính chất như luật tục hay tập quán pháp. Trên thực tế từ các
nguồn sử liệu chưa có căn cứ để khẳng định nhà nước Chămpa luật pháp thành văn và
thể chế.
 Phù Nam

Cũng như các vùng đất khác của Việt Nam, đất Nam bộ từ sớm đã có người sinh
sống. Sự tồn tại của hàng loạt nền văn hóa Đông và Tây Nam Bộ được phát hiện trong
thời gian qua đã chứng tỏ điều đó. Phần lớn cư dân ở đây có nguồn gốc Anhdonedi quen
thuộc của vùng Nam Á. Trong số những nền văn hóa này nổi lên nền văn hóa Óc Eo ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status