Quyền nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Nhân quyền hay quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và
không bị tước bỏ bởi ai hay bất cứ chính thể nào. Nhân quyền là một giá trị văn
hoá quan trọng của cuộc sống con người Việt Nam. Nhân quyền được thực thi cụ
thể trong tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, được
luật hoá trong Hiến pháp của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ
thể là điều 50 của Hiến pháp năm 1992 xác định: "Ở nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã
hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến
pháp và luật". Điều đó thể hiện Nhà nước ta luôn coi trọng nhân quyền hay quyền
con người trong đó có quyền nhân thân là một phần vô cùng quan trọng. Cùng với
sự đi lên, tiến bộ của đất nước, nền tự do dân chủ ngày càng được mở rộng bao
nhiêu thì con người ngày càng được tôn trọng hơn bấy nhiêu do đó quyền nhân
thân cũng ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn.
Do tầm quan trọng đó, trong khuôn khổ bài viết, em xin đi sâu phân tích về đề
tài: “Quyền nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân
thân”.

NỘI DUNG
1. Khái quát về quyền nhân thân
1.1. Định nghĩa quyền nhân thân
Quyền nhân thân (personality rights) là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền
gắn liền với bản thân mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá
nhân. Từ xưa đến nay, nói đến quyền nhân thân người ta thường liên tưởng đến
ngay những quyền có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân. Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng
bao nhiêu thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu. Do đó, các quyền nhân
thân cũng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn.
BLDS năm 2005 quy định về quyền nhân thân tại điều 24: “Quyền nhân thân
được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không
thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

giới tính, tôn giáo, giai cấp… Chúng ta thấy quyền nhân thân có một sự khác biệt
cơ bản với quyền tài sản vì quyền bình đẳng về mặt dân sự không quy định tất cả
mọi người đều có khả năng hưởng những quyền như nhau. Nguyên tắc bình đẳng
về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều có những quyền như nhau, đó không
phải là một khả năng trừu tượng mà là một thực tế. Lợi ích của quyền nhân thân là

2


được quy định như một thực tế chứ không phải là sự quy định mang tính hình
thức.
- Thứ ba: Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản.
Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài
sản hay không gắn với tài sản mà thôi. Vì không phải là tài sản nên quyền nhân
thân không bao giờ trị giá được thành tiền. Về mặt pháp lí, chúng ta cần phân
định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân. Ví dụ: Một người sáng tạo ra
một sáng chế hay giải pháp hữu ích. Sáng chế hay giải pháp hữu ích do con người
sáng tạo nên mang giá trị kinh tế, chứ bản thân “Quyền tự do sáng tạo” (Điều 47
BLDS) không phải là tài sản, không mang giá trị kinh tế.
- Thứ tư: Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho
chủ thể khác.
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi
cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác, trừ trường hợp do pháp luật
qui định. Điều 24 BLDS qui định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật
này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người
khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Các quyền dân sự nói chung,
quyền nhân thân nói riêng là do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều
kiện kinh tế – xã hội nhất định. Do vậy, về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể
chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền nhân thân
không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân. Ví dụ, người

thành nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài sản và nhóm các quyền nhân
thân gắn với tài sản. Phân loại này được thể hiện tại khoản 1 Điều 15 BLDS 2005.
Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được quy định từ Điều 26 đến Điều 51
BLDS 2005. Các quyền nhân thân không gắn với tài sản này được công nhận đối
với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ
hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó. Các quyền nhân thân
này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn
với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác.
Ngược lại, các quyền nhân thân gắn với tài sản chỉ được xác lập cùng với sự hình
thành của một tài sản vô hình (như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng
chế, kiểu dáng, , giống cây trồng, …). Đây là quyền nhân thân của chủ thể đối với
tài sản vô hình mà người đó sáng tạo ra. Các quyền nhân thân này được quy định
tại khoản 2 Điều 738 và mục a khoản 1 Điều 751 BLDS 2005. Trong số các
quyền này có một quyền có thể chuyển giao được sang cho chủ thể khác – đó là
quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (theo quy định tại
Khoản 1 Điều 742 BLDS 2005).
4


Việc phân loại này giúp chúng ta định hình rõ căn cứ và thời điểm xác lập các
quyền nhân thân. Mỗi một chủ thể đều được công nhận một cách vô điều kiện các
quyền nhân thân không gắn với tài sản. Tuy nhiên, để được thừa nhận các quyền
nhân thân gắn với tài sản thì chủ thể đó phải chứng minh đươc sự tồn tại của loại
tài sản vô hình do chính mình sáng tạo ra. Nếu không có tài sản đó thì không phát
sinh các quyền nhân thân của chủ thể có liên quan.
Thứ hai, dựa vào thời hạn bảo hộ mà các quyền nhân thân được phân loại
thành hai nhóm: Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn và nhóm các
quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn.
Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn bao gồm: quyền đối với
họ tên; quyền đối với hình ảnh; quyền được bảo vệ danh dự, uy tín; quyền bí mật

2) Nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào các chủ thể khác (không phải là
chủ thể quyền);
3) Nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào vật phẩm liên quan đến quyền.
Nhóm các quyền mà hành vi xâm phạm tác động vào chính chủ thể quyền bao
gồm: quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến
bộ phận cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể người; quyền xác định lại giới tính;
quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử;
quyền được bảo vệ nhân phẩm, các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn
nhân và gia đình; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, tự do cư
trú; quyền lao động, quyền tự do kinh doanh; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo.
Đối với các quyền thuộc nhóm thứ nhất thì chính chủ thể quyền là người bị
hành vi xâm phạm tác động tới. Hậu quả mà hành vi này mang lại là những tổn
thất trực tiếp gây ra đối với chủ thể quyền (tính mạng, sức khoẻ, thân thể, …)
hoặc những khó khăn ngăn cản chủ thể quyền thực hiện hành vi liên quan đến
quyền nhân thân của mình (đi lại, lao động, sáng tạo, kết hôn, ly hôn, …). Quá
trình khắc phục thiệt hại chủ yếu được thực hiện đối với chính chủ thể quyền như
chăm sóc, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ, xin lỗi, chấm dứt hành vi cản trở,…
Riêng đối với trường hợp xâm phạm tính mạng thì việc khôi phục tính mạng là
không thực hiện được, trách nhiệm bồi thường khi đó được thực hiện cho những
người thân thích của chủ thể quyền.
Đối với các quyền thuộc nhóm thứ hai thì hành vi xâm hại lại không tác động
vào chính chủ thể quyền, mà tác động vào các chủ thể khác làm ảnh hưởng đến sự
nhìn nhận, đánh giá của các chủ thể khác về cá nhân chủ thể mang quyền (tung tin
thất thiệt xúc phạm danh dự, giảm uy tín của chủ thể quyền, công bố trái phép tác
phẩm của tác giả trước công chúng, …). Những thiệt hại mà chủ thể quyền phải
gánh chịu có thể được xoá bỏ bằng việc cải chính, xin lỗi công khai trên các
6


phương tiên thông tin đại chúng để xoá đi sự nhìn nhận tiêu cực của các chủ thể

Ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ Cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thừa nhận quyền con người cơ
7


bản, qua đó thể hiện tư tưởng nhân quyền và dân quyền của Nhà nước ta. Tư
tưởng áy xuyên suốt lịch sử lập hiến và lập pháp.
Trong bản hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp năm 1946), việc đảm
bảo các quyền tự do dân chủ của công dân đã trở thành một trong ba nguyên tác
cơ bản. Với bản Hiến pháp này, lần đẩu tiên trong lịch sử Việt Nam, những người
dân nô lệ trước đây thực sự trở thành người chủ đất nước, được đảm bảo các
quyền tự do, dân chủ. Trong 26 quyền cơ bản của công dân mà Hiến pháp 1946
quy định, các quyền dân sự chiếm đa số (12 quyền). Những quyền nhân thân của
cá nhân lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp bao gồm: Quyền tự do ngôn
luận; quyền tự do xuất bản; quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do cư trú trong
nước; quyền tự do đi lại trong nước; quyền tự do ra nước ngoài; quyền bất khả
xâm phạm về thân thể; quyền bất khae xâm phạm nhà ở; quyền bất khả xâm phạm
về thư tín.
Hiến phám năm 1959 là bước phát triển mới trong việc ghi nhân quyền con
người, trong đó có những quyền nhân thân của cá nhân và những bảo đảm pháp lý
cho chúng. Hiến pháp năm 1959 ra đời trong hoàn cảnh đất nước có những thay
đổi lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, theo xu hướng ngày càng mở
rộng các quyền con người. Hiến pháp năm 1959 đã xác định quyền nhân thân mới
là quyền tự do biểu tình (Điều 17), đồng thời quy định rõ ràng hơn quyền tự do cư
trú, quyền tự do đi lại không phân biệt trong nước và ngoài nước như Hiến pháp
năm 1946.
Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện đất nước thống nhất, cả nước cùng
đi lên chủ nghĩa xã hội, các quyền dân sự của cá nhân được bổ sung và phát triển;
đặc việt riêng đối với quyền nhân thân của cá nhân, đã có những quyền xuất hiện:
Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng (Điều 70), quyền được pháp luật bảo

BLDS năm 1995 còn bộc lộ nhiều hạn chế. Xuất phát từ lí do đó, BLDS sửa đổi
đã được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/2006 (BLDS năm 2005). So với các quy định về quyền nhân thân trong
BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 có một số sửa đổi, bổ sung, cụ thể, đó là bổ
sung thêm 6 quyền nhân thân mới: Quyền được khai sinh ( Điều 29), Quyền được
khai tử (Điều 30); Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); Quyền hiến xác, bộ phận
cơ thể sau khi chết (Điều 34); Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35);
Quyền xác định lại giới tính (Điều 36). Ngoài việc bổ sung quy định mới về một
số quyền nhân thân, hầu hết các quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm
1995 cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp như quyền thay đổi họ tên (Điều
27), quyền xác định dân tộc (Điều 28), quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều
31), quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (Điều 32),
9


quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37), quyền bí mật đời tư
(Điều 38)…
- Tại các văn bản pháp lý khác
Mặc dù đến khi BLDS 1995 được thông qua, khái niệm về quyền nhân thân
mới được hình thành nhưng trước đó, những quyền nhân thân cụ thể đã được thừa
nhân trong một số văn bản pháp lý khác. Cụ thể là trong Luật Bảo đảm quyền tự
do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân
dân 24/1/1957. Ngay tại điều 1 Luật này đã quy định: “Quyền tự do thân thể và
quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn
trọng và bảo đảm. Không ai được phép xâm phạm các quyền ấy”.
Quyền nhân thân cũng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm
2000. Thông qua việc quy định quyền bình đẳng giữa vợ chồng (Điều 19); tôn
trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng; cấm vợ chồng có hành vi ngược
đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau (Điều 21).
2.2. Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân

phương thức bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân là rất cần thiết. Thông thường,
trong trường hợp quyền nhân thân của mình bị xâm phạm thì trước hết cá nhân tự
tiến hành các hành vi bảo vệ cần thiết, tương xứng với hành vi xâm phạm để
chống lại hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của mình, ngăn chặn không cho
các hành vi đó tiếp tục xảy ra như trực tiếp cải chính, yêu cầu người vi phạm
chấm dứt hành vi vi phạm.
Việc pháp luật quy định cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm tự bảo vệ
quyền nhân thân của mình bảo đảm việc bảo vệ quyền nhân thân được tiến hành
kịp thời, ngăn chặn được hậu quả xấu có thể xảy ra và có thể không khoét sâu
thêm mâu thuẫn giữa các đương sự, giữ gìn được mối quan hệ bình thường giữa
các đương sự. Tuy vậy, việc tự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thường chỉ có
hiệu quả khi người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của
cá nhân nhận thức được trách nhiệm của họ.
Đối với những trường hợp người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến
quyền nhân thân của cá nhân không nhận thức được trách nhiệm của họ thì việc
bảo vệ quyền nhân thân theo phương thức này nhiều khi không có hiệu quả.
Trong trường hợp này việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân cần phải có sự hỗ
trợ bảo vệ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo đó, cá nhân có quyền
nhân thân bị xâm phạm có thể yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật bảo vệ như yêu cầu tổ hòa giải ở cơ sở, Ủy ban nhân dân
các cấp, Tòa án, Viện kiểm sát v.v.. bảo vệ. Các cơ quan, tổ chức này căn cứ vào
yêu cầu của đương sự, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã được pháp luật quy định
11


tiến hành các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân bị xâm phạm như xử lý người có hành vi xâm phạm quyền
nhân thân của cá nhân, buộc họ phải chấm dứt hành vi xâm phạm hoặc bồi thường
thiệt hại. Đặc biệt, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thông qua việc yêu
cầu các cơ quan nhà nước như Tòa án, Viện kiểm sát bảo vệ là rất cần thiết bởi

những tin tức không đúng xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Đây là
biện pháp cho phép người có quyền nhân thân bị xâm phạm kịp thời bảo vệ quyền
nhân thân của mình, hạn chế được hậu quả thiệt hại cả về vật chất và tinh thần do
những tin tức không đúng ra gây ra.
Yêu cầu người có vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm là biện pháp bảo vệ
quyền nhân thân của cá nhân có thể áp dụng trong mọi trường hợp quyền nhân
thân bị xâm phạm. So với biện pháp tự cải chính thì biện pháp này được áp dụng
trong một phạm vi rộng hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này thông thường
chỉ có hiệu quả trong trường hợp người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân
sớm nhận thức được hành vi trái pháp luật của họ. Nếu người có hành vi xâm
phạm quyền nhân thân không nhận thức được hành vi trái pháp luật của họ thì
người có quyền nhân thân bị xâm phạm phải áp dụng biện pháp bảo vệ khác mới
bảo vệ được quyền nhân thân của mình.
Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành
vi vi phạm cũng là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân có thể áp dụng
trong mọi trường hợp quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm. Đây là biện
pháp bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả vì sau khi nhận được yêu cầu thì cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp đủ mạnh do pháp luật quy
định buộc người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân chấm
dứt hành vi đó. Trên thực tế, biện pháp này thường được người có quyền nhân
thân bị xâm phạm áp dụng trong trường hợp đã yêu cầu chấm dứt hành vi trái
pháp luật nhưng không được đáp ứng. Trong các cơ quan Nhà nước áp dụng biện
pháp dân sự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án là cơ quan có nhiệm
vụ, quyền hạn bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân chủ yếu và trong việc áp dụng
biện pháp dân sự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án áp dụng có hiệu
quả nhất. Tuy nhiên, bảo vệ quyền nhân thông qua việc yêu cầu Tòa án bảo vệ
được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và đòi hỏi người có quyền nhân thân
bị xâm phạm yêu cầu Tòa án bảo vệ phải chứng minh được quyền nhân thân của
mình, hành vi xâm phạm quyền nhân thân của họ là trái pháp luật.
Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có

trong trường hợp của Nguyễn Lê Minh Anh, sinh năm 1980, quê ở Nha Trang và
hiện đang làm nghề bốc xếp ở cảng Khánh Hội thành phố Hồ Chí Minh. Trong
mail gửi đến báo điện tử Vietnamnet ngày 5/7/2006 Nguyễn Lê Minh Anh viết:
“Tôi đã nghe và đọc được rất nhiều thông tin về mỗi khổ của những người đang
phải chạy thận nhân tạo. Không biết ở Việt Nam chúng ta đã ghép thận được hay
chưa? Tôi thiết nghĩ, đã có hiến máu nhân đạo thì cũng nên có chương trình hiến
thận cho những người đang vật lộn từng ngày từng giờ với căn bệnh đó. Tôi có
ước nguyện muốn được hiến thân của mình cho những người đang phải chống
14


chọi từng ngày, từng giời với căn bệnh đau khổ đó. Thế nhưng tôi không biết làm
cách nào để làm được việc tôi suy nghĩ”
Thực tế đã cho thấy, để có được ngân hang mô, tạng không phải là điều quá
khó khăn. Số lượng người ủng hộ và hiến mô tạng đang ngày càng gia tăng xuất
phát từ cách nhìn nhận cũng như việc thấy được ý nghĩa lơn lao trong việc hiến
mô, tạng cứu người.
- Quyền xác định lại giới tính (Điều 36).
Xác định lại giới tính là một quyền nhân thân được quy định tại Điều 36 Bộ
luật Dân sự năm 2005. Để cụ thể hóa quyền này, ngày 5-8-2008, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 88/NĐ- CP về xác định lại giới tính, áp dụng đối với các tổ
chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, theo đó chỉ áp dụng việc
xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới
tính chưa được định hình chính xác, trên nguyên tắc bảo đảm mỗi người được
sống theo đúng giới tính của mình. Trên cơ sở đề nghị của người xác định lại giới
tính, cơ sở khám, chữa bệnh sẽ lựa chọn giới tính để có phương pháp điều trị thích
hợp, bảo đảm nguyên tắc khi ở giới tính đó, người này có thể hòa nhập cuộc sống
về tâm, sinh lý và xã hội một cách tốt nhất. Theo thống kê của cơ quan chức năng,
ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh giới tính là 1/10.000- 12.000 người, tức là nước
ta có khoảng trên 7.000 người có cấu tạo bất thường hoặc giới tính không rõ ràng.

năm gần đây dường như các trường hợp xâm phạm đến quyền nhân thân của cá
nhân ngày một nhiều, có chiều hướng đa dạng và phức tạp. Trong đó, có vụ với
những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân rất nghiêm trọng
không chỉ phải xử lý về dân sự mà còn phải xử lý về hình sự như vụ vợ chồng
Chu Văn Đức – Trịnh Thị Hạnh Phương ở quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội
trong hơn 10 năm đã hành hạ cô gái Nguyễn Thị Bình để lại trên người tới 424
vết thương; vụ Đào Văn Tuyến ở huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang do đam mê cờ
bạc thua cờ bạc về ngược đãi vợ là chị Lý Thị Nghi với hành vi lột quần áo nhốt
vào chuồng chó, vụ Phạm Thị Mai ở huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh
đánh chết con là cháu Phạm Huy Hoàng, 5 tuổi..v.v..
Căn cứ vào các quy định của BLDS 2005, những người có quyền nhân thân bị
xâm phạm đã thực hiện được các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền nhân thân
của mình như tự cải chính những tin tức xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của
họ, yêu cầu người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của
họ chấm dứt hành vi đó, yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ,
trong đó có việc yêu cầu Tòa án bảo vệ. So với các phương thức bảo vệ quyền
nhân thân khác, phương thức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền nhân thân được các
chủ thể thực hiện tương đối phổ biến. Các vụ việc dân sự về quyền nhân thân Tòa
16


án đã thụ lý giải quyết ngày một nhiều. Trong đó, có những vụ việc khá phức tạp,
nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau và lần đầu Tòa án thụ lý giải
quyết nên không tránh khỏi những lúng túng, vướng mắc cả về mặt xem xét, đánh
giá các tình tiết của vụ việc và cả về mặt áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc,
do vậy sau khi Tòa án xét xử các đương sự vẫn không đồng ý với quyết định của
Tòa án mà còn kháng cáo hoặc khiếu nại qua nhiều cấp Tòa án. Trong các vụ việc
này phải kể đến vụ ông Trần Thanh Minh (Chủ tịch Ủy ban nhân phường Phú
Hải, thành phố Phan Thiết) khởi kiện ông Đồng Văn Thanh (Bí thư Đảng ủy
phường này) tới Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận yêu cầu

quan không có quy định, hướng dẫn cụ thể nên việc tự cải chính những tin tức xúc
phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên thực tế hầu như không thể thực
hiện được hoặc có thực hiện thì cũng không hiệu quả. Hơn nữa, về tâm lý thì cũng
không mấy ai tin việc cải chính của chính người có quyền nhân thân bị xâm
phạm.
Tại khoản 2, khoản 3 Điều 25 BLDS quy định khi quyền nhân thân của cá
nhân bị xâm phạm thì người có quyền đó được yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền bảo vệ thông qua việc buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin
lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại. Theo quy định này, thì người có
quyền nhân thân bị xâm phạm được yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo
vệ nhưng cơ quan, tổ chức nào là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền lại chưa được
Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này cũng như các văn
bản pháp luật có liên quan chỉ rõ. Vì thế trên thực tế đã xảy ra không ít các trường
hợp đương sự không xác định được cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền bảo vệ
quyền nhân thân của họ. Ví dụ: Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xin xác định lại cha mẹ cho con
trong trường hợp có tranh chấp, đối với trường hợp yêu cầu xin xác định lại cha
mẹ cho con mà không có tranh chấp thì Tòa án không có thẩm quyền giải quyết.
Tuy vậy, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật
liên quan lại không quy định, hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền giải quyết trường
hợp này nên yêu cầu xin xác định lại cha mẹ cho con mà không có tranh chấp của
đương sự không có cơ quan nào giải quyết.
Hơn nữa, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định về việc
bảo vệ quyền nhân thân của người có quyền nhân thân bị xâm phạm trong trường
hợp họ đã chết. Tuy họ đã chết nhưng việc bảo vệ quyền nhân thân của họ vẫn
phải đặt ra vì trong nhiều trường hợp việc xâm phạm đến các quyền nhân thân của
họ cũng có những ảnh hưởng xấu nhất định tới những người thân và những người
liên quan đến họ. Từ việc pháp luật không quy định cụ thể về thẩm quyền của cơ
18


đối với họ tên,… nhưng có nhũng quyền nhân thân không thể áp dụng thời hiệu
khởi kiện vĩnh viễn được như quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền hiến xác, bộ phận

19


cơ thể sau khi chết,… Vấn đề về thời hiệu khởi kiện để bảo vệ quyền nhân thân
cũng cần được quy định rõ trong BLDS.
Như đã phân tích một số thực trạng về bảo vệ quyền nhân thân ở ý 1, vậy để
bảo đảm việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của BLDS cần
sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLDS liên quan đến việc bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân. Đối với các quy định của BLDS, cần sửa đổi, bổ sung
Điều 25 BLDS theo hướng quy định không chỉ người có quyền nhân thân bị xâm
phạm có quyền yêu cầu bảo vệ mà cả người đại diện của họ cũng có quyền yêu
cầu bảo vệ và việc yêu cầu bảo vệ được đặt ra trong cả trường hợp người có
quyền nhân thân bị xâm phạm đã chết vì như đã nêu trên việc xâm phạm đến
quyền nhân thân của cá nhân trong nhiều trường hợp không chỉ gây thiệt hại, ảnh
hưởng tới quyền lợi của họ mà còn gây thiệt hại, ảnh hưởng xấu tới cả quyền lợi
của người thân và người liên quan đến họ. Ngoài ra, có thể sửa đổi, bổ sung
khoản 2 Điều 25 BLDS theo hướng quy định rõ cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
trong việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân để tạo thuận lợi cho cá nhân có
quyền nhân thân bị xâm phạm kịp thời thực hiện được việc bảo vệ quyền nhân
thân của mình.

KẾT LUẬN
Con người luôn là trung tâm, là tâm điểm hướng tới của mọi cuộc cách mạng
xã hội. Việc ghi nhận các quyền của con người là một trong những yếu tố đánh
giá sự tiến bộ của từng giai đoạn lịch sử, của từng nhà nước khác nhau. Nhà nước
Việt Nam luôn coi trọng các quyền của con người – trong đó có quyền nhân thân.
Với việc ghi nhận về các quyền nhân thân trong BLDS năm 2005 có thể thấy rằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status