Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa nếp cai hoa vàng theo phương pháp cải tiến (SRI) tại huyện yên bình, tỉnh yên bái - Pdf 33

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MAI THU HÀ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
THÂM CANH GIỐNG LÚA NẾP CÁI HOA VÀNG
THEO PHƢƠNG PHÁP CẢI TIẾN (SRI)
TẠI HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2015


i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang phụ bìa

MAI THU HÀ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
THÂM CANH GIỐNG LÚA NẾP CÁI HOA VÀNG
THEO PHƢƠNG PHÁP CẢI TIẾN (SRI)
TẠI HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đỗ Thị Ngọc Oanh

Tác giả luận văn

Mai Thu Hà


iv

MỤC LỤC
Trang phụ bìa .................................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ ii
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. iii
MỤC LỤC .................................................................................................................. iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................... vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................... viii
DANH MỤC CÁC HÌNH .......................................................................................... ix
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................1
1. Đặt vấn đề .................................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................2
3. Ý nghĩa của đề tài .....................................................................................................2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ...........................................3
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu ....................................................................3
1.2. Những nghiên cứu về mật độ cấy cho cây lúa ......................................................8
1.3. Một số nghiên cứu về bộ rễ và phân bón trên cây lúa ở Việt Nam ....................12
1.4. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam.......................17
1.4.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới .........................................17
1.4.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở trong nước ........................................19
1.4.3. Tình hình áp dụng kỹ thuật SRI trên thế giới ..................................................23
1.4.3.1.Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc. ............................................................24
1.4.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Thái Lan ..................................................................25
1.4.3.3. Tình hình nghiên cứu ở Campuchia..............................................................26

Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................42
3.1. Diễn biến thời tiết khí hậu 6 tháng vụ mùa năm 2014 tại huyện Yên Bình - tỉnh
Yên Bái .......................................................................................................................42
3.2. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ đến thời kỳ sinh trưởng phát triển của
giống lúa Nếp cái hoa vàng ........................................................................................44
3.3. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ đến chiều cao cây, khả năng đẻ nhánh và tỷ
lệ thành bông của giống lúa nếp cái hoa vàng ...........................................................46
3.4. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ đến đường kính rễ và chiều dài rễ của
giống lúa nếp cái hoa vàng .........................................................................................50
3.5. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ đến khả năng tích lũy chất khô của rễ giống
lúa nếp cái hoa vàng ...................................................................................................54


vi

3.6. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ chất khô
của thân, lá và toàn khóm của giống lúa nếp cái hoa vàng .......................................60
3.7. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ ảnh đến tình hình sâu và khả năng chống
đổ của giống lúa nếp cái hoa vàng .............................................................................63
3.8. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống lúa nếp cái hoa vàng .....................................................65
3.9. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ ảnh đến năng suất thực thu của giống lúa
nếp cái hoa vàng, độ chênh lệch của các công thức thí nghiệm ................................70
3.10. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ đến hiệu quả kinh tế của giống lúa nếp cái
hoa vàng ......................................................................................................................70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................................................72
1. Kết luận...................................................................................................................72
2. Đề nghị ...................................................................................................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tiếng Việt



viii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong những năm gần đây ................17
Bảng 1.2. Tính hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2013 .....18
Bảng 1.3. Sản xuất lúa ở Việt Nam giai đoạn 2000-2014 .........................................20
Bảng 1.4. Một số kết quả thử nghiệm SRI ở các nước ..............................................28
Bảng 3.1. Thời tiết khí hậu 6 tháng vụ mùa năm 2014 tại huyện Yên Bình - tỉnh
Yên Bái ......................................................................................................43
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ cấy đến các thời kỳ sinh trưởng, của
giống lúa nếp cái hoa vàng ........................................................................45
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của phân bón và mật độ cấy đến chiều cao cây, khả năng đẻ
nhánh và tỷ lệ thành bông của giống lúa nếp cái hoa vàng ......................48
Bảng 3.4. Lượng phân bón và mật độ cấy ảnh hưởng đến đường kính rễ và chiều dài
rễ của giống lúa nếp cái hoa vàng .............................................................51
Bảng 3.5. Ảnh hưởng đến phân bón và mật độ cấy khả năng tích luỹ chất khô của rễ
lúa Nếp cái hoa vàng, tai tầng đất 0 - 5cm ................................................55
Bảng 3.6. Ảnh hưởng đến phân bón và mật độ cấy khả năng tích luỹ chất khô của rễ
lúa Nếp cái hoa vàng, ở tầng đất 6 - 10 cm ...............................................57
Bảng 3.7. Ảnh hưởng đến phân bón và mật độ cấy khả năng tích luỹ chất khô của rễ
lúa Nếp cái hoa vàng, ở tầng đất 11 - 15 cm .............................................59
Bảng 3.8. Ảnh hưởng phân bón và mật độ cấy đến khả năng tích luỹ chất khô của
thân, lá và toàn khóm của giống lúa Nếp cái hoa vàng ............................61
Bảng 3.9. Ảnh hưởng phân bón và mật độ cấy đến tình hình sâu hại và khả năng
chống đổ của giống lúa nếp cái hoa vàng .................................................64
Bảng 3.10. Lượng phân bón và mật độ cấy ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống lúa nếp cái hoa vàng............................66
Bảng 3.11. Ảnh hưởng phân bón và mật độ cấy đến năng suất thực thu và độ chênh

khăn được phân bố trên tổng diện tích đất tự nhiên 77.320 ha, trong đó đất nông
nghiệp 57.691 ha; chiếm 74,6% tổng diện tích thì đất trồng lúa chỉ có 6.140 ha, tuy
có diện tích đất trồng lúa ít song phân bố khá tập trung, màu mỡ, địa hình bằng phẳng.
Trong những năm qua, với phong trào thâm canh tăng năng suất cây trồng đã
được các cấp chính quyền và nhân dân chú trọng, đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật; như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chương trình 3 giảm
3 tăng, quản lý dịch hại tổng hợp IPM… đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, cung cấp
ra thị trường lượng sản phẩm 28.000 - 33.000 tấn, thu nhập tăng từ 17 - 23%,. Tuy
nhiên, từ năm 2005 đến nay mất ổn định về năng suất lúa hàng vụ, sâu bệnh phát
sinh gây hại mạnh đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng chất lượng
lúa gạo Yên Bái, chi phí sản xuất tăng cao, môi trường đất bị suy thoái rõ rệt.
Trước tình trạng trên Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái đã
phối hợp với các cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra,
hội thảo đánh giá nhằm tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình trạng mất
an toàn trong sản xuất lúa tại huyện Yên Bình. Trong đó, tập trung chủ yếu vào nhóm
nguyên nhân mang tính chủ quan là mức độ đầu tư thâm canh và cơ cấu giống lúa
Năm 2013, hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI, trên lúa thuần được triển
khai tại tỉnh Yên Bái, sau 1,5 năm thực hiện, mô hình đã mang lại hiệu quả cao và
được đông đảo người dân chủ động áp dụng mô hình. Hệ thống này là một kỹ
thuật tổng hợp từ khâu gieo cấy đến các biện pháp chăm sóc như tưới tiêu, phân
bón, hiệu quả của hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI đã được khẳng định và ghi


2

nhận cả về ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, hệ thống này chỉ
dược nghiên cứu trên lúa thuần, còn lúa nếp đặc sản của địa phương thì chưa được
tiến hành nghiên cứu.
Xuất phát từ thực tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một
số biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa nếp cái hoa vàng theo phương pháp

sở đảm bảo khi giá lương thực tăng cao.
SRI là giải pháp tối ưu nhất cho người nông dân và các quốc gia nhằm thúc
đẩy sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp dựa vào cộng đồng. Đồng thời, SRI
cho phép quản lý các nguồn tài nguyên đất và nước một cách bền vững hơn và thậm
chí còn làm tăng năng lực sản xuất của những nguồn tài nguyên này trong tương lai.
* Lịch sử phát triển của Hệ thống canh tác lúa cai tiến SRI
SRI được phát triển ở Madagascar vào đầu những năm 1980 và hiện đang
được phổ biến bởi tổ chức phi chính phủ (NGO) Association Tefy Saina, kỹ thuật
này giúp tăng năng suất lúa một cách bền vững. Năng suất trung bình theo SRI
khoảng 9 tấn/ha, gấp hơn 2 lần năng suất trung bình hiện nay của thế giới (4,3
tấn/ha) Beachell 1972 [50].
Những đánh giá một cách có hệ thống về SRI, được thực hiện bởi Fr. Henryde
Laulanie, S.J. (1993), được bắt đầu vào năm 1994. Những đánh giá đầu tiên bên
ngoài Madagascar đã được thực hiện tại Đại Học Nông Nghiệp Nanjing (Nanjing
Agricultural University) năm 1999 và đã đạt được năng suất 9,2 - 10,5 tấn/ha, chỉ sử
dụng khoảng 1/2 lượng nước tưới như bình thường. Năm 2000, cục nghiên cứu và
phát triển nông nghiệp Indonesia đã đạt được năng suất 9,5 tấn/ha, trong những thử
nghiệm SRI vào mùa mưa tại trạm Sukamandi. Từ đó về sau việc đánh giá sử dụng


4

các biện pháp SRI đã và đang được trải rộng nhanh chóng, vì vậy hiện nay nó đang
được xúc tiến thực hiện ở hơn 20 nước trên thế giới bao gồm cả 6 nước Đông Nam Á.
Kỹ thuật thâm canh cải tiến (SRI) góp phần đáng kể đưa năng suất chất lương
lúa gạo Việt Nam;
- Kỹ thuật làm mạ tạo cho cây mạ sống trong những điều kiện thuận lợi nhất
có sức sống tốt nhất trước khi ra ruộng. Tuổi mạ cũng được các nhà khoa học lựa
chọn tuỳ theo điều kiện thâm canh.
- Kỹ thuật cấy: Cây lúa được cấy 1 dảnh, mật độ cấy rất khác nhau tuỳ vào

* Lý luận về thâm canh lúa cải tiến SRI
SRI (System of Rice Intensification) là phương pháp canh tác lúa sinh thái và
hiệu quả, tăng năng suất nhưng lại giảm chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc
trừ sâu và nước tưới. Những nguyên tắc ký thuật cơ bản của phương pháp này bao
gồm: cấy mạ non, cấy một dảnh, cấy thưa, quản lý nước, làm cỏ sục bùn và bón
phân hữu cơ. Đây là kỹ thuật thâm canh đầy triển vọng vì thỏa mãn được cả hai
mục tiêu là đạt hiệu quả kinh tế cao và phát triển nông nghiệp bền vững trong tình
hình khí hậu có nhiều biến đổi.
* Nghiên cứu về các phương pháp của SRI
Fr. Henryde Laulanie và các đồng nghiệp của ông ở Tefy Saina đã không bao
giờ coi SRI như là một công nghệ, nói cách khác là một tập hợp cố định những biện
pháp được áp dụng với những kết quả không đổi trong mọi điều kiện. Hơn thế nữa
họ xem xét đó như là một phương pháp, một triết lý được dựa trên những nguyên
tắc quy nạp từ những quan sát thực tế (theo dõi thực nghiệm) đối với cây lúa như
thế nào để có thể đạt được năng suất cao nhất.
* Các phương pháp của SRI gồm
- Cấy mạ non: 8 - 15 ngày tuổi, chỉ với 2 lá nhỏ. Việc này đã bảo vệ, giữ gìn
tiềm năng của cây lúa về sự đẻ nhánh nhánh nhiều và sự sinh trưởng của rễ. Tiềm
năng này sẽ mất do cấy muộn.
- Cấy một dảnh mạ, cấy khoảng cách rộng theo hình vuông: 25 x 25cm hay
thậm chí rộng hơn 33 x 33cm hay 40 x 40cm thậm chí 50 x 50cm nếu điều kiện đất
tốt. Khoảng cách rộng như vậy sẽ tạo cho rễ của cây lúa có nhiều khoảng không để
sinh trưởng, phát triển. Hoàng Văn Phụ (2012) [30].
- Cấy một cách cẩn thận: Vì những cây mạ non bị thương tổn rất nhỏ và có thể
nhanh chóng phục hồi sự sinh trưởng của chúng.
- Trong suốt thời kỳ sinh trưởng sinh thực:


6




7

- Làm giảm những yêu cầu, đòi hỏi của nông nghiệp về nguồn nước trên thế
giới, một nguồn tài nguyên mà đang ngày càng trở nên khan hiếm. Lúa là cây tiêu
thụ nước hàng đầu và phương pháp SRI có thể cắt giảm 1/2 tới 2/3 những đòi hỏi về
tưới tiêu của sản xuất lúa. Phạm Thị Thu, Hoàng Văn Phụ (2014) [39].
- Làm giảm tác hại của hóa nông nghiệp vào đất nước: với phương pháp SRI,
cây lúa sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh hơn và tự bản thân chúng có thể đối phó
tốt hơn với vấn đề sâu bệnh hại. Điều này có thể làm giảm hoặc thậm chí dừng hẳn
việc sử dụng thuốc trừ sau bệnh và thuốc diệt cỏ.
- Làm giảm sự thải ra khí Methane từ ruộng lúa bằng cách không giữ chúng
tiếp tục ngập nước. Trong khi điều này có thể làm tăng việc thải ra khí Nitơ ôxít và
một vài khí hiệu ứng nhà kính khác. Điều này sẽ được giảm thiểu nếu không sử
dụng hoặc giảm phần lớn việc sử dụng phân đạm vô cơ [39].
- Nâng cao chất lượng đất và hiệu suất sử dụng đất thông qua việc phối kết
hợp các biện pháp quản lý cây trồng, đất, nước và dinh dưỡng. Điều này góp phần
tăng quy mô, sự năng động và đa dạng ca hệ vi sinh vật đất.
Sự bền vững của những biện pháp SRI không là một công nghệ cố định, đúng
hơn là một bước tiến về những nhận thức mới và các nguyên lý đúng có thể áp dụng
cho các cây trồng khác với những sự sửa đổi thích hợp sẽ được xác định cụ thể. Vì
vậy ở Madagascar, mặc dù năng suất rất cao nhưng không nhìn thấy sự giảm sút
năng suất qua các năm, thậm chí đất ở đây đã được mô tả và đánh giá như một vài
loại đất nghèo nhất trên thế giới (Vũ Hữu Yên, 1995) [46].
Có thể sự cạn kiệt về dinh dưỡng đang được bù đắp bằng sự cần cù, chăm chỉ
của nông dân đã làm cho năng suất đi lên chứ không giảm sút. Mặt khác, có thể độ
phì nhiêu của đất đang được nâng cao bởi sự kết hợp, sự tương tác giữa đất, nước,
cây trồng, dinh dưỡng và vi sinh vật nhờ các biện pháp SRI, đồng thời làm cho
những chất dinh dưỡng không thể dùng được thành có thể dùng được thông qua các

bông /khóm, số khóm/m2, với lúa gieo thẳng mật độ được đo bằng số hạt mọc/m2.
Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều. Trong một
giới hạn nhất định việc tăng số bông không làm giảm số hạt/bông và khối lượng
nghìn hạt nhưng nếu vượt qua giới hạn nhất định, số hạt/bông sẽ giảm dần và khối
lượng nghìn hạt sẽ giảm dần do sự cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng, vì thế khi cấy
quá dầy sẽ làm năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu cấy mật độ quá thưa đối
với giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày khó đạt được số bông tối ưu. Vì vậy,


9

chọn mật độ thích hợp là phương pháp tối ưu nhất để đạt được số lượng hạt chắc
nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy. Hoàng Văn Phụ (2012) [30].
Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh kéo dài, hạn chế nhánh
vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng. Cấy dày các cây còn cạnh tranh về dinh dưỡng,
ánh sáng, cây lúa sẽ vươn cao, lá nhiều rậm rạp ảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp
thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khả năng chống chịu kém và năng suất cuối
cùng không cao. Hạt chín không đều, mầm mống sâu bệnh trên hạt có thể tăng do
độ ẩm hạt tăng nhanh chóng trong quá trình bảo quản… ảnh hưởng không nhỏ tới
chất lượng hạt giống [30].
Khi nghiên cứu về mật độ, cách cấy của ruộng lúa năng suất tác giả Đào Thế
Tuấn cho biết: Mật độ là một trong những biện pháp ảnh hưởng đến năng suất lúa vì
mật độ cấy quyết định diện tích lá và sự cấu tạo quần thể, đến chế độ ánh sáng và sự
tích lũy chất khô của ruộng lúa mạnh mẽ nhất. Theo Hoàng Văn Phụ thì tùy từng
giống lúa để chọn mật độ thích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm
hàng lúa thông thoáng, các khóm lúa không chen nhau. Cách bố trí khóm lúa theo
hình vuông (vuông mắt sàng) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm
bảo nhưng lại tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp,
chống bệnh tốt, thuận lợi cho việc chăm sóc dễ ứng dụng phương pháp làm cỏ sục
bùn và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn. Hoàng Văn Phụ (2005) [28].

bố trí các khóm lúa theo kiểu hàng sông hàng con trong đó hàng sông rộng hơn
hàng con, để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo hình chữ nhật. (Hoàng Văn
Phụ (2005) [28].
Các giống đẻ khỏe cần cấy với mật độ thưa và ít dảnh, ngược lại các giống đẻ
yếu cần cấy với mạt độ dày hơn và nhiều dảnh hơn, mạ già cấy dày hơn mạ non,
giống dài ngày cấy thưa hơn giống ngắn ngày.
Theo Nguyễn Như Hà: Mật độ cấy khác nhau ảnh hưởng rõ đến khả năng đẻ
nhánh của giống lúa Việt Lai 20. Chỉ số diện tích lá tăng khi mật độ tăng từ 25- 165
dảnh/m2, nếu cùng số dảnh/khóm khi mật độ tăng trong hai giai đoạn nhưng sang
giai đoạn chín sữa khối lượng chất khô sẽ giảm nếu tiếp tục tăng mật độ. Công thức
cấy thưa (25-30 khóm/m2, 1 dảnh) có hiệu suất quang hợp cao nhưng chỉ số diện
tích lá ít thấp hơn nên khối lượng chất khô được tổng hợp qua các thời kỳ ít hơn
công thức cấy dày. Nguyễn Như Hà (2006) [10].
Mật độ trồng thích hợp, quần thể lúa sẽ sử dụng tốt nước và dinh dưỡng để tạo
ra năng suất cao nhất, mật độ sản xuất giống đảm bảo tạo ra 400-500 bông/m2, có
nghĩa là 70-100 cây mạ/m2 là tốt nhất. Mật độ thưa sẽ tăng khả năng đẻ nhánh và có


11

thể gây ra biến động lớn về độ chín đồng đều của các bông ảnh hưởng tới chất
lượng hạt giống, mật độ thưa làm tăng cỏ dại cũng làm giảm chất lượng hạt giống.
Mật độ trồng quá cao làm giảm năng suất và chất lượng hạt giống vì cạnh tranh
nước và dinh dưỡng, che khuất lẫn nhau, dễ đổ và giảm kích thước hạt.
Với lúa khi cấy ở mật độ thưa, mỗi cây sẽ có lượng dinh dưỡng lớn hơn, khả
năng hút đạm và cung cấp cho hạt cao hơn nên đã làm tăng lượng protein trong hạt
của lúa nhưng lại làm giảm lượng lipid trong hạt.
Quần thể lúa có quy luật tự điều tiết giữa các cá thể và quần thể nhưng quy
luật đó không đúng trong mọi trường hợp cấy quá dày hay quá thưa. Mật độ cấy
thích hợp được xác định tùy thuộc chủ yếu vào đặc điểm của giống, đất đai, phân

hàng với hàng chỉ có thể bố trí đến 30cm, quá khoảng cách này thì không thể đảm
bảo được mật độ cần thiết (29 - 40 khóm/m2). Khi quan sát các khóm lúa ven bờ
chúng ta thấy: nhờ được hưởng nhiều ánh sáng hơn nên các bông lúa đều to, nhiều
hạt, số bông/khóm nhiều hơn hẳn các khóm lúa bên trong ruộng, tỷ lệ lép thấp.
Nguyễn Văn Hoan (2002) [11].
Theo Nguyễn Thị Trâm phương pháp cấy truyền thống là cấy lúa hàng đều,
thường được cấy theo kiểu hàng xông và hàng con. Với nhóm lúa thuần, gieo mạ
truyền thống: giống ngắn ngày cần cấy 4 - 5 dảnh/khóm, 45 - 50 khóm/m2 với
khoảng cách là 20cm x 10cm hoặc 20cm x 12cm; giống trung ngày cấy 4 - 5
dảnh/khóm, 40 - 45 khóm/m2 và khoảng cách là 25cm x 10 - 13cm; giống dài ngày
cấy từ 35 - 40 khóm/m2 và khoảng cách là 25cm x 10 - 12cm hoặc 20cm x 13 14cm. Nhóm lúa thuần gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến cấy mạ non mật độ
là 30 - 35 khóm/m2. Nguyễn Thị Trâm (2000) [43].
Phương pháp cấy cải tiến áp dụng đối với lúa lai, nên đảm bảo mật độ cần
thiết 29 - 40 khóm/m2, ở nhiều địa phương đã bố trí phương pháp cấy theo kiểu
“hàng rộng - hàng hẹp” và có thể giãn khoảng cách giữa hai hàng kép 35 - 40cm mà
vẫn đảm bảo mật độ cần thiết [43].
1.3. Một số nghiên cứu về bộ rễ và phân bón trên cây lúa ở Việt Nam
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, rễ đóng vai trò rất quan
trọng. Rễ giữ cho cây đứng vững, hút nước, dinh dưỡng và muối khoáng để nuôi
cây. Rễ lúa thuộc hệ rễ chùm, có cấu tạo sơ cấp, sau khi lúa nảy mầm, rễ mầm xuất
hiện, tồn tại 5 -7 ngày rồi rụng đi. Từ các đốt than trên mọc ra các rễ phụ, phát triển
nhanh tạo thành rễ chum, ăn nông.


13

Nhưng khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật được tiến hành thì hướng tới
canh tác lúa hiện đại dựa trên bốn nguyên tắc: một là thủy lợi, hai là phân bón, ba là
giống, bốn là thuốc trừ sâu. Canh tác lúa hiện đại đóng góp cho sự phát triển của
Việt Nam rất tốt, làm tăng sản lượng. Tuy nhiên tăng đầu vào thì sẽ tăng đầu ra.

thường rễ non có màu trắng sữa, rễ già sẽ chuyển sang màu vàng, nâu nhạt rồi nâu
đậm, tuy nhiên phần chóp rễ vẫn còn màu trắng. Bộ rễ không phát triển, rễ bị thối đen
biểu hiện tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng trong đất, cây lúa không hấp thu được
dinh dưỡng nên còi cọc, lá vàng, dễ bị bệnh và rụi dần nếu không có biện pháp xử lý
kịp thời. Sự phát triển của bộ rễ tốt hay xấu tùy loại đất, điều kiện nước ruộng, tình
trạng dinh dưỡng của cây và giống lúa. Những giống lúa rẫy (sống ở vùng cao, không
ngập nước) hoặc các giống lúa chịu hạn giỏi thường có bộ rễ phát triển mạnh, ăn sâu
và rộng, tận dụng được lượng nước hiếm hoi trong đất, độ mọc sâu của rễ tùy thuộc
vào mực nước ngầm cao hay thấp, (Kaw R, N Khush G,S. 1985) [59].
Sự phát triển và phân bố của bộ rễ cũng tuân theo giai đoạn nhất định. Giai
đoạn sinh trưởng dinh dưỡng rễ sẽ ăn nông và tập trung ở tầng đất 0 - 10cm. Khi
cây lúa bước sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực rễ lúa phát triển mạnh về số
lượng, trọng lượng và ăn sâu đến tầng 30 - 50cm để hấp thu dinh dưỡng và dữ cho
cây bám chắc vào đất, tránh đổ ngã khi mang đồng và mang hạt. Đây là cơ sở khoa
học của cách bón phân lót sâu ở đất.
Theo Bùi Đình Dinh cho rằng: Phân bón có từ rất lâu đời cùng với sự ra đời
của nền nông nghiệp và bắt đầu bằng việc sử dụng các loại phân hữu cơ. Từ trước
Công Nguyên con người đã quan tâm đến việc bón phân hữu cơ cho ruộng, ở Trung
Quốc đã biết bón phân xanh và phân bón đã được bắt đầu sử dụng từ các phân của
động vật và mở rộng ra các loại phân hữu cơ khác.
Nông dân Việt Nam đã dùng phân hữu cơ từ rất lâu đời, từ việc phát nương
làm rẫy, đốt rơm rạ trên nương để lại lớp tro rồi chọc lỗ bỏ hạt. Việc cày vặn ngả dạ
(làm dầm) mục đích để rơm rạ được ủ nát thành phân ngay tại ruộng, người nông
dân đã biết tận dụng ngay tại chỗ nguồn phân bón kết hợp với thu gom phân trâu
bò, tro bếp... để bón ruộng [9].
Theo Lê Văn Căn ở đất phù sa Sông Hồng nếu bón đơn thuần phân đạm mà
không kết hợp với phân lân và kali vẫn phát huy được hiệu quả của phân đạm,
lượng phân lân và kali bón thêm không làm tăng năng suất đáng kể, nhưng nếu cứ
bón liên tục sau 3 - 4 năm thì việc phối hợp bón lân và kali sẽ làm tăng năng suất rõ
rệt trên tất cả các loại đất. Phân đạm là nguyên tố dinh dưỡng cần thiết nhất nên

đạm lớn nhất của cây lúa. Nếu bón đạm tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh sẽ kích thích
cây lúa đẻ nhiều và tập trung, do đó số nhánh hữu hiệu tăng lên. Đây chính là yếu tố
quyết định năng suất của lúa [8].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status