LỜI MỞ ĐẦU
Phần I: Đặt vấn đề
1. Sự cấp thiết của đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
6. Kết cấu đề tài
Phần II: Giải quyết vấn đề
Chương I: Tổng quan về suy thoái kinh tế và tác động của nó đến nâng cao
chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam cùng kinh nghiệm của Trung Quốc.
1.1 Khái niệm và nguyên nhân dẫn tới suy thoái kinh tế toàn cầu
1.1.1 Khái niệm suy thoái kinh tế toàn cầu
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay
1.1.3 Đặc điểm của suy thoái kinh tế toàn cầu
1.2 Diễn biến suy thoái kinh tế toàn cầu
1.2.1. Sụp đổ tài chính phố Wall- khởi đầu cho cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu
1.2.2. Khủng hoảng trở thành toàn cầu – lan truyền dư chấn tới các khu vực kinh
tế thực và các nền kinh tế trên toàn thế giới
1.3. Tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu đến nâng cao chất lượng dòng vốn
FDI vào Việt Nam
1.3.1 Tác động tiêu cực đối với chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam
Suy thoái kinh tế toàn cầu khiến cho đối tác đầu tư hạn chế chuyển dòng vốn FDI
vào Việt Nam, cạnh tranh thu hút FDI giữa các nước ngày càng gay gắt, các doanh
nghiệp FDI gặp khó khăn hiệu quả đầu tư giảm.
1.3.2 Tác động tích cực của suy thoái kinh tế toàn cầu đến nâng cao chất lượng
dòng vốn FDI vào Việt Nam
Suy thoái kinh tế toàn cầu khiến Chính phủ đổi mới tư duy về cải cách chính sách
thu hút dòng vốn FDI, các doanh nghiệp FDI thay đổi chiến lược kinh doanh hiệu
2.2.1.Vốn và dự án đầu tư
Vốn đăng ký tăng đột biến vào năm 2008, sau đó giảm dần vào năm 2009,
2010,2011 và giảm mạnh vào 2012 chỉ có 7,85 tỷ USD. Nhưng số lượt dự án tăng
dần, số dự án được cấp giấy chứng nhận dầu tư cũng tăng nhẹ qua các năm. Trong
khi đó, số vốn thực hiện qua các năm xấp xỉ nhau năm 2008 là 11.5 tỷ USD , năm
2009 là 10 tỷ USD , năm 2010 là 11 tỷ USD và năm 2011 là 11,5 t ỷ USD còn
năm 2012 không có biến động gì lớn vốn giải ngân bằng với năm 2010.
2.2.2. Lĩnh vực đầu tư
Năm 2008, lĩnh vực thu hút nhiều nhà đầu tư nhất là ngành công nghiệp
chế biến. Năm 2009, lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư là
dịch vụ lưu trú ăn uống, thứ hai nổi lên là kinh doanh bất động sản, còn lĩnh vực
công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ ba. Năm 2010,2011 lĩnh vực công nghiệp
chế biến chế tạo lại vươn lên thứ nhất, sau là lĩnh vực sản xuất phân phối điện rồi
lĩnh vực xây dựng, sau đó mới là kinh doanh bất động sản. Năm 2012,đứng đầu
vẫn là lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, lĩnh vực bất động sản trở thành lĩnh
vực đứng thứ hai.
2.2.3. Theo đối tác đầu tư
Số quốc gia đầu tư vào Việt Nam có sự tăng giảm xung quanh 50 quốc gia
và vùng lãnh thổ, các đối tác lớn là Singapore, Hong Kong, Nhật Bản.
2.2.4. Địa bàn đầu tư
Địa phương thu hút FDI nhiều nhất là Bà Rịa- Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí
Minh, Bình Dương.Vùng Đông Nam Bộ là vùng thu hút nhiều vốn đầu tư nước
ngoài, thứ hai là đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên là vùng thu hút ít nhất vốn
FDI.
2.2.5. Hình thức vốn đầu tư
Trong giai đoạn này, hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài là nhiều nhất,
sau đó là hình thức liên doanh. Hình thức công ty cổ phần, BTO, BT, BTO… chỉ
chiếm một tỷ lệ nhỏ.
biến cơ bản và mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của tất cả các ngành, các
cấp. Đối với lĩnh vực FDI, cần thống nhất nhận thức và khẳng định quan điểm
chiến lược thu hút FDI cả đối với trung và dài hạn. Phải coi thu hút và sử dụng có
hiệu quả dòng vốn FDI là một bộ phận khăng khít của chiến lược phát triển kinh
tế-xã hội.
3.2. Một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dòng vốn FDI
vào Việt Nam
3.2.1. Định hướng nhằm nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam
Việc thu hút FDI phải cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng và
các đối tác theo hướng chọn lọc. Tăng cường công tác đào tạo nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực.
3.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam
Để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao vào Việt Nam trong thời gian tới
thì nhà nước cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách, rà soát lại quy
hoạch các dự án đầu tư, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, hoàn thiện các
quy định về phân cấp đầu tư, tăng cường công tác kiểm tra giám sát, nâng cao hiệu
quả hoạt động xúc tiến đầu tư.
Phần III: Phần kết thúc