TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2013
Tên công trình:
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CÁN CÂN VÃNG LAI VIỆT NAM - GÓC
NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN LIÊN THỜI KỲ VÀ
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội
HÀ NỘI, 2013
2
MỤC LỤC
3
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai - kết quả ước
lượng từ các nghiên cứu thực nghiệm điển hình ........................................19
Bảng 2: Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư qua các năm, %GDP..............................24
Bảng 3: Diễn biến cán cân thương mại giai đoạn 1996-2012 ....................26
Bảng 4: Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu ........................................................31
Bảng 5: Cơ cấu xuất khẩu phân theo khu vực kinh tế qua các năm ...........33
Bảng 6: Cơ cấu nhập khẩu trung bình phân theo khu vực kinh tế qua các
giai đoạn .....................................................................................................37
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Hiệu ứng đường cong J .............................................................79
Phụ lục 2: Cơ chế tỷ giá Việt Nam giai đoạn 1997 – 2012 ........................79
Phụ lục 3: Tính toán REER ........................................................................80
Phụ lục 4: Các kiểm định tự tương quan ....................................................81
Phụ lục 5: Cán cân thanh toán Việt Nam giai đoạn 1996-2011..................81
Phụ lục 6: Biến động thu nhập tương đối (ΔRel_y) ...................................83
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACFT
A
ASEAN China Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch tự do
ASEAN-Trung Quốc
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
APEC
CIF
Cost, Insurance, Freight
Giá nhận hàng tại biên giới
Việt Nam
CNY
China Yuan Renminbi
Đồng Nhân dân tệ
EMEs
Emerging market economies
Các nền kinh tế thị trường mới
nổi
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FGLS
Feasible Generalized Least
Squares
7
IDCs
Industrial developed countries
Các nước công nghiệp phát
triển
IFS
International Financial Statistics
Thống kê tài chính quốc tế
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
KCN
Khu công nghiệp
KCNC
Khu công nghệ cao
NFA
Net Foreign Assets
Tài sản ròng nước ngoài
OECD
Organisation for Economic Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế
OER
Official exchange rate
Tỷ giá chính thức thống nhất
do NHNN công bố
OLS
Ordinary least squares
Phương pháp bình phương
nhỏ nhất
REER
8
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế Giới
9
Chương I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Lý do nghiên cứu
Tài khoản vãng lai là bộ phận chính yếu trong cán cân thanh toán quốc
tế, nó ghi nhận các giao dịch thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ;
thu nhập và chuyển giao ròng từ nước ngoài; và là một trong những chỉ số
quan trọng để đánh giá hành vi trong tương lai của nền kinh tế. Theo cách
tiếp cận liên thời kỳ, cán cân vãng lai phản ánh mức độ chênh lệch giữa tiết
kiệm và đầu tư trong nước. Thâm hụt cán cân vãng lai đồng nghĩa với việc
tiết kiệm trong nước không đủ mức đầu tư lớn hơn trong nước, đòi hỏi phải
thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài như FDI, kiều hối hay là các khoản vay
nợ nước ngoài. Với một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và đang ở
giai đoạn đầu của sự phát triển như Việt Nam hiện nay thì thâm hụt cán cân
vãng lai là điều dễ hiểu. Thậm chí, xét ở một góc độ nào đấy, điều này còn
là cần thiết để Việt Nam có thể tận dụng được nguồn vốn từ bên ngoài
nhằm phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởng
tới khả năng thanh toán của một quốc gia, tiềm ẩn nhiều rủi ro và tác động
xấu tới nền kinh tế. Tác động này có thể xảy ra như là một cú sốc đối với
cân bằng bên ngoài của nền kinh tế dưới hai hình thức: (i) như một cuộc
một góc độ khác, thâm hụt vãng lai lại phản ánh một sự quản lý tồi trong
quá trình chuyển đổi, thể hiện những mất cân đối quá mức và là nguy cơ
của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán (Roubini và Wachel, 1998).
Như vậy thì thâm hụt vãng lai là tốt hay xấu là một câu hỏi không dễ trả
lời, điều này còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô cũng như tình hình
tài khoản vốn. Nó chỉ thực sự trở nên xấu khi thâm hụt kéo dài và dẫn tới
khủng hoảng cán cân thanh toán, mất giá đồng nội tệ. Tuy nhiên, hiện nay
ở Việt Nam vẫn có một quan niệm phổ biến là cứ nhập siêu, thâm hụt
thương mại cũng như thâm hụt tài khoản vãng lai là xấu, là phản ánh của
một nền kinh tế yếu kém và ngược lại, thặng dư tài khoản vãng lai thể hiện
một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt.
11
Ngoài ra, cân bằng tài khoản vãng lai cũng quyết định tới thay đổi tài
khoản ròng của một nước so với các nước khác thế giới, phản ánh những
quyết định liên thời gian của cả cư dân trong và ngoài nước. Chính bởi vậy
mà biến động tài khoản vãng lai luôn là một trong những chỉ số quan trọng
để đánh giá hành vi nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đồng thời ảnh
hưởng sâu sắc tới các phân tích của các nhà hoạch định chính sách về sự
phát triển của nền kinh tế, và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ trong
đó. Kể từ năm 1996 tới nay, cán cân thương mại cũng như cán cân vãng lai
của Việt Nam liên tục thâm hụt trong nhiều năm liền và có xu hướng gia
tăng trong những năm gần đây. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á
1997-1998, cán cân vãng lai chuyển từ thâm hụt 8,2% GDP năm 1996 sang
thặng dư trong những năm 1999-2001 (khoảng từ 2-4% GDP). Tuy nhiên
thâm hụt vãng lai bắt đầu quay trở lại từ năm 2002 và liên tục trong nhiều
năm liền, đặc biệt với mức thâm hụt lên tới 11,88% GDP năm 2008. Đối
với cán cân thương mại, kể từ năm 2003 trở đi, thâm hụt liên tục ở mức cao
với đỉnh điểm là hai năm 2007-2008 lên tới 20% GDP. Do đó việc hiểu rõ
về cán cân tài khoản vãng lai. Với mục tiêu tổng quát như vậy, đề tài
nghiên cứu này tập trung giải quyết các vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, phân tích thực trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt
Nam qua các năm.
Thứ hai, phân tích những nguồn tài trợ chính cho thâm hụt vãng lai ở
Việt Nam, đồng thời tìm hiểu những chính sách có liên quan tới cán cân
thương mại, cán cân vãng lai trong giai đoạn 1996 - nay.
Thứ ba, xem xét tác động của các yếu tố tới cán cân vãng lai của Việt
Nam theo phương pháp tiếp cận liên thời kỳ. Đồng thời giải thích nguyên
nhân gây ra thâm hụt cán cân vãng lai trong giai đoạn nghiên cứu.
Từ những kết quả thu được, chúng tôi đề xuất các lựa chọn chính sách
như là ý kiến đóng góp đối với các nhà hoạch định.
13
3. Phương pháp nghiên cứu, phạm vi và số liệu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng phương pháp tiếp cận liên
thời kỳ tới cán cân vãng lai. Đồng thời chúng tôi ước lượng mô hình hồi
quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để xem xét tác động
của các biến giải thích tới cán cân vãng lai.
Ơ Việt Nam, do số liệu thống kê còn chưa đầy đủ nên chúng tôi lựa
chọn bộ số liệu từ quý I năm 1996 tới quý II năm 2012. Đây là giai đoạn
mà số liệu phục vụ cho nghiên cứu khá đầy đủ, đồng thời cũng phản ánh
được giai đoạn Việt Nam bắt đầu có sự hội nhập sâu hơn với nền kinh tế
khu vực cũng như thế giới. Điều này giúp cho mô hình hồi quy đạt được
kết quả tốt nhất.
Số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu được chiết xuất từ nguồn chính
là IFS (IMF), ngoài ra, để phục vụ cho bài nghiên cứu chúng tôi cũng sử
dụng một số số liệu từ các nguồn khác như GSO, MOF, WB, SBV...
4. Cấu trúc bài nghiên cứu
cách giải thích biến động của tài khoản vãng lai. Một số phương pháp có
thể kể đến như cách tiếp cận chi tiêu - absorption approach; cách tiếp cận
co giãn thương mại – trade elasticity approach; và từ giữa những năm 90
của thế kỷ trước cho tới này là sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp tiếp
cận liên thời kỳ tới tài khoản vãng lai – intertemporal approach to current
account. Trong đó, chúng tôi gộp hai phương pháp tiếp cận đầu tiên vào
nhóm các phương pháp tiếp cận cổ điển bởi các phương pháp tiếp cận này
là những phương pháp đầu tiên xem xét giải thích cán cân vãng lai và cho
đến hiện nay ít được áp dụng.
1.1 Các phương pháp tiếp cận cổ điển
Thứ nhất, phương pháp tiếp cận chi tiêu do A.Marshall, A.Lerner,
Joan Robinson và F. Machlup phát triển, là một phương pháp theo định
hướng kinh tế vĩ mô. Điều đó có nghĩa mô hình được xây dựng mà không
cần tham chiếu trực tiếp tới hành vi tối ưu hóa của người dân. Nó dựa trên
một vài đặc điểm kinh tế vĩ mô, điểm mạnh của phương pháp này là đơn
giản và tính thực tiễn. Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý là phương pháp này
thiếu nền tảng lý thuyết sâu. Theo đó, thì cán cân vãng lai là sự dư thừa sản
xuất của một quốc gia (Y) so với chi tiêu (A) được cho bởi công thức:
CA = Y - A
trong đó Y là thu nhập quốc dân; A = C + I + G là nhu cầu nội địa; C,
I, G lần lượt là tiêu dùng, đầu tư trong nước và chi tiêu Chính phủ. Như
vậy, một tài khoản vãng lai thặng dư có nghĩa là nước đó đang chi tiêu dưới
16
mức thu nhập của mình (như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc); và thâm
hụt cán cân vãng lai có nghĩa là nước này chi tiêu lớn hơn thu nhập của
mình (như Hoa Kỳ và nhiều nước đang phát triển). Với một quốc gia đang
trải qua giai đoạn thâm hụt cán cân vãng lai, chỉ có hai giải pháp khắc phục
theo mô hình này: tăng Y hoặc giảm A.
khoản vãng lai sẽ được cải thiện và chuyển sang thặng dư. Ngoài ra, theo
phương pháp này, điều kiện để phá giá có hiệu quả là tổng hệ số co giãn
cầu nước ngoài đối với hàng xuất khẩu và cầu trong nước đối với hàng
nhập khẩu theo tỉ giá lớn hơn một:
EX+EM>1 (điều kiện Marshall-Lerner)
Trong những năm 1980, nhiều nhà kinh tế Mỹ (bao gồm cả Fred
Bergsten và Paul Krugman) cho rằng một sự phá giá của đồng đô la Mỹ là
hiệu quả trong việc giảm thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ. Mặc dù
phương pháp tiếp cận co giãn thương mại có lợi ích là dự đoán thực
nghiệm đơn giản, thường được tìm thấy là hữu ích trong việc kiểm tra tác
động ngắn hạn của sự thay đổi tỷ giá tới cán cân tài khoản vãng lai, do tính
chất cân bằng từng phần của nó2. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng hạn
chế trong việc giải thích trạng thái dài hạn hoặc cân bằng của cán cân vãng
lai.
1.2 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ
Nghiên cứu cán cân vãng lai theo cách tiếp cận liên thời kỳ là một xu
hướng mới và đang phát triển trên thế giới, theo đó cho phép đi sâu hơn tác
động của nhiều biến số tới thâm hụt tài khoản vãng lai, bao gồm cả các
biến chính sách. Theo cách tiếp cận liên thời kỳ, biến động tài khoản vãng
lai là hệ quả của các quyết định tiêu dùng và đầu tư trong dài hạn đặt dưới
những kỳ vọng tương lai. Theo đó, mô hình này cho thấy những thay đổi
của cán cân thương mại có thể phản ánh những nhân tố ảnh hưởng đến tình
1Xem phụ lục 1
2 tức là cách tiếp cận này chỉ nhìn vào giao dịch trên thị trường hàng hoá mà bỏ qua sự tương tác của
các thị trường khác trong nền kinh tế
18
hình tiết kiệm và đầu tư quốc gia. Điều này cho phép mô hình có thể mở
rộng ra rất nhiều biến số có thể tác động tiềm ẩn lên tài khoản vãng lai.
này đồng nhất với tỷ lệ NFA/GDP là ổn định, ngụ ý rằng tại trạng thái ổn
định ta có:
CA/Y = g*NFA/Y
với g là tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa (g=ΔY/Y). Trong quá trình
chuyển sang trạng thái ổn định dài hạn, có thể có nhiều yếu tố tác động ảnh
hướng tới mối quan hệ trên (Calderon et al., 2000). Cụ thể, xu hướng trong
tỷ giá hối đoái thực tế có thể làm phức tạp thêm mối quan hệ này nếu nó có
ảnh hưởng khác nhau tới NFA và GDP (Debelle & Faruqee, 1996).
Cũng có sự khác nhau giữa nước đi vay và nước cho vay trong mối
quan hệ giữa NFA và CA. Kraay & Ventura (2003) lập luận rằng những
dấu hiệu của tài khoản vãng lai với những cú sốc tạm thời phụ thuộc vào
phần tài sản nước ngoài (đi vay hoặc cho vay) trên tổng tài sản trong nước
của một quốc gia. Theo một số giả định, họ cho rằng phản ứng của tài
khoản vãng lai trước những cú sốc tạm thời bằng sự gia tăng tiết kiệm được
tạo ra trong thời gian xảy ra cú sốc. Quy tắc này ngụ ý rằng với một cú sốc
có lợi sẽ tạo ra thâm hụt cán cân vãng lai đối với nước đi vay và thặng dư ở
nước cho vay.
Cách tiếp cận liên thời kỳ cũng cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế đóng
một vai trò quan trọng trong giải thích sự phát triển dài hạn sự phát triển tài
khoản vãng lai thông qua mức độ của xu hướng tiết kiệm. Đặc biệt, sự đánh
giá cao của tỷ giá hối đoái thực làm tăng sức mua hàng hoá nhập khẩu bằng
cả thu nhập hiện tại và tương lai. Hiệu ứng này gây ra xu hướng tăng tiêu
dùng và giảm tiết kiệm, do vậy làm giảm số dư tài khoản vãng lai.
Ngoài ra cách tiếp cận này chỉ ra rằng có thể xác định tài khoản vãng
lai thông qua tập trung rõ hơn vào phần còn lại trong cán cân thanh toán đó
là tài khoản vốn. Trong một nền kinh tế mở, tài khoản vốn có thể bị ảnh
hưởng bởi đặc điểm các quốc gia và sự phản ứng lại đối với các chính sách
20
bằng lớn trong cán cân vãng lai toàn cầu, bắt đầu có nhiều nghiên cứu hơn
xem xét cán cân vãng lai theo cách tiếp cận liên thời kỳ như của Calderon,
Chong & Loayza (2000); Karaay & Vetura (2003); Chinn & Prasad
(2003); M. Busière, M. Fratzscher & G. J. Muller (2004) ; Gruber &
Kamin (2005); Chinn & Ito (2007, 2008); Lucun Yang (2011) v.v. Hầu hết
các nghiên cứu đều chỉ ra một nhóm các biến số có ảnh hưởng tới cán cân
vãng lai trong ngắn và dài hạn bao gồm: quy mô ban đầu của tài sản nước
ngoài ròng; độ mở thương mại; tỷ giá thực hữu hiệu; thu nhập tương đối;
tốc độ tăng trưởng; tỷ giá thương mại; phát triển tài chính;... ngoài ra còn
có yếu tố khác như chính sách và thể chế (Chinn & Ito 2008). Tuy nhiên do
mỗi khu vực kinh tế lại có các đặc điểm riêng biệt nên tác động của các
nhân tố này tới cán cân vãng lai là có thể khác nhau.
2.1 Quy mô ban đầu của tài sản nước ngoài ròng (NFA)
Chinn & Prasad đã tìm thấy mối quan hệ tích cực của NFA tới cán
cân vãng lai khi nghiên cứu số liệu của 18 nước công nghiệp và 71 nước
đang phát triển giai đoạn 1971-1995. Strom & Cashin (2011) cũng kết luận
rằng NFA tác động tích cực tới tài khoản vãng lai. Lucun Yang (2011) nhận
thấy tác động của NFA là quan trọng hơn trong giải thích sự thay đổi dài
hạn của cán cân vãng lai. Tuy nhiên, theo kết quả khi nghiên cứu trên 8 nền
kinh tế mới nổi châu Á thì lại có sự khác nhau giữa các nước, một số nước
có mối quan hệ cùng chiều như Hồng Kông, Hàn Quốc, Ấn Độ trong khi
các nước còn lại thì lại có mối quan hệ ngược chiều. Ngoài ra, nghiên cứu
này cũng tìm thấy mối quan hệ ngược giữa cán cân vãng lai tới NFA trong
trường hợp của Trung Quốc. Haddad & Nedeldjkovic (2012) lại tìm thấy
mối quan hệ ngược chiều giữa NFA và CA trong trường hợp của Thổ Nhĩ
Kỳ, tuy nhiên ảnh hưởng của NFA tới thâm hụt cán cân vãng lai là tương
đối nhỏ.
22
23
quả nhận được ngụ ý một số vai trò của chính sách tỷ giá trong việc điều
chỉnh bên ngoài (Haddad & Nedeldjkovic, 2012).
2.4 Giai đoạn phát triển kinh tế
Thông thường để xem xét mức độ phản ánh giai đoạn phát triển kinh
tế của một quốc gia người ta thường xem xét tốc độ tăng trưởng và/hoặc
thu nhập tương đối so với các quốc gia phát triển.
Chinn & Prasad (2003) chỉ ra hiệu ứng dương của thu nhập tương đối
và hiệu ứng âm của bình phương biến này. Điều này hàm ý rằng khi thu
nhập tương đối tăng có thể cán cân vãng lai sẽ được cải thiện nhưng mức
độ giảm dần. Tuy nhiên Chinn & Ito (2008) lại chỉ thấy mối tương quan
dương trên khu vực các nước công nghiệp còn các nước đang phát triển lại
không thấy được mối quan hệ này. Haddad & Nedeldjkovic (2012) cũng
tìm thấy kết quả tương đồng khi nghiên cứu yếu tố này tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngược lại, Aristovnik (2007) lại phát hiện được tương quan âm giữa thu
nhập tương đối (so với thu nhập khối OECD) của khu vực Trung Đông và
Bắc Phi (MENA) với cán cân vãng lai. Lucun Yang (2011) lại tìm thấy tác
động tích cực ở một số nước và tác động tiêu cực ở một số nước trong dài
hạn, tuy nhiên tác động này nhỏ hơn tác động của NFA hay độ mở thương
mại.
Calderon, Chong & Loayza (2000) khi nghiên cứu các nước đang phát
triển nhận thấy tăng trưởng kinh tế góp phần làm gia tăng thâm hụt cán cân
vãng lai. Haddad & Nedeldjkovic (2012) cũng ước lượng được 1% tăng
trưởng làm giảm cán cân vãng lai 0,11% GDP tại Thổ Nhĩ Kỳ. Chinn &
Prasad (2003) không tìm thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng với cán cân
vãng lai với toàn bộ mẫu tuy nhiên khi xem xét trong khu vực các nước
công nghiệp lại cho thấy tương quan dương khá mạnh. Aristovnik (2007)
cũng chỉ ra tăng trưởng kinh tế giúp cải thiện cán cân vãng lai của khu vực
MENA, kết quả này tương đồng với kết quả của Chinn & Prasad.
25
thêm 10% GDP sẽ làm giảm cán cân vãng lai 1,8% GDP (Haddad &
Nedeldjkovic, 2012). A. Aristovnik (2007) cũng chỉ ra mối quan hệ ngược
chiều này khi ước lượng GMM, FGLS đối với 17 nước khu vực Trung
Đông - Bắc Phi.
2.7 Tỷ giá thương mại
Một biến số vĩ mô nữa cũng có tác động lớn tới hoạt động xuất nhập
khẩu do đó ảnh hưởng tới cán cân thương mại cũng như cán cân vãng lai đó
là tỷ giá thương mại. Những cú sốc TOT tích cực có thể cải thiện cán cân
thương mại. Tuy nhiên, một hàm ý trong phương pháp tiếp cận liên thời kỳ
là phản ứng của tài khoản vãng lai đối với các cú sốc về TOT phụ thuộc
vào ảnh hưởng lâu dài của những cú sốc. Nếu tồn tại lâu dài thì hiệu ứng
đầu tư sẽ cao hơn hiệu ứng tiết kiệm, khiến cán cân thương mại xấu đi
(Kent và Cashin, 2003). Các kết quả thực nghiệm về tác động của TOT, thu
nhập tương đối và tăng trưởng đối với cán cân thương mại có thể có ý
nghĩa đối với hành vi tiết kiệm - đầu tư của quốc gia và sẽ có ngụ ý liên
quan đến cơ cấu nền kinh tế.
Tỷ giá thương mại tăng có tác động tích cực tới tài khoản vãng lai khu
vực đang phát triển nhưng lại có tác động tiêu cực tới các nước công
nghiệp phát triển (Chinn & Prasad, 2003). Strom & Cashin (2011) cũng
tìm thấy mối tương quan dương giữa TOT và cán cân vãng lai, trong đó các
nước xuất khẩu dầu là khá lớn và thấp hơn ở các nước thu nhập thấp (khu
vực MENA). Kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ (Haddad
& Nedeldjkovic, 2012).
2.8 Một số biến số khác
Ngoài ra trong một số nghiên cứu các tác giả còn xem xét tác động
của các biến số như giá dầu (Aristovnik, 2007); các biến chính sách, thể chế
(Chinn & Ito, 2008); tăng trưởng ở các nước công nghiệp phát triển hay là
OECD... tuỳ theo đặc điểm của từng khu vực nghiên cứu cụ thể. Thậm chí