Đại học Kinh tê quôc dân
21
Chuyên đề thực tập
Chương 2: Thực trạng cho
vay
tiêu
dùng tại Ngân hàng Ngoại thương
LỜI
MỞ
ĐẦU
Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long.
Chương 3: Các giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam - Chi nhảnh Thăng Long.
Từ sau đối mới đến nay, nền kinh tế của nước ta đã có những bước chuyển
mình vĩ đại. Những thành tựu mà nền kinh tế đạt được đã làm thay đối bộ mặt
Với đề tài này em hy vọng những lý luận và thực tiễn về cho vay tiêu dùng
của đất nước ta. Những thành tựu ấy đã làm cho đời sống nhân dân ta được nâng
trong đề tài sẽ giúp ích cho những người quan tâm đến việc mở rộng hoạt động
lên một cách rõ rệt. Làm thay đổi hoàn toàn nhu cầu cũng như mong muốn của
cho vay tiêu dùng.
con người. Từ nhu cầu “ăn no, mặc ầm” đến nay đã thay đổi thành “ăn ngon,
mặc đẹp”. Theo đó nhu cầu về các cơ sở vật chất, tiện nghi tiêu dùng ngày càng
tăng lênEm
rõ xin
rệt. cảm
Các ơn
nhucôcàu
về TS
năngViệt
tài Nam
chính - trong
hiện tạiThăng
đế thoả
mãncùng
nhu các
cầu anh
của chi
mìnhcông
ngaytác
lậptrong
tức.
thương
Chi nhánh
Long
Nắm
được
cơ và
hội Quan
này, các
đã đã
đưagiúp
ra hình
chonhiều
vay tiêu
dùng.
phòngbắt
Tín
dụng
Tống quan về ngân hàng thương mại và các hình thức cho vay
trong
ngân hàng thương mại.
1.1.1.
Khái niệm CO’ bản về ngân hàng thương mại:
1.1.1.1.
Khái niệm
Ngân hàng thương mại được hiểu một cách tổng quát là một trung gian tài
chính hoạt động trên lĩnh vực đặc biệt đó là kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ
ngân hàng.
Thật vậy, Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính quan trọng nhất
của nền kinh tế, đóng vai trò thủ quỹ của toàn xã hội. Hàng triệu cá nhân, hộ gia
đình, doanh nghiệp, các tố chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại Ngân hàng.
Đồng thời, Ngân hàng cũng là tố chức cho vay chủ yếu đối với các doanh
nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần với chính phủ. Trong đó, đối với các
doanh nghiệp, Ngân hàng thường cung cấp các khoản tín dụng phục vụ cho nhu
cầu mua hàng hoá, dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị. Khi
doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá
và dịch vụ thì họ thường sử dụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng và các tài khoản
điện tử... Và khi họ cần thông tin hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến
Ngân hàng để được tư vấn.
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
5
Chuyên đề thực tập
vay các loại ngoại tệ với các nghiệp vụ như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền
chọn và tương lai. Các ngân hàng thương mại tham gia giao dịch ngoại hối với
hai mụch đích. Một là, ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng, chủ yếu là
mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng riêng lẻ, và ngân hàng thu một khoản
phí. Hai là, ngân hàng kinh doanh ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá thay đối.
-
Hoạt động huy động vốn:
Các Ngân hàng cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền
kinh tế để duy trì hoạt động và phát triền cần vốn. Nguồn vốn của Ngân hàng
gồm có vốn tiền gửi, vốn tiền vay, vốn chủ sử hữu và vốn uỷ thác đầu tư. Đe
thực hiện hoạt động này Ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành các giấy nợ hoặc cổ
phiếu với cam kết sẽ hoàn trả khách hàng đúng hẹn kèm theo một khoản tiền gọi
là tiền lãi. Việc huy động được càng nhiều vốn sẽ càng tạo điều kiện cho Ngân
hàng mở rộng kinh doanh do đó các Ngân hàng luôn tìm kiếm các nguồn vốn với
chi phí thấp và ổn định, đa dạng hoá các hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy nợ
nhằm thu hút được nhiều vốn trong nền kinh tế.
-
Ngân hàng thương mại có thế cho các tố chức, cá nhân vay ngắn hạn nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đời sống và cũng có thể cho các tố
chức, cá nhân vay trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh.
Khi nhắc đến hoạt động cho vay của ngân hàng thì không ít người thường
đồng nhất với tín dụng. Thực ra không phải như vậy, hoạt động cho vay là một
bộ phận của tín dụng ngân hàng bởi vì trong tín dụng ngân hàng còn bao hàm
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
7
Chuyên đề thực tập
bên đi vav có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi
đến hạn thanh toán”.
Đối với phần lớn các ngân hàng thì khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá
trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/3 đến 1/2 thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên rủi ro
trong hoạt động ngân hàng lại tập trung vào danh mục các khoản cho vay.
1.1.2.2.
Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Đe phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại thì có rất nhiều
tiêu thức để phân loại như: Phân loại theo thời gian, theo tài sản đảm bảo, theo
tranh trên thị trường tài chính.
1.2.
Hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thưong mại
1.2.1.
Khái niệm và đặc điếm của cho vay tiêu dùng
1.2.1.1.
Khái niệm
Hoạt động cho vay tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng( người
cho vay) và các cá nhân, người tiêu dùng( người đi vay) nhằm tài trợ cho các
phương án phục vụ đời sống, tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ khi người
tiêu dùng chưa có khả năng thanh toán trên nguyên tằc người tiêu dùng sẽ hoàn
trả cả gốc và lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai.
Neu như cho vay sản xuất kinh doanh là hình thức tín dụng mà trong đó
ngân hàng thương mại cấp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm tài
trợ cho các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh... thì cho vay tiêu dùng
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
9
Chuyên đề thực tập
10
Chuyên đề thực tập
đã được kiếm toán). Hơn nữa, cá nhân và hộ gia đình không thể dễ dàng vượt
qua các khó khăn về tài chính so với một hãng kinh doanh. Đấy là chưa kể đến
những trường hợp người đi vay cố tình lừa đảo. Trong những trường hợp như
vậy thì dù có nắm giữ tài sản đảm bảo hay không thì các Ngân hàng vẫn phải đối
mặt với rủi ro giảm thu nhập.
- Lãi suất cao
Cho vay tiêu dùng là một khoản đem lại lợi nhuận rất cao cho các Ngân
hàng với lãi suất “cứng nhắc” tức nó đủ đế bù đắp chi phí huy động vốn của
Ngân hàng và có một khoản lãi cần thiết. Không như hầu hết các khoản cho vay
kinh doanh, lãi suất cho vay thường biến động theo điều kiện thị trường, như vậy
với cho vay tiêu dùng Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động
vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao đến
mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tốn thất tín dụng phải
tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi
nhuận.
Lý do chính khiến các khoản vay tiêu dùng có lãi suất cao nhất trong
thang lãi suất cho vay của Ngân hàng đó là do chi phí và rủi ro của các khoản
vay tiêu dùng là cao nhất trong các loại cho vay của Ngân hàng. Tất nhiên đây
cũng không phải là lý do đặc biệt gì vì đó luôn là nguyên nhân chính làm cho giá
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
Đại học Kinh tê quôc dân
12
Chuyên đề thực tập
Tương ứng với mức rủi ro cao như vậy thì các khoản tín dụng tiêu dùng có
được một mức lợi nhuận rất lớn trong các nguồn thu của ngân hàng. Bên cạnh
đó, số lượng các khoản vay tiêu dùng khá nhiều khiến cho tổng quy mô cho vay
tiêu dùng rất lớn, và cùng với mức lợi nhuận trên mỗi khoản vay tiêu dùng sẽ
khiến cho lợi nhuận thu về từ hoạt động cho vay là rất đáng kế trong tồng lợi
nhuận của ngân hàng.
Chính vì triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi về đối tượng khách
hàng trong lĩnh VỊTC này mà đối với hầu hết các nước phát triển hiện nay, cho vay
tiêu dùng đã trở thành một trong những nguồn thu chủ chốt của các ngân hàng
thương mại, đóng vai trò chủ đạo trong dịch vụ ngân hàng cũng như quản lý
ngân hàng và vẫn còn tiếp tục hứa hẹn nhiều triển vọng trong việc phát triển loại
hình tín dụng này trong tương lai. Tại các nước đang phát triển, loại hình cho
vay này cũng đang dần khắng định được vai trò của mình, đem lại những lợi
nhuận không nhỏ trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
1.2.2.
Đối tượng của cho vay tiêu dùng
Do cho vay tiêu dùng là một hướng cho vay cụ thể của ngân hàng bán lẻ
nên cách phân loại khách hàng cá nhân cũng tương tự như cách phân loại khách
hàng cá nhân theo nhóm thu nhập của ngân hàng bán lẻ. Cụ thể là khách hàng cá
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
14
Chuyên đề thực tập
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng. Do vậy, khách hàng của cho vay tiêu dùng cũng chính là
người tiêu dùng, đặc biệt là những người có thu nhập trung binh. Nhờ những
khoản cho vay tiêu dùng, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị
cao, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài
chính hiện tại của họ không cho phép.
Thực tế, đối với cá nhân và hộ gia đình thường nảy sinh nhiều nhu cầu
mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống. Ví dụ như
nhu cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt,
mua sắm các phương tiện như xe máy, ôtô, du lịch, học hành...
Mặc dù những nhu cầu thiết yếu thì nhiều nhưng của cải thì được tích luỹ
theo thời gian, do vậy khả năng tài chính thường bị giới hạn. Vì vậy mà làm nảy
sinh một sự thật là người ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt sau một
khoản thời gian dài tích luỹ. Khi đó lợi ích cảm nhận được từ sự hưởng thụ sẽ ít
đi. Do vậy người tiêu dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo giữa việc thoả mãn
các nhu cầu với yếu tố thời gian và khả năng thanh toán trong hiện tại và tương
lai. Điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tìm cách để hưởng thụ trước số tiền
sẽ có trong tương lai. Neu ta phân tích theo khía cạnh tài chính thì việc mượn
hiệu quả. Như vậy để tăng tính cạch tranh của ngân hàng thương mại thì cần phải
phát triển một cách toàn diện hoạt động của ngân hàng cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu, trong đó cho vay tiêu dùng đóng một vai trò quan trọng trong việc xây
dựng chiến lược cạnh tranh của ngân hàng. Hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ là
tăng thu nhập của ngân hàng, mở rộng và tăng cường mối quan hệ giữa ngân
hàng với doanh nghiệp, tăng cường khả năng cạnh tranh cũng như tạo hình ảnh
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
16
Chuyên đề thực tập
nhu cầu về tín dụng của nền kinh tế. Vì vậy, sẽ là sai lầm và thiếu sót nếu bỏ qua
thị trường khách hàng cá nhân. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng thương mại
không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng những
khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô nhỏ và rủi ro vờ nợ cao do đó làm
cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế kỷ XX, các ngân hàng thương
mại bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tiến hành cho vay
thương mại. Và rồi, sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho
vay đã buộc các Ngân hàng phải hướng vào người tiêu dùng như là một khách
hàng trung thành. Sau thế chiến thứ hai, cho vay tiêu dùng đã trở thành một trong
những loại hình có mức tăng trưởng nhanh nhất. Các Ngân hàng tiếp tục phát
triển và trở thành tổ chức cấp tín dụng chính trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
Như vậy, phát triển cho vay tiêu dùng là một biện pháp tốt để mở rộng thị trường
cho các ngân hàng thương mại.
Với những lợi ích trên, phát triển cho vay tiêu dùng là hướng đi rất đúng
đắn của các ngân hàng thương mại.
1.2.3.3.
Vai trò của cho vay tiêu dùng đối vói nhà sản xuất
Lợi ích của nhà sản xuất là cùng với sự gia tăng nhu cầu có khả năng
thanh toán của người tiêu dùng, là gia tăng cầu về hàng hoá dịch vụ, qua đó làm
tăng quy mô thị trường về hàng hoá dịch vụ. Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ bán
được nhiều hàng hóa hơn, cũng như đẩy nhanh được quá trình bán hàng, tăng
vòng quay hàng tồn kho, giảm các khoản phải thu, từ đó làm tăng thu nhập và
tăng độ an toàn trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó cho vay tiêu dùng cũng
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
18
Chuyên đề thực tập
nền kinh tế. Cùng với nó là hàng loạt các vấn đề xã hội được giải quyết như tạo
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, giúp họ cải thiện mức sống,
giảm tệ nạn xã hội, góp phần quan trọng đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi... và làm
tăng tiết kiệm quốc gia. Tuy nhiên cần phải đặc biệt chú ý tới tác dụng phụ của
tăng cầu, đó là khi xảy ra lạm phát mà lại tăng cầu thì đó là một điều không tốt
và sẽ làm cho nền kinh tế trở nên quá nóng.
Tóm lại, hoạt động cho vay tiêu dùng ra đời là một tất yếu, phù hợp với sự
phát triển của xã hội và tuân theo quy luật kinh tế. Có thể nói phát triển cho vay
Thông thường thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ cao hơn nếu tài sản
hình thành từ tiền vay đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong
tương lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng thường chú ý đến điều này vì
ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời
hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn. Bởi vì, có như vậy thì người tiêu dùng
mới được hưởng những tiện ích do tài sản đem lại trong một khoảng thời gian
dài.
+ Thứ hai: số tiền phải trả trước
Nói chung thì các ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toán
trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm( số tiền này được gọi là số tiền trả
trước). Phần còn lại, ngân hàng sẽ cho vay. số tiền trả trước cần phải đủ lớn để
một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng chính họ là chủ sở hữu tài sản, mặt khác
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
20
Chuyên đề thực tập
Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số
tiền trả trước nhiều và ngược lại, đối với các tài sản có mức độ giảm
giá chậm thì số tiền trả trước ít.
Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng.
Môi trường kinh tế.
bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời gian vay, sau đó
cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán để tìm
số tiền phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn trả nợ.
-0- Phương pháp lãi đơn( Simple Interest Method): Theo phương pháp
này, vốn gốc người đi vay phải trả cho từng kỳ hạn trả nợ được tính
đều nhau bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh
toán. Còn lãi phải trả mỗi kỳ hạn được tính trên số tiền khách hàng
thực sự còn nợ ngân hàng.
• Cho vay tiêu dùng phi trả góp( Noninstallment Consumer Loan)
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
22
Chuyên đề thực tập
- Căn cử vào nguồn gốc các khoản nợ.
• Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua
những khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay
dịch vụ cho nguời tiêu dùng. Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua
bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều khoản về đối tượng
khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. Công
+ Trong trường hợp ngân hàng có mối quan hệ tốt với các công ty bán lẻ
thì cho vay tiêu dùng sẽ có tính an toàn cao hơn, giúp ngân hàng giảm bớt rủi ro.
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
-
24
Chuyên đề thực tập
Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này, khi bán cho ngân hàng
các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết
sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn
người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
-
Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công
ty bán lẻ đối với các khoản nợ của người tiêu dùng mua chịu không
thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào
các điều khoản đã thoả thuận giữa ngân hàng và công ty bán lẻ.
-
Tài trợ miễn truy đòi: Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ.
(4) Công ty giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
So với cho vay tiêu dùng gián tiếp thì cho vay tiêu dùng trực tiếp có một
số ưu điểm sau:
Lê Hoàng Vỹ
Đại học Kinh tê quôc dân
26
Chuyên đề thực tập
dùng, không liên quan tới công ty bán lẻ. Khách hàng không trả được nợ thì phần
lớn là không liên quan tới công ty bán lẻ.
+ Khi khách hàng có quan hệ tín dụng trục tiếp từ ngân hang thì có rất
nhiều lợi thế phát sinh như: Ngân hàng có thế mở rộng quan hệ với khách hàng,
tạo ra hình ảnh tốt đẹp về ngân hàng đối với khách hàng. Còn đối với khách hàng
thì khách hàng có cơ hội tiếp cận được với nhiều dịch vụ ngân hàng hơn.
Cho vay tiêu dùng trự’c tiếp được thực hiện theo các phương thức sau:
+ Tín dụng trả theo định kỳ: