BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------------------
Nguyễn Thị Mỹ Hương
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ XUÂN HỘI
Thành phố Hồ Chí Minh, 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Hương
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này không phải chỉ có công sức của riêng tôi mà tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt thành từ thầy cô, bạn bè và người thân.
Tôi cảm ơn Ban chủ nhiệm và các thầy cô khoa Vật Lí, cùng các thầy cô phòng Khoa học công
nghệ và Sau đại học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi được học
cho mình những kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng sống hợp tác, giao tiếp hiệu quả…
Thực trạng giáo dục Việt Nam trong những năm qua cho thấy: không thiếu các trường đã đầu tư
đúng mức, kịp thời cho các HĐNK, nhất là các hoạt động thể dục thể thao, các buổi ngoại khóa văn học,
hóa học, vật lí, ngoại ngữ, …Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà hiện nay HĐNK vẫn còn là
niềm mơ ước xa vời của nhiều trường, bao gồm một số các trường chuyên trong cả nước.
Mặt khác, theo một khảo sát về khoảng cách IQ-EQ dành cho HS trường chuyên do Viện nghiên
cứu giáo dục – Đại học sư phạm TP.HCM [38] thực hiện cho thấy: HS các trường chuyên có các điểm
mạnh về năng lực tư duy, trong đó óc suy diễn, sự tưởng tượng được đánh giá rất cao mà theo HS là do
thường vận dụng các năng lực này cho việc học. Hơn nữa, HS có thể làm việc dưới áp lực cao, có nhiều
cảm thông với người khác, có sự rõ ràng quả quyết trong việc làm của mình và có nhận thức cá nhân cao.
Nhưng chính điều này đã làm HS các trường chuyên có tính cách quyết đoán, ít chịu nhân nhượng. HS
chuyên có khả năng nhận thức được bản thân, đây là một kĩ năng không dễ có vì HS cần nhiều can đảm để
đối diện với sự thật về bản thân như vẻ ngoài hay những hạn chế của chính mình, từ đó các bạn tự nhận ra
được trạng thái căng thẳng hay tình trạng bị ức chế để ứng phó kịp thời. Tuy nhiên, kĩ năng xã hội của
những HS này chiếm vị trí thấp trong mười ba tiêu chí đánh giá EQ. HS chuyên có thể thông cảm với
người “không bằng mình” nhưng lại không thể chấp nhận có người “hơn mình” và chính tư duy này đã
cản trở những nỗ lực nhằm phát huy tiềm năng của họ, đặc biệt làm cho các kĩ năng hợp tác và làm việc
nhóm không được phát huy đúng mức.
Từ những phân tích nêu trên và trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, tác giả đã vận dụng các cơ
sở lí luận cơ bản của HĐNK vào việc tổ chức các HĐNK cho môn vật lí ở trường THPT. Vấn đề nghiên
cứu đặt ra là: Làm thế nào để những HĐNK môn vật lí thực sự trở thành những hoạt động đa dạng nhằm
giúp HS không chỉ củng cố kiến thức vật lí mà còn chiếm lĩnh các kĩ năng sống là những kĩ năng hết sức
cần thiết cho sự thành công của con người trong thời đại ngày nay?
Để trả lời cho câu hỏi này, đề tài đã nghiên cứu xây dựng những mô hình cụ thể cho HĐNK môn
vật lí ở trường THPT chuyên LTV (Đồng Nai), giúp cho GV có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của
hoạt động giáo dục ngoại khóa môn vật lí đối với HS và ngay cả bản thân GV; hỗ trợ cho GV các thông
tin cần thiết nhằm giúp họ có thêm niềm tin và cơ sở để vận dụng nó vào thực tiễn dạy học ở phổ thông.
2. Mục đích nghiên cứu
các trường phổ thông phải chú trọng, vì thế mà nhu cầu về HĐNK là vô cùng cấp thiết.
Kiến thức vật lí phổ thông cổ điển ngày nay đã nằm trong nguyên tắc của nhiều ứng dụng kỹ thuật
phổ biến trong đời sống. Tuy nhiên, vì giờ học chính khóa có hạn nên GV không thể dẫn dắt HS tìm hiểu
hết được. Do đó, các HĐNK cho môn vật lí cần được nghiên cứu tổ chức.
GV vật lí với số giờ dạy chuyên môn nhiều nên không còn đủ thời gian và công sức để nghiên cứu
tổ chức nhiều HĐNK đa dạng, nên đề tài này được nghiên cứu cũng là để hỗ trợ phần nào cho các GV vật
lí trong việc chọn lựa các kiến thức vật lí phổ thông thích hợp cùng với cách thức tổ chức, tiến hành các
HĐNK môn vật lí sao cho đạt hiệu quả cao.
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN VẬT LÍ
Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Mục tiêu giáo dục môn vật lí hiện nay
MTGD là một hệ thống các chuẩn mực của mẫu hình nhân cách cần hình thành ở một đối tượng
người được giáo dục nhất định. Đó chính là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại,
trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng giáo dục. Do đó MTGD phụ thuộc vào
mỗi thời kì nhất định của quá trình phát triển xã hội và mỗi giai đoạn của quá trình giáo dục con người.
MTGD môn học vật lí ở PTTH của Việt Nam: [32]
* Mục tiêu kiến thức:
- Những khái niệm tương đối chính xác về sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí thường gặp.
- Những định luật, nguyên lí vật lí quan trọng nhất.
- Những nét chính của các thuyết vật lí.
- Những hiểu biết cần thiết về phương pháp thực nghiệm, mô hình.
- Nguyên tắc cơ bản thuộc những ứng dụng quan trọng của vật lí trong đời sống và sản xuất.
* Mục tiêu kĩ năng:
- Thu thập thông tin từ quan sát, thí nghiệm, từ tài liệu …
- Xử lí thông tin về vật lí
MTGD môn học vật lí, chúng ta nhận thấy có những điểm khác biệt:
- Các chiến lược dạy học hiện đại coi trọng sự phát triển hiểu biết vượt ra khỏi khuôn khổ chương trình
học.
- Coi trọng việc rèn luyện những kĩ năng chung, cần thiết có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề khác
nhau không chỉ riêng trong lĩnh vực vật lí.
- Coi trọng việc rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết cho sự thành công của con người trong thời đại ngày
nay.
- Coi trọng sự phát triển đa dạng của nhân cách người học.
Những mục tiêu trên rất tích cực và cần thiết cho sự phát triển lâu dài của con người. “Vậy làm thế
nào để việc dạy học vật lí nói riêng và các môn học khác nói chung đạt được nhiều MTGD tích cực, giúp
ích cho sự phát triển của HS?” là câu hỏi mà việc đổi mới phương pháp dạy học phải cố gắng trả lời.
Tổ chức lại nội dung dạy học, thay đổi cách thức tổ chức của quá trình dạy học, áp dụng một cách
sáng tạo và linh hoạt các chiến lược dạy học tích cực vào thực tiễn có thể là cách làm phù hợp trong thực
tiễn hiện nay. Tuy nhiên, không thể hoàn thành tốt các MTGD chỉ bằng hoạt động lên lớp – là hoạt động
dạy học được tiến hành theo chương trình và kế hoạch dạy học các môn học – mà còn phải thông qua các
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục
không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện
trên lớp học mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước ta…”- Makarenco – nhà sư phạm nổi
tiếng của nước Nga đầu thế kỷ XX cũng đã từng nói như thế, nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào cũng
không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có hình thức đa dạng và nội dung phong phú với phương tiện,
điều kiện, hoàn cảnh gần gũi với HS, là môi trường lí tưởng trong việc giáo dục toàn diện con người mới.
1.2. Mục tiêu giáo dục của HĐNK môn vật lí
1.2.1. Khái niệm hoạt động ngoại khóa
HĐNK là một hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp nhằm mục đích
bổ trợ cho hoạt động giáo dục trên lớp trong việc củng cố và mở rộng những kiến thức đã học, cung cấp
và rèn luyện các kĩ năng sống, cùng những phẩm chất tốt đẹp của con người thời đại mới cho cả GV và
HS [16].
định.
- Thầy và trò có mối quan hệ tốt, làm cho việc dạy và học thuận lợi hơn.
1.2.2.2. Đối với giáo viên
- Củng cố, nâng cao hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.
- Hướng tới việc gắn kết tình cảm, sự quan tâm lẫn nhau trong tập thể môi trường sư phạm giữa thầy
– thầy, trò – trò, thầy – trò.
- Rèn luyện, bồi dưỡng các kĩ năng tổ chức HĐNK. Để tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung đạt
kết quả, GV cần phải có một hệ thống kĩ năng tổ chức. Đó là một hệ thống các kĩ năng từ xác định mục
tiêu của hoạt động đến việc thiết kế chương trình và kế hoạch tổ chức hoạt động, từ kĩ năng thực hiện triển
khai hoạt động, kĩ năng tiếp cận và huy động lực lượng quần chúng đến kĩ năng kiểm tra đánh giá và điều
chỉnh hoạt động [25].
1.3. Đặc điểm HĐNK môn vật lí ở trường phổ thông hiện nay
1.3.1. Thực trạng [31]
Trong những năm qua HĐNK ở các trường THPT thường gắn với ngoại khóa chuyên môn. Không
ít các trường đã xây dựng được kế hoạch HĐNK cụ thể cho nhiều phân môn Văn, Toán, Lí, Hóa, Sinh,
Sử, Địa, Giáo dục công dân và các hoạt động hướng nghiệp. Ví dụ như trường THPT Mạc Đĩnh Chi;
Nguyễn Thượng Hiền; Võ Trường Toản (TP. Hồ Chí Minh); LTV (Biên Hòa); Nguyễn Du (Đaklak)…
Tuy nhiên, phần lớn các trường còn chưa thực sự chú trọng đến lợi ích mà HĐNK đem lại, chưa có
kế hoạch tổ chức cụ thể và xuyên suốt. HĐNK cho môn vật lí cũng không nằm ngoài những hạn chế đó.
1.3.2. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của các HĐNK nói chung, cũng như đối
với HĐNK cho môn vật lí nói riêng:
- Một số cán bộ, GV, phụ huynh và HS chưa nhìn nhận đúng đắn vai trò của HĐNK nên trong quá trình
tổ chức, chỉ đạo và quản lí các HĐNK còn nhiều hạn chế như:
+ Ban giám hiệu các trường học phần lớn chỉ tập trung cho giờ học chính khóa và quan niệm ngoại
khóa chỉ là vui chơi, giải trí.
+ Hình thức hoạt động còn đơn điệu: thiết kế các thí nghiệm đơn giản (tên lửa nước, pin chanh …),
thực hiện các cuộc thi đố em truyền thống…
- Chăm lo đến việc xây dựng cơ sở vật chất, môi trường sư phạm và đổi mới công tác thi đua khen
thưởng.
* Theo Th.S Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang (Trung tâm Đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục,
Viện nghiên cứu giáo dục) thì HĐNK phải được nhìn nhận từ góc độ lợi ích của người học, đề cao mục
tiêu rèn luyện các kĩ năng cá nhân của người học. Mục tiêu mở rộng và khắc sâu kiến thức chỉ nên xem là
thứ yếu.
* GV Đào Thị Kim Như (trường THPT Võ Trường Toản) đã nêu một số kiến nghị như sau:
- Miễn vé cho HS vào tham quan các nhà Bảo tàng, khu di tích lịch sử, giảm vé khu vui chơi trên địa
bàn thành phố.
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng công tác ngoại khoá trong nhà trường phổ thông.
- Tổ chức các chương trình gameshow mang tính trí tuệ nhằm tạo sân chơi lành mạnh và tạo điều
kiện cho HS có cơ hội phát huy khả năng cá nhân…
1.3.4. Giải pháp đề nghị đối với HĐNK môn vật lí
Dựa trên nội dung của các bản tham luận có trong kỉ yếu hội thảo đã nói ở trên, cùng với những tìm
hiểu thực tế về HĐNK môn vật lí ở một số trường THPT, để nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt
động này, chúng tôi đề nghị các giải pháp sau:
1.3.4.1. Về phía nhà trường
- Đầu tư kinh phí hợp lí cho các HĐNK, nâng cấp phòng thí nghiệm và phòng bộ môn vật lí, thư viện
cần đa dạng các tài liệu bổ sung kiến thức vật lí phổ thông.
- Dành nhiều thời gian hơn cho GV, có kế hoạch kiểm tra, đánh giá HĐNK đối với GV chịu trách
nhiệm tổ chức HĐNK, tránh việc tổ chức tùy tiện.
- Xét cấp cho HS những chứng chỉ đã tham gia HĐNK do nhà trường và GV tổ chức, nhằm khuyến
khích HS tham gia các hoạt động đầy ý nghĩa này.
- Để thu hút HS, các tổ bộ môn cũng có thể phát tờ rơi quảng cáo về HĐNK của mình không chỉ cho
HS mà còn cho cả phụ huynh HS.
1.3.4.2. Về phía GV
- GV phải thật tâm huyết với nghề, với công việc ngoài giờ mà không có quy định nào bắt buộc.
- Nếu không có điều kiện tham gia các lớp bồi dưỡng kĩ năng tổ chức HĐNK thì cách hay nhất là tự
học trên sách báo, học hỏi kinh nghiệm từ những trường, những GV đã tổ chức thành công các HĐNK.
- Cần lập kế hoạch HĐNK chi tiết ngay từ đầu năm học.
+ Khối 11: 308 HS, 12 lớp
+ Khối 12: 257 HS, 10 lớp
- Tổng số lớp là 32, bình quân 25 HS/lớp
2.1.1.2. Tổ chuyên môn
Hình 2.1 Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
Trường có chín tổ chuyên môn: Toán; Tin; Vật lí; Hóa;
- Đồng Nai -
Văn; Sử - Địa; Sinh; Anh văn; GDCD - Công nghệ - Thể dục.
2.1.1.3. Các tổ chức khác
- Hội cha mẹ HS; Hội đồng sư phạm; Hội khuyến học; Hội đồng thi đua …
- Chi bộ Đảng; Công đoàn nhà trường; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
2.1.2. Cơ sở vật chất và thiết bị
- Khuôn viên nhà trường có diện tích 27.000 m2, tính bình quân 31,4m2/HS
- Cơ cấu các khối công trình trong trường gồm:
+ Khu phòng học, phòng thực hành bộ môn.
+ Khu phục vụ học tập:
Thư viện theo đúng tiêu chuẩn quy định hiện hành.
Một nhà truyền thống, sân bóng chuyền, bóng đá mini, bóng rổ, quần vợt...
+ Khu sân chơi.
+ Khu vệ sinh
2.1.3. Chất lượng giáo dục
2.1.3.1. Chất lượng giáo dục
- 97.83% HS toàn trường đạt hạnh kiểm tốt; 60,74% HS toàn trường đạt học lực giỏi; tỉ lệ đỗ tốt
nghiệp là 100%.
bàn ghế rời, thuận tiện cho việc sắp xếp theo nhiều hình thức hội họp: thảo luận nhóm, báo cáo chuyên đề.
Khó khăn:
- Lực lượng GV vật lí có trình độ chuyên môn cao nhưng thiếu kĩ năng tổ chức các HĐNK.
- Nửa số GV của tổ vật lí có tuổi đời và tuổi nghề đã nhiều nên thời gian và sức khỏe hạn chế. Những năm
gần đây, đã có một số GV trẻ được phân công về tổ, nhưng do vừa phải hoàn thành công tác giảng dạy
vừa học tiếp chương trình đào tạo sau đại học nên cũng chưa có cơ hội, điều kiện để tổ chức các HĐNK
cho môn vật lí.
- Một số GV còn xem nhẹ những lợi ích do HĐNK đem lại, tập trung nhiều cho các giờ học chính khóa
hay bồi dưỡng HS giỏi.
2.2. Tham khảo ý kiến của HS về HĐNK môn vật lí
2.2.1. Mục đích điều tra
Thăm dò ý kiến của HS các khối lớp 10, 11 về các nội dung liên quan đến việc tổ chức các HĐNK
môn vật lí.
2.2.2. Đối tượng, nội dung và phương pháp điều tra
2.2.2.1. Khách thể điều tra
Số lượng HS là 300 em thuộc trường THPT chuyên LTV bao gồm 200 HS khối 10 và 100 HS khối
11.
2.2.2.2. Nội dung điều tra
Nội dung điều tra được thiết kế gồm ba phần (phụ lục 2-I):
Phần A: Thông tin cá nhân
- Tìm hiểu thông tin của khách thể điều tra.
Phần B: Tìm hiểu sự hứng thú của HS đối với HĐNK môn vật lí 10
- Từ câu 1 đến câu 6: khảo sát về HĐNK mà HS đã từng tham gia
- Từ câu 7 đến câu 16: khảo sát ý kiến của HS đối với hình thức hoạt động của CLB vật lí.
Phần C: Đăng kí thành viên CLB vật lí
- Phần này dành riêng cho những HS muốn đăng kí làm thành viên CLB vật lí. Qua đó, có thể nắm
bắt sơ bộ số lượng HS mong muốn được tham gia hoạt động cùng CLB vật lí.
Số lượng
Không được phép của Không mang lại lợi ích
cha mẹ
cho bản thân
Tỉ lệ (%)
Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện lí do không tham gia HĐNK của HS
Song song với những lí do mà một số HS không thích tham gia HĐNK môn vật lí thừa nhận trong
bản khảo sát, người nghiên cứu đã thiết kế câu hỏi đóng số B5 (phụ lục 2-I) với mong muốn tìm hiểu về
những lí do tham gia HĐNK của HS và thông qua câu hỏi này để nhận biết những động cơ thực sự của HS
khi tham gia các HĐNK. Kết quả thu nhận được thể hiện ở hình 2.3. Đa phần những lí do như muốn tìm
hiểu sâu kiến thức, mở rộng kiến thức, rèn luyện sự tự tin, rèn luyện các kỹ năng, phát triển tư duy được
HS lựa chọn chiếm tỉ lệ khá cao so với các lí do còn lại. Điển hình như tỉ lệ phần trăm của lí do muốn hiểu
sâu kiến thức là 67.1% gấp 48 lần lí do đến tham gia HĐNK vì nghe lời bố mẹ. Điều này thể hiện những
mong muốn tích cực của hầu hết HS khi tham gia HĐNK. Tuy nhiên, vẫn có một số HS đến tham gia
ngoại khóa với những động cơ chưa được tích cực như: do bạn bè rủ rê hay chỉ muốn có cơ hội giao lưu…
B5
160
140
120
100
80
60
40
20
0
Không ý kiến
61%
Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện mong muốn trở thành thành viên CLB vật lí của HS
Ở câu hỏi số B6 (phụ lục 2-I), người nghiên cứu muốn tìm hiểu các hình thức HĐNK môn vật lí
được HS ưa thích, kết quả được trình bày ở hình 2.5. Những hình thức hoạt động được HS lựa chọn chiếm
tỉ lệ cao như: thiết kế thí nghiệm, trò chơi truyền hình, tham quan thực tế, trò chơi giải trí cho thấy xu
hướng “vui để học” được HS quan tâm nhiều hơn những hình thức mang tính nghiên cứu khoa học hoặc
đòi hỏi nhiều thời gian như tự chọn chủ đề, diễn tiểu phẩm hay hoạt động bản tin. Đặc biệt, ở hình thức
diễn tiểu phẩm, số lượng HS lựa chọn chỉ là 25, chiếm 13.3% và tự chọn chủ đề, số lượng HS lựa chọn là
42, chiếm 22.3% . Mặc dù hai hình thức này được người nghiên cứu đánh giá là những hình thức có thể
phát huy tốt nhất tính chủ động, sáng tạo và khơi dậy sự tự tin cũng như khả năng làm việc nhóm của HS.
Do vậy, nếu người nghiên cứu muốn áp dụng hình thức này vào trong quá trình tiến hành các HĐNK ở
giai đoạn sau thì đòi hỏi phải tạo cho HS nhận thức được những giá trị, lợi ích và sự hứng thú của những
hoạt động này mang lại.
B6
140
120
100
80
60
40
20
0
Thiết kế thí
nghiệm
Diễn tiểu
phẩm
Ở câu B8 (phụ lục 2-I), người nghiên cứu đã đưa ra những nội dung kiến thức dự định tiến hành
trong CLB vật lí, những nội dung này đã được tìm hiểu và tham khảo ý kiến của nhiều GV bộ môn vật lí,
dự đoán sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ của HS, và kết quả khảo sát thể hiện ở hình 2.6 đã chứng minh
nhận định này là đúng.
B8
160
140
120
100
80
60
40
20
0
Chế tạo tên Chế tạo tàu Chế tạo đèn Lịch sử & sự
lửa
thuyền
kéo quân
phát triển
các máy cơ
học
Ghi nhớ
được các
thuật ngữ
vật lý
Vì nó thực sự hấp
dẫn, 79.8, 80%
Hình 2.7 Biểu đồ thể hiện lí do HS lựa chọn các nội dung dự định tiến hành trong CLB vật lí
Khi nghiên cứu về những điều HS mong muốn được GV chuẩn bị khi tham tham gia HĐNK, trong
những hoạt động được xếp theo thứ hạng từ tỉ lệ lựa chọn từ cao đến thấp thể hiện trong bảng tổng kết
sau:
Bảng 2.1 Các số liệu thống kê của câu hỏi B.14
Thông báo về buổi ngoại khóa trước một tháng
Số
lượng
110
Tỉ lệ
(%)
61.8
Thông báo chi tiết nội dung và hình thức
144
80.9
2
Phân chia nhiệm vụ cho nhóm
158
88.8
1
0
-
-
Sự chuẩn bị khác
Kết quả cho thấy hầu hết tất cả HS mong muốn được GV hướng dẫn kiến thức và cách thức chuẩn bị
(chiếm 88.8%). Ngược lại, HS không muốn được GV kiểm tra công việc chuẩn bị. Tuy nhiên, theo kinh
nghiệm giảng dạy của người nghiên cứu, sở dĩ HS không muốn GV kiểm tra công việc chuẩn bị của mình
vì hầu hết HS đồng hóa việc kiểm tra với khiển trách nếu họ không hoàn thành tốt công việc. Để HS có
nhận thức đúng đắn hơn, người nghiên cứu cần giải thích rõ mục đích kiểm tra ở đây là một hoạt động hỗ
trợ kịp thời của GV dành cho HS mỗi khi họ gặp khó khăn trong việc chuẩn bị, nhờ đó tiến độ hoàn thành
công việc của CLB được đảm bảo.
Đồng thời, HS mong muốn được GV tổ chức HĐNK 2 lần/tháng. Thông qua kết quả nghiên cứu
này, có thể khẳng định HS hoàn toàn rất hứng thú nếu được tham gia các HĐNK môn vật lí.
Tương tự như câu hỏi B14, kết quả khảo sát của câu hỏi B15 (phụ lục 2-I) cũng được tổng hợp
thành bảng 2.2.
Bảng 2.2 Các số liệu thống kê của câu hỏi B.15
B15: Trước mỗi HĐNK môn vật lí, bản thân HS cần chuẩn bị:
Tìm hiểu những kiến thức có liên quan
139
78.1
3
Lên kế hoạch cho việc chuẩn bị
100
56.2
5
Thực hiện những việc được phân công
134
75.3
4
Hỏi GV khi gặp khó khăn
143
80.3
2
ra nhận xét, đề xuất cải tiến ...
- Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của các nhà vật lí được đề cập trong sách giáo khoa.
- Mặt khác, trong chương trình vật lí THPT hiện nay, một số nội dung chưa có điều kiện đưa vào chương
trình chính khóa hoặc chưa có điều kiện tìm hiểu kĩ như: Thiên văn học cơ bản, các ứng dụng của vật lí
trong kĩ thuật và đời sống, vật lí trong các vấn đề giáo dục môi trường… Ngoại khóa vật lí là một biện
pháp hợp lí để đưa các nội dung này vào chương trình nhằm bổ sung giúp kiến thức vật lí của HS thêm
phong phú.
2.4. Các bước chính trong tổ chức HĐNK cho môn vật lí 10
2.4.1. Thành lập CLB vật lí
CLB là nơi tập trung những cá nhân có cùng sở thích, nhu cầu, nguyện vọng, cùng nhau hoạt động
để đạt được mục đích nào đó. Hoạt động CLB vật lí ở trường học là một loại hình hoạt động ngoài giờ lên
lớp, là môi trường tốt nhất để các cá nhân yêu thích vật lí có dịp học tập, sinh hoạt, rèn luyện, vui chơi,
giải trí …với các kiến thức vật lí, trên tinh thần tự nguyện, nhằm phát huy năng lực bản thân, trang bị cho
các em những kĩ năng cần thiết để vận dụng vào thực tiễn đời sống xã hội.
Để có thể tổ chức thành công và thường xuyên các HĐNK cho môn vật lí trong nhà trường phổ
thông, trước hết cần phải xây dựng được một câu lạc bộ vật lí bền vững, làm nền móng cho các mô hình
HĐNK khác triển nở.
2.4.2. Tổ chức CLB vật lí
2.4.2.1. Cơ cấu điều hành
BCN gồm mười thành viên bao gồm năm GV và năm HS.
2.4.2.2. Hình thức hoạt động
Như đã phân tích ở trên, CLB vật lí bao gồm những thành viên HS yêu thích vật lí, tuy nhiên sở
thích này của HS cũng rất đa dạng: có HS chỉ thích biểu diễn những thí nghiệm VLV, có HS lại thích chế
tạo những đồ dùng vật lí mang tính sáng tạo cao hơn, và cũng có HS lại chỉ thích nghiên cứu vật lí trong
phòng thí nghiệm … Vì thế, để phù hợp với mọi đối tượng thành viên có thế tổ chức các hoạt động trong
CLB theo các hình thức dưới đây:
a. HĐNK với tính chất cá nhân
mà nhóm đã chế tạo được hoặc qua các thí nghiệm vật lí đầy bất ngờ và lí thú. Để các kiến thức vật lí
trong nội dung hoạt động của nhóm “VLV” tránh phức tạp, khó hiểu đối với trình độ hiểu biết của đa số
HS lớp 10, GV cần phải theo dõi, góp ý, điều chỉnh các nội dung hoạt động sao cho sát với chương trình
chính khóa.
Nhóm VẬT LÍ ỨNG DỤNG
Hình thức HĐNK này được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của một bộ phận HS yêu thích vật lí, có
khiếu thẩm mĩ, thích tìm tòi sáng tạo để chế tạo một số đồ dùng vật lí mang tính ứng dụng thiết thực như:
Tên lửa, đèn kéo quân, quạt bàn, kính vạn hoa, máy bay, tàu thủy, diều, … Nhóm ngoại khóa này mang
tính chất thực hành chuyên môn sâu hơn nhóm “VLV”, làm nòng cốt cho việc liên hệ bài học vật lí với
thực tế khoa học kĩ thuật.
Đây là môi trường tốt nhất để HS thỏa sức thể hiện ý tưởng sáng tạo và niềm đam mê vật lí của
mình qua việc thiết kế, chế tạo các sản phẩm. Bên cạnh việc được thể hiện năng lực bản thân, HS còn học
được cách hợp tác nhóm hiệu quả, biết chia sẻ kiến thức, chia sẻ các thiết bị đồ dùng và một số những
mẹo kĩ thuật trong chế tạo và lắp ráp sản phẩm. Có thái độ trân trọng các giá trị lao động do mình và
người khác làm ra…
Ban đầu các nội dung hoạt động của nhóm sẽ được GV hướng dẫn cặn kẽ từ lí thuyết đến thực
hành, nhưng càng về sau GV không còn giữ vai trò trung tâm nữa, thay vào đó HS cần phải chủ động tìm
kiếm và thực hiện đề tài mình yêu thích dưới sự hỗ trợ của GV.
Nhóm VẬT LÍ THỰC NGHIỆM
Đây là một hình thức HĐNK dành cho các đối tượng HS thuộc các lớp chuyên lí, đòi hỏi người
tham gia phải được trang bị kiến thức vật lí liên quan không dừng ở mức độ vận dụng mà cao hơn là ở
mức độ phân tích, tổng hợp và đánh giá; người tham gia phải thực sự say mê nghiên cứu vật lí, phải hiểu
được tầm quan trọng của các kết quả hoạt động mà nhóm thu được sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân và
nhà trường, cụ thể cho phòng thí nghiệm vật lí. Vì thế nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa này
không để vui chơi hay giải trí mà là tiến hành nghiên cứu khoa học dưới dạng tiểu luận, tập trung chủ yếu
trong chương trình phân phối của bộ môn vật lí THPT dưới sự hướng dẫn của GV. Cụ thể ở đây là một
hướng nghiên cứu của HS lớp 10 chuyên lí:
- Tìm ra những hạn chế trong quá trình thực nghiệm làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu so với lí
thuyết. Từ đó đề ra phương hướng khắc phục trong quá trình thực nghiệm nhằm đi đến kết quả tương đối
gọn, rõ ràng, có thể là trắc nghiệm xen kẽ tự luận.
- Thi giải ô chữ: Có nhiều cách thức để tạo một trò chơi ô chữ nhưng đơn giản nhất là tạo ô chữ gồm
nhiều hàng ngang và một cột dọc. Cột dọc được sắp xếp sao cho nó do các chữ ở các hàng ngang nối lại
tạo thành. Từ việc trả lời các câu hỏi tìm ra các từ hàng ngang và dự đoán từ ở cột dọc. Nên giới thiệu
trước cho HS biết từ ở cột dọc là từ khóa của một chủ đề nào đó.
- Thi thực hành làm thí nghiệm hoặc chế tạo dụng cụ thí nghiệm: Có nhiều hình thức khác nhau cho phần
này, có thể phát cho các đội thi một số dụng cụ, yêu cầu HS trình bày cách tiến hành một thí nghiệm.
Hoặc phát cho các đội những vật liệu cần thiết để chế tạo một sản phẩm đã biết, ví dụ như một chiếc xe đồ
chơi bốn bánh chạy bằng phản lực hoặc một chiếc đèn kéo quân, sau đó so sánh xem sản phẩm của đội
nào sáng tạo, tiện ích và thẩm mĩ hơn.
- Thi chơi một số trò chơi ngắn có sử dụng kiến thức vật lí: Ví dụ: đường đua lật bật, xe lăn tự hành, con
vụ đi trong mê cung …
Thảo luận chuyên đề [10], [16]
Thảo luận là một hình thức tổ chức giáo dục mà trong đó HS cùng nhau trao đổi, tranh luận về các
vấn đề khác nhau xoay quanh một chủ đề đã được lựa chọn, nhằm giúp HS đạt được một sự hiểu biết
chung và có được những thái độ phù hợp với những vấn đề đó. Thông qua thảo luận, HS có dịp sử dụng
các kĩ năng nhận thức bậc cao như phân tích, đánh giá, có thể phát triển ý kiến, thái độ và các giá trị của
mình. Thảo luận có thể ở dạng mở, nhưng thường nên có bố cục sẵn, có thể bằng một số câu hỏi chuẩn bị
trước. Các câu hỏi này nên là câu hỏi gợi mở, cá nhân hay có thể gây tranh cãi nếu ta muốn có được phản
ứng mạnh mẽ từ phía người được hỏi, chú ý các câu hỏi cần rõ ràng và ngắn gọn. Nếu sử dụng phương
pháp này chứng tỏ người GV trân trọng ý kiến và kiến thức của HS. GV cần nói rõ cho HS là tất cả các ý
kiến của các em đều được trân trọng và muốn ai cũng tham gia phát biểu, nhằm tránh trường hợp lấn át
hay im lặng hoàn toàn. Nên khuyến khích mọi người quyết định và tóm tắt lại từng điểm chính sau khi
thảo luận hay được mọi người nhất trí, chuyển ngay sang phần khác một khi mọi người đã nhất trí hay khi
không còn gì có thể bàn thêm nữa. Chốt buổi nên có phần tóm tắt, có lẽ bằng tài liệu là tốt nhất. Ví dụ khi
thảo luận chuyên đề “Tiết kiệm năng lượng” cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi như sau:
- Năng lượng là gì? Kể tên một số nguồn năng lượng đã, đang và sẽ được con người sử dụng?
- Việc khai thác những nguồn năng lượng này đem lại lợi ích gì cho con người?