Sáng kiến kinh nghiệm sử dụng trò chơi trong phần warm up tiếng anh 10 - Pdf 33

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
TRUNG TÂM GDTX KHÁNH SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG PHẦN WARM-UP TIẾNG ANH
10 NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN
LỚP 10 TRUNG TÂM GDTX KHÁNH SƠN

Tác giả: TRẦN THỊ KIM XUYẾN

NĂM HỌC: 2014-2015

1


Nhận xét, xếp loại
- Nhận xét: ……………………………..………………..
…………………………………………………….......................
………………………………..……………………………………..…………………………………………...
………………………………..………………………………………..………………………………..……….
………………………..………………………………………..………………………………..
………………………………..……………………………………..………………….……………..
………………………………..………………………………………..………………………………..
…………………………………………………………………………..………………………………..
………………………………..……………………………………..………………….…………….
………………………………..………………………………………..………………………………..
………………………………..………………………………………..………………………………..
………………………………..……………………………………..………………….…………….
………………………………..………………………………………..….……………………………..
………………………………..………………………………………..………………………………..
………………………………..……………………………………..………………….…………….

I.Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại đổi mới và hòa nhập với thế giới thì Tiếng Anh lại trở thành
một cầu nối ngôn ngữ hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực đời sống. Tiếng Anh
có thể được xem là điều kiện cần cho tất cả những người lao động muốn làm việc
và phát triển nghề nghiệp trong môi trường quốc tế, vì vậy nó tạo cơ hội cho thế hệ
trẻ có thể đạt được những ước mơ trong tương lai. Tuy nhiên việc dạy và học ngoại
ngữ hiện nay là một vấn đề khá nóng ở nước ta. Nhiều phương pháp giảng dạy thụ
động và ít linh hoạt trong các bài giảng làm học sinh ngại và đôi khi trở nên sợ nói
Tiếng Anh. Một số học sinh trung học phổ thông sau khi tốt nghiệp hầu như không
thể vận dụng Tiếng Anh vào trong giao tiếp hằng ngày, đôi khi còn có thể bị hạn
chế điểm thi trong các trường đại học cao đẳng do không đạt điểm yêu cầu về môn
tiếng Anh. Vậy, làm sao để các em thấy rằng, Tiếng Anh thật sự không quá khó và
rắc rối như các em nghĩ, đó thật sự là một thế giới mới, một thế giới của kiến thức.
Tiếng Anh có những nguyên tắc rất dễ nắm bắt, Tiếng Anh là một ngôn ngữ mới
cần thiết cho tương lai. Học tiếng Anh dễ dàng nhất chỉ cần có sự thích thú và đam
mê. Và việc học tiếng Anh gắn liền với việc áp dụng các tình huống giao tiếp thực
tế phải hết sức đươc chú trọng. Đôi khi chỉ bằng những hoạt động nhỏ trong bài
giảng có thể giúp các em có hứng thú và phát huy được những kiến thức Tiếng Anh
đã có trong trí não. Tiếng Anh tự nhiên khắc sâu vào học sinh bằng những tiếng vỗ
tay, những tiếng cười thích thú. Những hoạt động nhỏ này nếu được khai thác và
đầu tư có thể tạo nên một kết quả lớn đối với kích thích sự say mê học Tiếng Anh
của học sinh. Mặc dù, chương trình sách giáo khoa đã có những hoạt động dẫn dắt
bài mới tuy nhiên chưa thật sự phù hợp với trình độ và tâm lí học viên từng vùng
miền khác nhau, và sẽ tạo nên sự trì trệ, thiếu linh động trong công tác soạn giảng
của giáo viên.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc giúp học viên mạnh dạn hơn trong việc giao
tiếp bằng tiếng Anh, bản thân tôi qua nhiều năm công tác đã tổ chức nhiều hoạt
động trò chơi trong phần mở đầu vào bài mới, một phần giúp học viên hứng khởi
khi bắt đầu bài mới, giúp các em có thể khắc sâu kiến thức của bài học, và từ đó
giúp học viên làm quen với phương pháp dạy học tích cực.Sau quá trình giảng dạy

Anh lớp 10 có thiết kế các trò chơi trong phần Warm-up, từ đó nhận xét các kết quả
dạy của các bài học trước để xây dựng bài dạy được đạt kết quả tốt hơn.

5


PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I . Cơ sở lý luận :
1. Căn cứ vào những nội dung đổi mới trong mục tiêu, nội dung dạy
học chương trình giáo dục thường xuyên nói chung và cụ thể là đối với môn
Tiếng Anh nói riêng.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị
quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập quốc tế cũng đã chỉ rõ: “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng
giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và
kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo,
tự học, khuyến khích học tập suốt đời.”. Thêm vào đó, trong phần nhiệm vụ và giải
pháp của Nghị Quyết cũng nhấn mạnh: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển
năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và
dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù
hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào
thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý
thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo
lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc
phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa,
thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học”
“ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người

theo yêu cầu của chương trình. Ở trên lớp, với phương pháp tích cực này thì học
sinh hoạt động là chính, giáo viên nhàn nhạ hơn. Song khi soạn giáo án giáo viên
đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy học thụ động, mới có
thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác động viên, cố vấn,
trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh.
b)
Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp tích cực:
Có bốn dấu hiệu cơ bản
Thứ nhất: Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh.
Trong phương pháp tích cực, người học, đối tượng của hoạt động dạy, đồng
thời là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo
viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua đó, tự lực khám phá những điều mình chưa biết
chứ không phải là thụ động tiếp thu những trí thức đã được giáo viên sắp đặt ra
theo cách suy nghĩ của mình. Từ đó, vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa
nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo khuôn mẫu có
sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì giáo viên
không chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động . Chương
trình hành động của cộng đồng.
Thứ hai: Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh
không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu học.
Trong phương pháp học thì cốt nõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho
người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ
có được lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ
được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay, ngươi ta nhấn mạnh hoạt động học trong
7


quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ
động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học

hút sự quan tâm chú ý của học sinh, để giúp họ không có những suy nghĩ xao
nhãng và làm cho học sinh và các nhóm học sinh sẵn sàng tập trung vào những hoạt
động dạy học tiếp theo.
- Kay (1995) đã mô tả các bước của một bài giảng theo cách sau:
“Warm-up: là một cách hiệu quả để giúp học sinh bắt đầu suy nghĩ đến tiếng
Anh và xem xét lại những tài liệu được học trước đó. Nhiều các hoạt động warm8


up khác nhau sẽ giúp tạo nên sự đa dạng và niềm thích thú trong bài học”. Hoạt
động warm-up nhằm chuẩn bị cho học sinh một giai đoạn tập trung mà nó có thể
liên quan đến những chuyển động cơ thể làm cho học sinh thêm phần chủ động
như: đứng lên, đi bộ, nhảy, ghép hình ảnh với câu hoặc từ vựng, vẽ hoặc viết những
kinh nghiệm bản thân, câu chuyện, đôi khi có thể hát hoặc lắng nghe những bài hát
quen thuộc. Trong số những hoạt động đó sẽ có những hoạt động warm-up tạo nên
sự thư giãn và hứng khởi cho học sinh.
Hình 1 dưới đây thể hiện một số nguyên tắc mà người giáo viên cần chú ý khi thiết
kế các hoạt động warm-up. Nó tập hợp tất cả các yếu tố như kết quả của khung
nhận thức và tiến trình thực hiện khi chúng ta thiết kế hoạt động warm-up.

Hình 1: Nguyên tắc của các hoạt động Warm-up.
b) Vai trò của hoạt động Warm-up trong dạy học Tiếng Anh
Các hoạt động bắt đầu bài học (Warm-up activities) thường thu hút sự quan tâm
của học sinh. Thật sự, những hoạt động ban đầu rất quan trọng vì những lý do sau:
- Warm-up tạo nên không khí cho bài giảng. Ví dụ như nếu bắt đầu bài học
bằng những hoạt động khó hay gây sự nhầm lẫn sẽ làm cho học sinh rất chán nản,
nhưng nếu bằng các hoạt động vui nhộn sẽ làm tang thêm mức độ nhiệt huyết đối
với bài học cho học sinh
- Warm-up làm cho học sinh bắt đầu suy nghĩ và tập trung vào Tiếng Anh.
Đó có thể là cách đây vài ngày, một tuần hoặc thậm chí cả một thời gian dài mà học
sinh sử dụng Tiếng Anh lần cuối. Chỉ một chút ít thời gian đã giúp cải thiện sự tiếp

- Phòng học được trang bị đầy đủ bàn ghế, thoáng mát, sạch sẽ, có đủ không
gian để tổ chức các hoạt động trong lớp.
2. Khó khăn:
- Học viên khối lớp 10 tại trung tâm GDTX Khánh Sơn đa số là học sinh có học
lực trung bình, điều kiện học tập và tiếp cận kiến thức bên ngoài có phần hạn chế.
Mức độ tiếp thu bài học của các em không đồng đều gây khó khăn cho việc lựa
chọn các hoạt động thật phù hợp với trình độ của cả lớp. Đối với các hoạt động dễ
sẽ gây nhàm chán cho học sinh khá- giỏi, nhưng các hoạt động khó, nâng cao sẽ
làm cho học sinh chậm hơn khó bắt kịp.
- Môi trường giao tiếp ngoại ngữ của các em chưa có, các em không có điều
kiện thực hành giao tiếp thường xuyên dẫn đến sự e ngại khi nói Tiếng Anh trong
10


thủ thuật “chatting” ở mỗi đầu tiết học. Do năm đầu tiếp xúc chương trình Tiếng
Anh phổ thông tập trung vào từng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho nên đôi khi học
viên lớp 10 còn bỡ ngỡ với phương pháp dạy mới của giáo viên.
- Cơ sở trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy môn Tiếng Anh như máy
chiếu, máy cassette còn thiếu thốn, đồ dùng dạy học chưa đủ phục vụ các tiết dạy
cho nên giáo viên phải tìm thêm tranh ảnh trên Internet,và vận dụng các thủ thuật
trò chơi bằng các bảng phụ, các handouts, flash card….
Qua thăm dò tâm lý học viên, bản thân tôi nhận thấy các em có sự yêu thích
môn Tiếng Anh nhưng một phần nào không hiểu từ vựng và ít giao tiếp nên ngại
nói Tiếng Anh trên lớp. Từ đó, tôi hình thành ý định làm cho bài giảng của mình lôi
cuốn bằng các trò chơi (gọi theo thuật ngữ môn Tiếng Anh hay dùng là game) để
tạo không khí lớp học.
- Tổng hợp điểm kiểm tra bài kiểm tra đầu năm học 2014-2015 để cho đánh giá
chính xác về chất lượng học viên, tiến hành thăm dò ý kiến học viên để biết được
tình hình chung của đối tượng nghiên cứu.
* Chất lượng khảo sát bài kiểm tra 15’ đầu năm học 2014-2015:

0

3

15

4

2

Tỉ lệ (%)

100%

0%

12,5%

62,5%

16,7%

8,3%

* Bảng thể hiện mức độ yêu thích môn học Tiếng Anh đối với 24 học viên lớp 10
trung tâm GDTX Khánh Sơn đầu năm học 2014-2015
Câu hỏi
1)Em học Tiếng Anh
trong bao lâu?


Có, cũng
thích

11


4/

8/

20,8%

33,3%

Thường
xuyên

Thỉnh
thoảng

Ít khi

7/

12/

5/

29%



42%

29%

16,7%

3)Giáo viên Tiếng
Luôn luôn
Anh cũ của em có
thường bắt đầu giờ
học bằng trò chơi
0
không?
4) Em có thích chơi
trò chơi Tiếng Anh
không?

7/

5/

29,2%

Không
bao giờ
0

Qua khảo sát thăm dò về mức độ yêu thích môn Tiếng Anh và mức độ làm
quen với các game tiếng Anh ở học viên lớp 10 tại trung tâm GDTX Khánh Sơn,

Game 2: Network
Hướng dẫn: Cá nhân hoặc nhóm. Cho một chủ đề và yêu cầu học sinh liệt kê
tất cả những từ/cụm từ liên quan đến đề tài đó. Cá nhân/nhóm có nhiều từ đúng
nhất sẽ thắng. Hoạt động này dễ thực hiện và tất cả học sinh đều có thể tham gia.
Giáo viên chia lớp ra thành các nhóm và đưa ra gợi ý về chủ đề. Học viên các nhóm
lần lượt chạy lên bảng và ghi các từ liên quan đến chủ đề đó, và chạy xuống nhóm
để người khác trong nhóm tiếp tục lên bảng ghi. Sau thời gian quy định thì giáo
viên tổng kết đáp án đúng và tuyên bố đội thắng cuộc.
Game 3: Guessing game - Who is he ?- What is it ?
Hướng dẫn: Giáo viên chuẩn bị ba gợi ý để đọc cho cả lớp đoán đó là ai/cái gì.
Sau mỗi gợi ý nên dừng lại xem có học sinh nào tìm ra đáp án. Lưu ý là gợi ý phải
dễ hiểu đối với học sinh.
Game 4: Scrambled word
Hướng dẫn: Viết một từ lên bảng không đúng theo ký tự của nó và không có
nghĩa, yêu cầu học sinh làm theo nhóm sắp xếp lại từ cho đúng nghĩa. Ôn luyện từ
vựng và tập phản xạ học sinh.
Game 5: Word rid:
Hướng dẫn: Chia lớp thành hai nhóm, chuẩn bị bảng phụ. Viết một số từ theo
hàng ngang được dấu kín. Đọc gợi ý theo sự lựa chọn của học sinh để học sinh
đoán chính xác từ đó. Từ khóa sẽ là từ hàng dọc và là chủ đề của phần sắp được
học. Nhóm nào nói được từ khóa sẽ được gấp đôi số điểm.
Game 6: Lucky number
Hướng dẫn: Tương tự như "Word rid", nhưng sẽ có một số ô chữ là "Lucky
number" (số may mắn), học sinh sẽ không trả lời mà vẫn có điểm. Trò này rất được
học sinh yêu thích vì các em luôn mong muốn mình được may mắn.
13


Game 7: Who am I ?
Hướng dẫn: Chuẩn bị một thẻ nhỏ có ghi tên một loài động vật. Chia lớp thành

chú ý đến câu hỏi và thời gian trả lời của các đội để tránh mất thời gian trong phần
Warm-up.
Game 13: Shark attack
14


Hướng dẫn: Giáo viên gạch những gạch trắng trên bảng, mỗi gạch tương
đương với mỗi mẫu tự trong từ. Giáo viên đưa ra gợi ý để học sinh tập trung vào
nội dung cần thiết. Ví dụ: nếu muốn học sinh đoán từ “Clothing” thì gạch trên bảng
8 gạch (_ _ _ _ _ _ _ _ ) . Giáo viên vẽ hình các bậc thang dẫn đến con cá mập, mỗi
lần học sinh đoán sai thì sẽ bị đưa xuống 1 bậc gần với con cá mập. Nếu học sinh
đoán sai 6 lần sẽ bị thua.
Game 14: Slap the board
Hướng dẫn: Giáo viên dán các hình ảnh hay các từ về 1 chủ đề nào đó lên trên
bảng phụ, sau đó chia cả lớp thành 2 đội và phát cho 2 đội cây thước bằng giấy.
Giáo viên gọi tên, hay đưa ra gợi ý ám chỉ từ hoặc hình ảnh nào, thì đại diện 2 đội
chạy nhanh lên bảng dùng cây thước giấy chỉ vào từ hoặc hình ảnh đó. Nếu đội nào
chọn được nhiều từ hoặc hình ảnh đúng nhất thì đội đó giành chiến thắng.
Game 15: Labeling the picture
Hướng dẫn: Giáo viên chuẩn bị sẵn hình ảnh về chủ điểm bài học. Phân chia
các nhóm, ghép đúng hay gọi tên đúng hình ảnh giáo viên đưa ra trong thời gian
quy định.
Game 16: Chain game
Hướng dẫn: Giáo viên đưa ra 1 từ hoặc 1 câu mở đầu,lần lượt học sinh viết ra
các từ hoặc câu tiếp theo liên quan đến bài học. Nếu đội nào không viết được tiếp
thì sẽ thua. Ví dụ chơi trong bài học “conditional sentences”, hay viết từ liên quan
đến các chủ điểm bài học.
Game 17: Diction list
Hướng dẫn: Giáo viên chia lớp thành các nhóm, chọn đại diện các nhóm lên
đọc chính tả cho cả lớp, sau thời gian quy định, giáo viên yêu cầu các nhóm giơ

theo yêu cầu của giáo viên nhanh nhất sẽ giành phần thắng.
Game 23: Odd-one-out
Hướng dẫn: Giáo viên chuẩn bị các viết 3 hay 4 từ trên bảng, học viên các
nhóm tìm ra từ khác biệt nhất so với những từ còn lại. Có thêm cho học viên chơi
nhiều lượt với những câu hỏi khác nhau. Ví dụ: cat-horse- cake- bird.
Game 24: Pictionary
Hướng dẫn: Chọn một học viên lên bảng và chỉ cho học viên đó xem 1 bức
tranh hoặc thì thầm vào tai học viên 1 từ khóa. Người học viên đó phải vẽ lên bảng
bức ảnh để diễn đạt từ vựng đó. Nếu học viên nào đoán đúng thì sẽ tiếp tục xem
hình và vẽ bức tranh tiếp theo cho các bạn còn lại đoán. Hoạt động này có thể cho
chơi theo nhóm hoặc cá nhân.
Game 25: Picture fun
Hướng dẫn: Giáo viên chia lớp thành nhóm, giao cho học viên một bức tranh
phong cảnh hoặc người nổi tiếng nào đó. Học viên trong nhóm phải liệt kê được
các dữ liệu liên quan đúng (tuổi, nghề nghiệp, thói quen, thành tích, nơi sống, quê
hương……), mỗi dữ liệu đúng được cộng 10 điểm. Đội nào nói được nhiều chi tiết
đúng hơn sẽ giành phần thắng.
Game 26: Question ball
Hướng dẫn: Giáo viên đưa ra các câu hỏi về 1 chủ đề nào đó (ví dụ như:
personal information), mỗi lần giáo viên ném quả bóng đến một học sinh và kèm 1
câu hỏi.Nếu học sinh đó nhanh sẽ ném nhanh quả bóng đến học sinh khác kèm câu
hỏi của giáo viên, nếu học sinh đó chậm sẽ phải nhận quả bóng và trả lời câu hỏi
16


của giáo viên và ném trở lại cho giáo viên. Người giáo viên nhận xét câu trả lời và
sẽ tiếp tục ném quả bóng có câu hỏi đến những người học viên khác.
Game 27: Vanishing objects
Hướng dẫn: Giáo viên đặt một số đồ vật trên bàn, cho học viên cả lớp thời
gian ghi nhớ tất cả các đồ vật, sau đó lấy tấm khăn che giấu và lấy đi 1 đồ vật, yêu


d. A hospital

5. FARMER

e. A shop

Đáp án: 1b ; 2 d; 3c; 4e; 5a
UNIT 1: A DAY OF A LIFE OF…..
LESSON B: SPEAKING
Game: Networking
Thời gian: 3 phút
17


Hoạt động: cá nhân
- Giáo viên yêu cầu học viên kể tên các môn học trong trường phổ thông
bằng tiếng Anh.

SUBJECTS

S

1. Civic education
5. Literature

2. Maths
6. Biology

3. Technology

- Giáo viên đưa bức tranh cho học viên cả lớp theo dõi, và yêu cầu học viên
điền từ thích hợp vào câu “I see … on a …”
Answer: “I see sheep on a ship”
Unit 2: SCHOOL TALKS
LESSON A: READING
Game: Kim’s game
Thời gian: 2 phút
Hoạt động: nhóm học viên từ 4-5 học viên

ip
sh
d
ien
Fr

Films

Cl
as
sm
s
at
y
a
d
es
Holi

Games
Weather

UNIT 2: SCHOOL TALKS
LESSON E: LANGUAGE FOCUS
Game: Crossword
Thời gian: 3 phút
Hoạt động: nhóm từ 4-5 học viên
- Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ trong bảng crossword.
E

T

V

O

L

O

K

R

A

D

U

F


N

H

D

L

O

V

E

U

B

Đáp án: but; love; lunch; are; dark; far
- Giáo viên yêu cầu học viên phát âm những từ tìm được “How do we
pronounce these words?”
UNIT 3: PEOPLE’S BACKGROUND
LESSON: READING
Game: Matching
Thời gian: 3 phút
Hoạt động: nhóm từ 4-5 học viên
- Giáo viên phát cho từng nhóm các handout và yêu cầu học viên nối cột A
(tên người) và cột B (nghề nghiệp) thích hợp. Nhóm nào sắp xếp đúng và nhanh
nhất là đội chiến thắng.
20

2. Marie Curie/ harbour/ dream/ scientific career/ impossible/ woman/ time
Đáp án:
1. Marie Curie was born in Warsaw on November 7th, 1867
2. Marie Curie harboured the dream of a scientific career, which was impossible for
a woman at that time
UNIT 3: PEOPLE’S BACKGROUND
LESSON: LISTENING
Game: Looking and guessing
Thời gian: 3 phút
Hoạt động: tập thể
- Giáo viên chọn 1 học viên lên trên bảng nhìn vào bức ảnh của những người
vận động viên nổi tiếng và diễn đạt những gợi ý liên quan cho cả lớp biết người
trong bức ảnh là ai
21


- Học viên nào trả lời đúng sẽ giành phần thưởng.
UNIT 4: SPECIAL EDUCATION
LESSON A-READING
Game: Guessing an object
Thời gian: 3-4 phút
Hoạt động: nhóm từ 7-8 học viên
- Giáo viên đưa ra lần lượt các gợi ý và học viên trong các nhóm đoán đồ vật
mà giáo viên muốn đề cập.
1. There are raised dots
2. It symbolizes letters of alphabet and numbers.
3. It is used by touching and for blind people who can’t see anything.
Đáp án: Bảng chữ cái Braille
UNIT 4: SPECIAL EDUCATION
LESSON B- SPEAKING

Hoạt động nhóm: từ 4-6 học viên
- Giáo viên chuẩn bị sẵn một con rắn từ vựng ”COMPUTER” bắt đầu bằng
chữ cái “C”, sau đó yêu cầu học viên trong nhóm tìm ra thân và đuôi của nó.
(đường vẽ như hình bên dưới)

G
X
E

F
C
R

H
O
M

T

U

P

UNIT 6: AN EXCURSION

UNIT 6: AN EXCURSION
LESSON A: READING
GAME: Listening a song
Thời gian: 2 phút
Hoạt động: nhóm từ 7-8 học viên

Chú ý: Hoạt động này thường gây tranh cãi giữa các nhóm, do đó, giáo viên cần
nhắc học viên cuối cùng của đội viết lại câu trả lời ra giấy.
UNIT 6: AN EXCURSION
LESSON E- LANGUAGE FOCUS
Game: Odd it out
Thời gian: 3 phút
Hoạt động: cá nhân
- Giáo viên đưa ra một số từ có những chữ cái thừa, yêu cầu học sinh loại bỏ chữ
cái thừa đó và đọc lớn từ đó cho cả lớp nghe.
- Giáo viên cho học sinh xem lần lượt từng từ.
EATRN, BIRED, FISR, OTRHER,  OTHER
TOPDAY, FREOM, NDURSE, OEF  NURSE
- Giáo viên có thể sửa phát âm cho học sinh nếu sai
Chú ý: Giáo viên chuẩn bị bảng phụ bằng những chữ cái rời.
UNIT 7: THE MASS MEDIA
LESSON A: READING
Game: Ambudant letters
Thời gian: 4 phút
Hoạt động: nhóm
- Giáo viên chia cả lớp thành 2-3 nhóm
- Giáo viên hướng dẫn luật chơi cho học sinh. Mỗi nhóm sẽ tìm ra từng chữ cái
thừa ra trong 5 từ Tiếng Anh, và những chữ cái thừa đó sẽ ghép thành một từ khóa
của bài học”
5 từ vựng của bài học như sau:
1. INTERMNET
2. MAGAZINED
25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status