Tìm hiểu vai trò của các vị chức sắc, sư cả Chăm tại Bình Thuận trong việc nâng cao đời sống cộng đồng và phát triển xã hộ - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI


BÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2008
ĐỀ TÀI: Tìm hiểu vai trò của các vị chức sắc, sư cả Chăm tại Bình Thuận
trong việc nâng cao đời sống cộng đồng và phát triển xã hội.
Lời Nói Đầu
Cùng với thời gian, cùng với sự phát triển của (các phương pháp) xã hội, ngày
càng có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Chăm được xuất bản, tạo sự phong
phú cho người đọc. Trong sự phát triển ngày nay, những vấn đề về dân tộc, tôn giáo
đã đựơc Đảng và nhà nước ta chú trọng sâu sắc. Đặc biệt với các dân tộc thiểu số,
trong công tác “Đại đoàn kết dân tộc” thì phát huy sự ảnh hưởng của những người
có uy tín trong cộng đồng tôn giáo là hết sức quan trọng. Đây cũng là việc làm (hết
sức quan trọng) cần thiết đối với cộng đồng Chăm ở Bình Thuận trong sự phát triển
hiện nay. Được tin trong tháng 5 Trừơng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, mở
hội nghị khoa học dành cho sinh viên, được các thầy cô trong Bộ môn công tác xã
hội tạo điều kiện, cùng với những thực tế thấy được trong cộng đồng Chăm ở Bìmh
Thuận, nó là những thuận lợi cho tôi tham gia nghiên cứu, trình bày đề tài này.
Bài viết gồm có ba phần, ngoài phần mở đầu và kết luận, nó sẽ đem lại cho
người đọc sự hiểu biết cơ bản về cộng đồng dân tộc Chăm ở Bình Thuận nói riêng
và Việt Nam nói chung.
Về đại thể, phần I có nội dung đề cập đến lịch sử hình thành, sự phân bố dân cư,
cũng như giới thiệu sơ lược về đời sống xã hội của người Chăm ở Việt Nam và tỉnh
Bình Thuận. Phần II nói về vai trò, vị trí và sử ảnh hưởng của các vị chức sắc, sư cả
Chăm tỉnh Bình Thuận trong đời sống, văn hóa, kinh tế xã hội. Phần III nêu ra các
giải pháp và những đề xuất để phát huy tốt hơn nữa vai trò của các vị chức sắc, sư
cả Chăm trong cộng đồng Chăm tại Bình Thuận.
Trên cơ sở kiến thức giới hạn, bài viết này có nhiệm vụ cung cấp cái nhìn mới,
góp phần làm phong phú hơn cho các vấn đề phát triển cộng đồng hiện nay theo

trong mỗi làng, palei Chăm. Nếu như chúng ta biết tranh thủ, vận động phát huy vai
trò của họ thì chính họ chứ không phải ai khác là người góp phần quan trọng trong
việc nâng cao đời sống cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Đây là việc làm hết
sức cần thiết đối với một dân tộc thiểu số có đời sống tôn giáo phong phú như dân
tộc Chăm ở Bình Thuận. Nhận thấy được tầm quan trọng của các vị chức sắc, sư cả
Chăm trong sự phát triển cộng đồng mình hiện nay là hết sức to lớn. Xuất phát từ lý
do trên, việc nghiên cứu “ Tìm hiểu vai trò của các vị chức sắc, sư cả Chăm tại Bình
Thuận trong nâng cao mức sống cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội” là cần thiết
và có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn.
2.Sơ lược tình hình nghiên cứu.
Ngày nay hầu hết các vấn đề của dân tộc Chăm đã được các nhà khoa học trong
và ngoài nước quan tâm khá nhiều. Các vấn đề về tôn giáo, điêu khắc kiến trúc, văn
học nghệ thuật, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ… đã được nhiều nhà nghiên cứu như:
Inrasara, Ngô Văn Doanh, Phan Xuân Biên, Phan Quốc Anh, Tràvija, Phú Văn Hãn,
Nguyễn Văn Tỷ…nghiên cứu và trình bày. Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày
càng có nhiều các nhà nghiên cứu đi sâu, tìm tòi tận gốc rẽ và đã đạt được những
thành công riêng. Những vấn đề về tôn giáo cũng đã được đề cập đến nhưng lại viết
về một khía cạnh riêng lẽ của nó như:
Đời sống và xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Phú Văn Hãn,
NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội-2006.
Lễ hội người Chăm của tác giả Sakaya Văn Món, NXB Văn Hóa Dân Tộc-2003.
Các vấn đề văn hóa xã hội Chăm của Inrasara, NXB văn hóa dân tộc-1999.
Ngõ vào palei Chăm của Nguyễn Đăng Tỷ, tiểu luận đăng trên Tập san Văn nghệ
Dân Tộc (Hội nhà văn Việt Nam) 14-10-1995.
. Vì vậy với sự cố gắng cỏn con của mình chỉ hy vọng sẽ làm cho tự liệu về dân tộc
Chăm ngày càng phong phú và đa dạng.


Ngoài ra còn có nhiều các tài liệu khác có thể tham khảo, tra cứu thông tin trên các
website :www.gilaipraung.com hay www.vanhoanghethuat.org.vn cũng có nhiều bài

khác biệt. Do điều kiện địa lý, lịch sử hình thành mỗi địa bàn dân cư khác nhau nên
cũng dẫn đến sự khác biệt về phong tục tạp quán, tín ngưỡng tôn giáo…
5.Phương pháp nghiên cứu.
-Phương pháp thu thập thông tin.
Cùng với việc vận dụng kiến thức có được trong thực tế cộng đồng mình. Bài viết
còn được thu thập, tham khảo qua sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu
khoa học sẵn có tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, bài viết sử dụng phương pháp quan sát thực tế để đúc kết vấn đề
nghiên cứu.
Cuối cùng, nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu các vị sư cả và các tín
đồ trong cộng đồng Chăm tại Bình Thuận.


-Phương pháp xử lý thông tin.
Bài viết có sử dụng các biện pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học như: Tổng
hợp, so sánh, phân tích, chọn lọc…,tư duy logic những thông tin đã thu thập được.
6.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Từ một vấn đề có thực trong xã hội bài viết cũng có ý nghĩa riêng của nó.
-Ý nghĩa khoa học. Nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm về thông tin khoa
học. Cung cấp những thông tin khoa học bổ ích về dân tộc Chăm ở Bình Thuận. Có
thể dùng để làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và phát triển nhân rộng ra các đồng
bào dân tộc Chăm cả nước, cũng như các đồng bào dân tộc thiểu số khác có chung
đời sống tôn giáo, tâm linh, tín ngưỡng giống người Chăm.
-Về mặc thực tiễn. Nghiên cứu nhằm giúp các cơ quan, tổ chức, đơn vị giải quyết
tốt hơn các vấn đề liên quan đến phát triển cộng đồng của người Chăm. Qua đó thực
hiện tốt hơn các chính sách, chủ trương cũng như đường lối của Đảng và nhà nước
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, góp phần làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
II/ Nội dung :
Phần I. Khát quát sơ lược quá trình hình thành, đời sống sinh hoạt cộng đồng

-Người Chăm có truyền thống văn hóa độc đáo trong đời sống, đặc biệt là các lễ hội
trong đó mang nhiều ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng sâu sắc được thể hiện qua các lễ
hội lớn như: Katê và Rijanưgar của người Chăm theo đạo Bàlamôn hay Súc Dâng
và Ramưwan của người Chăm Hồi Giáo ( Bàni), ngoài ra còn có nhiều lễ hội khác.
- Cách bố trí dân cư, nhà cửa trong thôn xóm Chăm.
Đồng bào có tập quán bố trí cư trú theo dạng bàn cờ. Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia
đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại gia đình ở quây quần thành một khoảng hình
vuông hoặc hình chữ nhật. Trong làng các khoảnh như thế ngăn cách với nhau bởi
những con đường nhỏ. Nhà ở của người Chăm quay mặt về phía Nam, Đông hoặc
phía Tây. Phần lớn làng Chăm có dân số khoảng từ 1.000 người đến 2.000 người.
Khách thập phương đến các vùng dân tộc Chăm (nhất là vùng Ninh Thuận và
Bình Thuận) sẽ ngạc nhiên không ít về cách bố trí nhà cửa ngay hàng thẳng lối của
thôn xóm. Mỗi ngôi nhà phải có rào dậu xung quanh. Rào dậu thường làm bằng cây
khô hay tre, nhưng nay được thay thế bằng loại cây sống (như keo dậu, cây thuốc
dấu, cây bông bụt) hoặc xây bằng táp lô. Tất cả dãy nhà này đều xếp theo chiều Bắc
Nam thẳng tắp và cửa ngõ đều đồng loạt trổ về gốc Tây Nam và hướng về phương
Nam. Vì vậy, khách từ phương xa đến, sẽ rất lấy làm lạ về cách bố trí có quy củ
nhất định này và từ làng này đến làng khác. Đường sá giữa hai dãy nhà thì khá rộng,
hẹp nhất là đủ cho hai chiếc xe bò đi ngược chiều di chuyển được. Các con đường
ngang thì hẹp hơn, rộng nhất là đủ cho một chiếc xe bò đi mà thôi. Chính vì thế mà
đường xá trong các thôn ấp Chăm từ xưa đến nay vẫn theo một khuôn mẫu đúng
phong tục qui định, thật nề nếp và khang trang. Không một người nào dám xé lẻ,
nghĩa là tự xây dựng một ngôi nhà riêng rẻ, không đứng vào dãy rào nào. Làm như
thế người Chăm tin là sẽ gặp nhiều xui xẻo, bệnh hoạn, làm ăn không phát đạt, gặp
nhiều rủi ro trong đời sống. Đây cũng là ưu điểm lớn của phong tục tập quán Chăm
góp phần làm cho cuộc sống được nhiều thuận lợi, hướng đến văn minh, tiến bộ.
1.1.Những đặc điểm nổi bật trong sinh hoạt cộng đồng.
Trong đời sống sinh hoạt của xã hội Chăm có những đặc điểm đáng lưu ý như:
Tình thần hiếu khách, sự ôn hòa, sự tôn trọng lời hứa, lòng trung thành, sự trung
thực, tính tôn ti trật tự, tính hiếu học.(2)

chứa đựng cả một triết lý nhân quả nữa. Mặt khác, vấn đề thể diện cũng dự phần
khá đặc trưng trong sự hiếu khách của người Chăm: gia đình nào có nhiều khách, và
đặc biệt là khách quý, thì gia đình đó sẽ được những người xung quanh quí trọng và
kính nể. Vấn đề hiếu khách cũng là một nét đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc Chăm.
Tính ôn hòa và không thù dai
Sự sinh hoạt miền nông thôn cũng như miền núi không mang tính cách cạnh tranh
như ở thị thành. Chính vì vậy mà ở vùng dân tộc Chăm, chúng ta nhận thấy cuộc
sống khá thanh thản, không sống xô bồ, nhếch nhác. Có lẽ do chịu ảnh hưởng phần
nào nếp sống êm xuôi này mà tính cách ôn hòa hình thành được trong lòng cộng
đồng người Chăm.
Trong sinh hoạt hàng ngày, chắc chắn phải có những va chạm, xích mích, bất đồng
ý kiến, đưa đến việc cãi vã lẫn nhau, nhưng không bao giờ (hoặc rất ít khi) dẫn đến
việc đánh đập nhau hay đâm chém nhau như đã từng xảy ra thường xuyên ở các thị
thành văn minh.Vì đối với người Chăm thì việc đâm chém nhau càng làm cho bà
con xa lánh. Trong những trường hợp xích mích gay gắt, không thể tự giải quyết
được thì hai bên đưa nhau đến Hội đồng tôn giáo để nhờ giải quyết,(nếu như là vấn
đề cấp làng) còn cấp gia đình thì do tộc trưởng của dòng tộc giải quyết. Tính khí
Chăm không thâm độc, dễ tha thứ, vì thế mà trong xã hội Chăm không có mối thù
nào lâu dài hay truyền kiếp. Họ dễ dàng làm lành với nhau, phần nào cũng do mối
giao hảo chằng chịt của các hôn nhân. Nếu như hai gia đình gây gỗ thì phần ai nấy
sống, trong một thời gian dài nếu bên nào muốn giải hòa thì làm lễ “Bốinê”(xin lỗi)
được sự chứng kiến của tộc trưởng. Thế là hai gia đình lại hòa hợp sống bình
thường.
- Tôn trọng lời hứa
Người Chăm rất dị ứng với sự dối trá, điếm đàng và rất trọng sự ngay thẳng, thật
thà. Vì trước đây, xã hội Chăm sống gần như khép kín, giống như xã hội miền núi,
nên những thói hư tật xấu của chốn phồn vinh đô thị như: lừa đảo, lật lọng, cướp
giật, không chen chân được trong cộng đồng người Chăm.
Mỗi khi hứa một việc gì với nhau, người Chăm rất tôn trọng, kể cả vợ chồng ly dị
nhau, chỉ cần mời một người tộc trưởng ra làm chứng là xong.Vì họ hiểu rất đơn

cáo nào, họ rất trung thực với sự kiện đã xảy ra, những gì “tai nghe mắt thấy”, chứ
ít khi thêm thắt hay suy diễn. Chính bản chất trung trực này làm cho người Chăm
trở thành những đối tượng khó mua chuộc được.
Trong sinh hoạt đời thường, chúng ta cũng rất ít thấy người Chăm tham lam, bòn
rút của thiên hạ. Thông thường họ phân biệt khá rành mạch của mình, của người,
chứ không “đánh lận con đen”.
- Truyền thống hiếu học
Tính hiếu học là một đức tính rất đáng được trân trọng trong những đức tính tốt của
người Chăm. Chính tính hiếu học đã giúp cho người Chăm luôn luôn tiến bộ và
cộng đồng dân tộc có sự thăng tiến và phát triển. Chính cái đáng quí nhất này mà
người Chăm đã bảo tồn được chữ viết của mình từ đời này qua đời khác xuyên suốt
chiều dài lịch sử đầy thăng trầm và éo le của dân tộc. Cùng với gien và tinh thần
hiếu học người Chăm đã tạo ra nét riêng mà khó để tìm thấy nét riêng này ở dân tộc
thiểu số khác. Việc những đứa trẻ Chăm mới lớn thì đã biết ca hát, múa có sẵn trong
mình năng khiếu bẩm sinh(có 10 đứa thì 7-8 đã được trời phú cho tính này) là minh
chứng cho sự khác biệt này.
Trong xã hội Chăm, hầu hết các gia đình đều phấn đấu để cho các con được cấp
sách đến trường. Vì nghèo khó mà phải để cho các con mù chữ là cả một sự nhục
nhã. Chính vì vậy mà chúng ta gặp không ít hoàn cảnh đặc biệt không kém ly kỳ và


éo le trong cách tính toán sắp xếp cho các con đi đến trường: Có gia đình phải cho
mấy đứa con nhỏ đi ở đợ (làm mướn nhiều năm liền và nhận tiền trước) để cho đứa
lớn được học lên cao. Khi đứa lớn tốt nghiệp và có công ăn việc làm rồi thì lại giúp
cho đứa nhỏ học hệ bổ túc văn hóa. Trong lúc đó, cha mẹ không từ nan bất cứ công
việc nặng nhọc nào như: rũ rơm, lượm phân bò, nhổ cỏ mướn, chăn cừu, chăn bò
thuê. Vì thế nhiều gia đình luôn cố gắng cho con mình được đi đến trường…
- Tôn ti trật tự
Quan sát sự sinh hoạt một làng Chăm, chúng ta sẽ thấy họ không sống xô bồ,
nhếch nhác mà rất có tôn ti “kính trên nhường dưới”. Rõ nhất là cách mời ăn ở đám

triển cộng đồng vì ảnh hưởng đến thời gian (cần tiết kiệm) và sức lao động của con
người. Nhưng những công việc thông thường nhưng vượt quá sức lao động của các
thành viên trong gia đình như: giở nhà, xây nhà, trét tường, lợp tranh, thường phải
nhờ đến lao động cộng đồng. Bà con láng giềng đến giúp đỡ một cách vui vẻ, các
ông thì làm những công việc nặng nhọc, các bà thì nấu nướng, phục vụ.
Cũng nằm trong tính cộng đồng này, chúng ta nhận thấy người Chăm hưởng ứng rất
nhiệt tình các đợt quyên góp mang tính cách xã hội như: góp quĩ khuyến học, góp


quĩ hỗ trợ gia đình nghèo, hỗ trợ bão lụt v.v. Tôi đã từng nhiều lần tham dự các đêm
văn nghệ vì mục đích từ thiện ở vùng nông thôn Chăm và đã chứng kiến vài sự kiện
khá độc đáo: Những người nông dân hoàn toàn không dư dả gì đã tự động đến sân
khấu dâng biếu tiền bạc ủng hộ đêm văn nghệ, và khi loan báo danh sách hảo tâm,
từng đợt người tiến lên làm nhiệm vụ của mình một cách vui vẻ và phấn khởi.
- Tính sĩ diện:
Tính sĩ diện của người Chăm có những mặt rất tích cực và đáng được khuyến
khích trong sinh hoạt cộng đồng như quan niệm “một người làm xấu cả họ mang
nhục” hay “Dak lihik kabaw yuw, oh dak mưluw bbauk” (Thà mất đôi trâu còn hơn
mất mặt). Chính vì vậy mà xã hội Chăm đã khắc phục được nạn trộm cắp hay ăn
xin. Trong cộng đồng, không có (hay rất ít) kẻ trộm cắp vì mỗi khi bị bắt thì không
những đương sự phải chịu hình phạt của luật pháp mà còn chịu sự phỉ nhổ của dòng
họ và xóm làng. Dĩ nhiên những hạng người này bị dư luận nhìn bằng nửa con mắt.
Đó cũng là lí do hạn chế được nạn ăn xin. Có thể nói trong xã hội Chăm không có
người ăn xin. Ai cũng tin thế.
Mặt trái của vấn đề cũng đáng cho ta phải đề cập đến vì sĩ diện không đúng chỗ,
hiểu không thấu đáo sẽ trở thành tai họa cho xã hội. Không ít người Chăm chỉ vì
không muốn thua kém chị kém em trong các đám đình của gia đình (như đám cưới,
đám tang) mà phải đem con đi ở đợ để được bằng hay hơn người. Như thế gia đình
sẽ không bị dư luận chê bai mà còn được tán dương, quí trọng nữa. Đúng là sĩ diện
hão.

tập trung khá đông dân tộc Chăm sinh sống lâu đời, xếp thứ hai sau Ninh Thuận.
Với khoảng 41.000 người chiếm tới 4% dân số toàn tỉnh, dân tộc Chăm có số dân
đông thứ hai sau dân tộc kinh ở Bình Thuận. Ở đây cộng đồng người Chăm phân bố
rộng khắp tỉnh nhưng đông nhất là: Huyện Bắc Bình với 3.280 hộ, với 23.000 dân,
tiếp đến là các huyện Tuy Phong, Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh và Hàm Thuận Nam.
Tuy có sự phân tán không tập trung nhưng người Chăm ở Bình Thuận vẫn giữ
nguyên vện bản sắc riêng của cộng đồng mình. Biểu hiện rõ ở đây mỗi làng Chăm
mặc dù sống xen kẽ với cộng đồng người Kinh nhưng không có sự pha trộn nào. Nó
thể hiện rất rõ nét qua từng chi tiết trong đời sống sinh hoạt. Ở Bình Thuận mỗi làng
Chăm đều có nơi để thờ tự và sinh hoạt văn hóa cho cộng đồng mình. Bình Thuận
có 10 thánh Đường của người Chăm theo tôn giáo Bàni và 5 đền tháp thờ tự của
người Chăm tôn giáo Bàlamôn.
2.2. Đời sống tôn giáo
Người Chăm có hai tôn giáo chính rất độc đáo là Bàlamôn giáo và Hồi giáo. Sở
dĩ nói độc đáo vì trên thế giới này không nơi đâu có hình thức tôn giáo như cộng
đồng người Chăm Bình Thuận và ở Việt Nam nói chung. Bàlamôn giáo có nguồn
gốc từ Ấn Độ, du nhập vào Champa vào cuối thế kỷ thứ IV. Đặc điểm của Bàlamôn
giáo là thờ nhiều thần, nhưng ở đây Bàlamôn của dân tộc Chăm lại thờ cả thánh
Allah. Hồi giáo có nguồn gốc từ Ả Rập, truyền qua Mã Lai, du nhập vào Champa
vào thế kỷ thứ X. Đặc điểm của hồi giáo thế giới là độc thần, chỉ thờ độc nhất là
đấng Allah, nhưng Hồi giáo của dân tộc Chăm (được gọi là Bàni) lại thờ luôn các
thần của Bàlamôn giáo. Sở dĩ có hiện tượng lạ lùng trên là do quá trình lịch sử
Champa phức tạp, hai tôn giáo trên đã chống chọi nhau gây chia rẽ trầm trọng, nên
các vua chúa Champa thời đó phải đưa ra thuyết dung hòa tôn giáo kiểu tuy hai mà
một, tuy một mà hai. Nhờ sự dung hòa này mà ngày nay hai tôn giáo trên đã có sự
thân thiện, bớt tính khắt khe hơn trong đời sống cộng đồng hiện nay. Mặc dù không
còn khắt khe như trước nhưng mỗi tôn giáo đều giữ một nét riêng khác biệt của
mình.
Mỗi một tôn giáo có cái kiêng kỵ khác nhau: Người Chăm Hồi giáo (tức Bàni)
kiêng thịt heo và thịt dông vì vậy khi vào plây Chăm Bàni, khách không nên mang

tức thị nam, nữ khi đến tuổi gả vợ, dựng chồng thì phải trải lễ cưới (Băng padik).
Đến khi chết nếu như đều trải qua các nghi lễ đó thì được nhập Kut(được chôn với
dòng tộc mình). Nếu không được chôn với dòng tộc mình thì là điều bất hạnh với
người Chăm Bàlamôn.
Do lễ nghi tôn giáo ràng buộc như trên, người Chăm cảm thấy rất khó khăn khi
phải lấy người ngoại đạo, hay phải sống xa quê hương vì ngại thiếu thủ tục và lễ
nghi tôn giáo nghiêm túc lúc lìa đời. Theo trào lưu đổi mới hôm nay, sự giao lưu
giữa người Chăm trong cộng đồng cũng như những người không cùng cộng đồng
dân tộc được đặt ra khá gay gắt. Chính vì vậy mà người Chăm phải tìm cách giải
quyết vấn đề hôn nhân không cùng tôn giáo bằng cách làm thủ tục nhập đạo cho
người bạn đời của mình để không còn gây khó khăn trở ngại (thủ tục này trước đây
khó thể hiện vì các chức sắc không chấp nhận). Do sự tiến bộ trong đời sống xã hội
ngày nay hai bên tôn giáo Chăm đã thoáng hơn trong hôn nhân, việc cho phép các
đôi nam, nữ lấy nhau thể hiện được sự cởi mở của các chức sắc, sư cả Chăm ở Bình
Thuận.
Ngoài lễ nghi tôn giáo ra, sinh hoạt thông thường cũng có những đặc trưng của
nó mà người khách có quan hệ làm ăn với người Chăm cũng cần biết đó là: Ngày
Chủ nhật và ngày thứ Năm người Chăm kiêng xuất của hay không cho con cái đi
xa, vì họ quan niệm rằng ngày này không tốt. Hôm nay, tập quán này đã được cải
tiến nhiều, nhất là ở các giới trẻ.
Trong bài viết này tôi chỉ đề cập đến người Chăm theo tôn giáo Bàlamôn và Bàni
ở Bình Thuận và đại đa số ở các nơi khác, còn một bộ phận thiểu số người Chăm
theo Islam thì vấn đề sinh hoạt hàng ngày càng bị tôn giáo chi phối nặng nề hơn nữa
vì phải tuân theo đúng lễ nghi và tập quán của Islam quốc tế.
Chính vì các nghi lễ tôn giáo trên mà người Chăm rất coi trọng các nghi thức tôn
giáo của mình, từ đó hình thành ở người con Chăm những quan niệm trong tư duy
cuộc sống.


2.3. Vị trí của tôn giáo trong đời sống.

trình độ kinh Koran nếu như đươc các hội đồng tôn giáo chấp nhận thì kể từ nay
được tham gia vào các công việc điều hành, quản lí công việc cộng đồng. Khoảng 5
hay 6 năm sau được phong hàm Mươm cả(chức vụ này chỉ dành cho những người
có tuổi đời 45 trở lên), khi nhận chức Mươm cả thì phải tiếp tục ôn luyện kinh
Koran cho đến khi nào đạt đến sự thông thái, đến đây khi có một vị sư cả trong mỗi
thánh Đường mất thì những người ấy được phong hàm chức sư cả lớn nhất trong
mỗi làng, palei. Trong các palei sư cả là người đại diện tiếng nói cho cộng đồng
mình. Trong tất cả các vị sư cả lại bầu ra một người uy tín, thông thái và giỏi nhất
làm Tổng sư cả điều hành tất cả các công việc chung của cả cộng đồng( trong 10
thánh Đường ở Bình Thuận). Trước kia Ninh Thuận và Bình Thuận là tỉnh Thuận
Hải có tới 17 thánh Đường đứng đầu là Tổng sư cả Thanh Tàu, nay tách ra hai tỉnh


để thuận tiện cho việc quản lí, điều hành chức vụ này cũng được phân bổ cho một
vị sư cả khác bên Ninh Thuận. Có thể thấy được muốn đạt được một chức sư cả
Chăm Bàni là việc không đơn giãn, có người phải phấn đấu cả đời nhưng vẫn
không đạt được chức vụ này.
Tương tự một vị sư cả Bàlamôn cũng vậy phải biết hết tất cả những kinh thánh và
trải qua các quy luật khắc khe của tôn giáo mình. Để nhập vào hàng ngũ pà xế và
lên đến chức cả sư, phải thực hiện đủ các lễ tôn chức như sau: Lễ nhập đạo
(dungakau), gọi là lễ xông miệng học chữ Chăm. Lễ lên cấp pà xế liah, giai đoạn
học kinh kệ và học các nghi thức hành lễ. Lễ tôn chức tu sĩ chính thức (puah). Lễ
tôn chức sư cả hoặc phó sư cả (popaik hoặc podhia).
Sư cả Lạc một vị sư cả Bàlamôn ở Trí Thái, Bình Thuận cho biết: Do đây là người
có quyền tối cao trong tôn giáo Bàlamôn. Vì vậy một người muốn có được chức vụ
sư cả thì phải trải qua một quá trình thử thách lâu dài mới biết được người ấy đã
đắc đạo hay chưa, có tài giỏi mới thực hiện được các nghi thức tôn giáo phức tạp
và góp tiếng nói cho làng, palei mình. Từ đó mới được các con chiên của mình kính
trọng và thần phục.
Người Chăm từ xa xưa đã quan niệm rằng, những ai không thuộc những kinh

sự ảnh hưởng của các vị chức sắc, sư cả trong tất cả các lĩnh vực của đời sống.
2.1.Trong đời sống tôn giáo.
Đối với dân tộc Chăm ở Bình Thuận thì các vị chức sắc, sư cả là người không
thể thiếu trong đời sống tinh thần. Họ là người có kiến thức, am hiểu về phong tục
tập quán bao đời của cha ông để lại. Trong đó có nhiệm vụ dạy bảo các con chiên,
tín đồ cũng như truyền lại tất cả những gì mình biết cho con cháu. Nên được các
con chiên, tín đồ kinh nể và cả khi là tôn sùng. Ngoài ra họ là những người không
thể thiếu trong các lễ hội, tết quan trọng: Họ là người đứng ra chủ trì, cúng bái tổ
tiên, hành lễ mang lại đời sống tâm linh cho công chúng nên có vị trí cao, rất được
cộng đồng xem trọng. Họ là người kết nối giữa thần linh, người quá cố với người
trong cuộc sống hiện tại. Ở Bình Thuận một tỉnh có đông đồng bào Chăm sinh sống
thì vị trí này càng hiện rõ hơn nhất là trong các dịp lễ hội, tết Katê, Súcdâng,
Ramưwan…hoặc trong các đám, đình trong đời sống hằng ngày. Để thấy được sự
quan trọng của các chức sắc, sư cả là như thế nào trong đời sống tôn giáo thì tôi có
cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Văn Trung một vị mươm cả uy tín trong đạo giáo
Bàni hiện đang sinh hoạt tại thánh Đường Thanh Kiết. Khi được nghe câu hỏi:
Trong mỗi palei Chăm có thể vắng mặt các vị sư cả được không? Ông trả lời một
cách dứt khoát mà không suy nghĩ, không thể được, trong sinh hoạt tôn giáo của
cộng đồng thì các vị sư cả không thể vắng mặt dù chỉ là một ngày. Sư cả là người
hướng dẫn, chỉ bảo các tín đồ, con chiên thực hiện các lễ nghi tôn giáo. Hầu hết tất
cả các đám đình, lễ hội đều do sư cả đứng chủ trì làm lễ không có họ thì không
thành đạo. Sư cả chia phối tất cả những nghi thức sinh hoạt trong cộng đồng dù là
nhỏ nhất như: Cho ngày cất nhà, cho ngày đám cưới, chủ trì lễ nhập đạo, phân công
đạo giáo sinh hoạt trong một thánh Đường…như vậy trong cuộc sống sinh hoạt của
cộng đồng tôn giáo Chăm thì vai trỏ của sư cả là hết sức quan trọng. Có thể nói các
vị sư cả là đứng tối cao trong tôn giáo của cộng đồng Chăm trong đời sống tâm linh.
Do đời sống luôn bị ràng buộc bởi các nghi thức tôn giáo nên người Chăm phải cần
những người nối tiếp để duy trì phong tục tôn giáo. Hiện nay ở Bình Thuận có tất
cả 25 sư cả(cả Bàni và Bàlamôn), 9 thầy sế, 84 vị mươm, 101 thầy chang, 48 mươm
cả, 6 thầy bóng(qua khảo sát thực tế). Nhưng thế này vẫn là quá ít so với nhu cầu về

các cơ quan, chính quyền địa phương. Chẳng hạn có xảy ra một vụ đánh lộn, gây gỗ
giữa các làng khác… đôi khi các lực lượng công an khó có thể giải quyết êm xuôi
nhưng có các vị chức sắc, sư cả ra tay thi rất nhẹ nhàng và êm ấm. Sở dĩ mà họ nói
cộng đồng nghe một phần là vị trí của họ cao, phần khác là vì mỗi người Chăm rất
sợ bị trừng phạt. Do tính cộng đồng rất cao nên mỗi gia đình người Chăm không
muốn bị mất mặt trước làng xóm hay bị chính tôn giáo mình phạt. Bởi vì nếu như bị
phạt thì không ai đến lo toan cho gia đình họ khi đám tang hoặc nghi lễ khác. Sự
nhục nhã lớn nhất đối với người Chăm là bị cộng đồng mình trục xuất ra khỏi làng,
palei. Thế nên mỗi khi thấy sự xuất hiện của các vị chức sắc, sư cả làng mình thì
những người xích mích lẩn đi không dám tiếp tục. Với tư cách là người ưu tú nhất,
đại diện của làng, palei, các vị chức sắc, sư cả luôn là người trung tâm giải quyết
những bất ổn cộng đồng, đem lại sự yên ắng cho cộng đồng dân tộc Chăm.
Trong cuộc phỏng vấn với ông Long Tợ một trí thức Chăm cao tuổi hiện ở Thanh
Kiết, Bình Thuận cho biết: Sở dĩ mỗi người Chăm rất sợ các vị sư cả hay các vị
chức sắc là do các vị chức sắc, sư cả là một hội đồng tôn giáo có quyền tối thượng,
họ có thể sự phạt bất kì ai nếu ngưởi đó làm mất mặt, ảnh hưởng tới kỉ cương của
palei. Chính vì sợ bị phạt hoặc sợ đạo giáo mình trần trị mà mỗi người trong cộng
đồng Chăm rất kính nể dẫn đến tiếng nói của các vị chức sắc, sư cả rất có giá trị
trong cộng đồng. Mỗi khi mà các chức sắc, sư cả đứng ra giải quyết những người
xích mích, tranh chấp thì dân chúng rất nghe lời vì họ tin vào sự giàn xếp của các vị
này.
Qua việc giải quyết các vấn đề xã hội, nó cho thấy được vai trò, vị trí quan trọng
của các vị chức sắc, sư cả Chăm trong việc duy trì trật tự, an ninh xã hội. Phải
khẳng định một điều rằng tiếng nói, vị trí của họ trong cộng đồng là rất cao. Có thể
nói họ là một phần trong cuộc sống văn minh của cộng đồng Chăm ở Bìmh Thuận
ngày nay.
2.3.Trong đời sống văn hóa.
Đa số các vị chức sắc, sư cả là những người đã từ bỏ những thủ tục lạc hậu trong
các đám cưới, ma tang, đình đám, lễ hội tốn kém, nhiều gia đình giàu lên, nhiều
thanh niên đã học lên đại học và được làm việc trong các cơ quan nhà nước… Họ

các vị chức sắc, sư cả tại các làng, xóm Chăm ở Bình Thuận.
2.4. Trong công tác an ninh quốc phòng.
Do là những người có uy tín và ảnh hưởng lớn trong cộng đồng nên các vị chức sắc,
sư cả luôn là tâm điểm trong công tác trật tự, an ninh quốc phòng.
Cũng vì vậy mà vẫn còn một số thế lực ở trong và ngoài nước luôn thực hiện ý đồ
lôi kéo, kích động, phá hoại, hồng chia rẽ sự đoàn kết của dân tộc.
An ninh trật tư ở một số làng, xã có lúc, diễn ra phức tạp. Việc truyền bá cẩu thả đạo
Tin lành cũng đã có lúc gây sự bất bình trong cộng đồng của đạo Bàni hay việc lôi
kéo thanh thiếu niên Chăm rời bỏ tôn giáo chính gốc đi theo hồi giáo Islam quốc
tế.... Những mâu thuận, đánh lộn giữa một vài thanh niên người Chăm với một vài
thanh niên người Việt ở các thôn, làng, xã có chung ranh giới ở Bình Thuận có khi
diễn ra phức tạp.
Bên cạnh đó, các thủ tục mê tín dị đoan vẫn còn xảy ra, đã tạo ra tư tưởng nghi kỵ,
nếu không biện pháp giải quyết sẽ ảnh hưởng đến anh ninh trật tự, đời sống tinh
thần, hoạt động tín ngưỡng của đồng bào Chăm. Từ khi có chỉ thị của Bộ Nội vụ
(nay là Bộ công an) về việc tranh thủ những người có uy tín trong cộng đồng dân
tộc thiểu số đã tạo thuận lợi để cho các lực lưỡng công an tỉnh, xã cùng các vị chức


sắc, sư cả giải quyết tốt hơn tình hình an ninh của các thôn, xã Chăm ở Bình
Thuận.Cùng với chính quyền địa phương, công an tỉnh, mặt trận tổ quốc, các ban,
ngành, đoàn thể trong tỉnh thiết lập tăng cương mối quan hệ với các vị chức sắc, sư
cả uy tín để giải quyết các vấn đề. Nhiều vị chức sắc, sư cả đã mạnh dạn chống lại
những luận điệu của các thế lực thù địch và phần tử xấu. Giải thích cho nhân dân
thấy rõ sự lôi kéo của đạo Tin lành với người Chăm, làm cho đồng bào Chăm xa rời
những truyên thống của dân tộc.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này tôi đã có cuộc phỏng vấn đại úy Nguyễn Thế Vinh, công
an tỉnh, người đã có lâu năm trong công tác an ninh của đồng bào Chăm tại Bình
Thuận chia sẽ thêm về vấn đề này.
Đại úy hãy cho biết trong công tác an ninh ở tỉnh ta hiện nay thì các vị chức sắc, sư

nhiều thuạn lợi hơn.
Ngoài ra các vị chức sắc, sư cả là người góp phần bảo tồn văn hoá, ở đây không
phải cứ khư khư giữ lấy cái cũ. Cùng với sự phát triển ngày nay, các vị chức sắc, sư
cả đã chủ động loại bỏ dần những yếu tố không hợp lý, không còn phù hợp với đời


sống hiện nay, đồng thời chủ động tiếp thu cái mới, tất nhiên trên cơ sở bản sắc văn
hoá truyền thống của dân tộc. Có như thế văn hoá truyền thống của dân tộc không
bị mai một mà được bảo tồn và phát triển liên tục từ quá khứ, hiện tại đến tương lai.
Công việc này là trách nhiệm của tất cả các thành viên trong cộng đồng người
Chăm và của các ngành, các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên, lực lượng cốt cán, nhân
sĩ, trí thức người Chăm tiêu biểu có uy tín. Nhưng trong các thành phần nêu trên vai
trò chức sắc, sư cả, mà đặc biệt là vai trò của các vị sư cả rất quan trọng.
Mặc dù một số nghi lễ trong tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào Chăm còn cầu kỳ,
kéo dài thời gian và tốn kém như lễ tang, lễ tôn chức sắc, lễ múa lớn nhưng thông
qua các chức sắc, sư cả để vận động người dân thực hiện đơn giản, tiết kiệm hơn, tất
nhiên vẫn bảo đảm đầy đủ các nghi thức trong một nghi lễ. Bởi vậy, vai trò và vị trí
của các vị chức sắc, sư cả ở vùng đồng bào Chăm là rất quan trọng. Họ dám hy
sinh, tận tụy để cùng chính quyền, đoàn thể xây dựng quê hương Bình Thuận ngày
càng giàu mạnh. Những truyền thống tốt đẹp ấy cần đựơc tiếp tục gìn giữ và nhân
lên trong các làng Chăm ở Bình Thuận và các làng, palei Chăm khác ở Việt Nam.
3. Những mặt hạn chế của chức sắc, sư cả Chăm hiện nay.
- Trong tôn giáo: Sự ganh tị, đố kỵ, tranh thủ tạo thế lực trong tôn giáo đã có dấu
hiệu bắt đầu. Mặc dù không nhiều nhưng nó đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự,
mất đi nết đẹp tôn giáo bao đời mà nhiều thế hệ đã cất công gìn giữ. Trong nội bộ
tôn giáo do chia ra thành từng vùng, từng khu vực nên thường xảy ra tình trạng gây
mất đoàn kết như tranh chấp chức sư cả, không thống nhất ngày tháng và cách thức
hành lễ trong nội bộ. Giáo lý, giáo luật không được phổ biến rộng rãi và rõ ràng nên
mỗi vị chức sắc hiểu và thực hiện khác nhau vai trò của các chức sắc đang phai dần
trong xã hội Chăm.

đó từ bỏ cái lạc hậu giúp cộng đồng Chăm đi đến tiến bộ xã hội.
-Khuyến khích, tạo điều kiện để họ tham gia các hoạt động chính quyền tại địa
phương, để họ góp tiếng nói của mình vào sự phát triển chung của làng, xã.
-Mời họ tham gia các buổi tập huấn, các buổi tuyên truyền về sức khỏe, pháp luật,
giao thông…để họ triển khai trong cộng đồng. Cần mời họ thường xuyên tham gia
vào các buổi tiếp xúc cử tri, đẻ họ giải bày những tâm tư nguyện vọng của cộng
đồng mình.
-Trong các cuộc vận động hay giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân
tộc Chăm để có hiệu quả cần tranh thủ vai trò của lực lượng cốt cán, các vị nhân sĩ
trí thức và các chức sắc, sư cả đặc biệt là các vị sư cả trong vùng Chăm. Bởi vì mọi
vấn đề liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng Chăm đều do sư cả Chăm quyết định.
-Các ngành, các cấp cần thường xuyên theo dõi nắm bắt các diễn biến tư tưởng
trong nội bộ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với các vị chức sắc, sư cả và thông qua các
vị chức sắc, sư cả để vận động, giáo dục, thuyết phục đồng bào cần giữ gìn bản sắc
văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo truyền thống của mình. Thực tế thời gian qua cho thấy,
phương pháp này rất thành công. Nhiều đối tượng do tác động của sư cả, trưởng tộc
họ và của gia đình, đã trở lại tôn giáo truyền thống. Điều này đã được người dân ở
địa phương đồng tình ủng hộ rất cao.
Làm tốt các yêu cầu trên thì các cấp cơ quan, đơn vị, tổ chức, chính quyền sẽ
thấy được sự hiểu quả công việc mà các vị chức sắc, sư cả mang lại. Từ đó đi sâu
vào thực tế, đời sống xã hội Chăm, để có các biện pháp phát huy hơn nữa vai trò
của họ trong cộng đồng. Góp phần thực hiện tốt các chính sách, chủ trương cũng
như đường lối của Đảng và nhà nước.
Đây là điều kiện rất thuận lợi để củng cố tình đoàn kết trong nội bộ dân tộc tôn
giáo, góp phần vào việc ổn định tình hình an ninh chính trị ở Bình Thuận
2. Những đề xuất nhằm cho công tác của các vị chức sắc, sư cả Chăm thêm
thuận lợi.
Vai trò to lớn của các vị chức sắc, sư cả Chăm trong cộng đồng là có thực, cần phát
huy hơn nữa những mặt tích cực của họ trong nâng cao mức sống cộng đồng và
phát triển kinh tế xã hội. Nhưng chỉ các vị chức sắc, sư cả thôi là chưa đủ, cần có sự

trình giao lưu văn hóa giữ các tỉnh có đồng bào Chăm sinh sống. Hiện nay cùng với
việc dạy tiếng Chăm trong cấp tiểu học và có Đài phát thanh truyền hình bằng tiếng
mẹ đẻ là dấu hiệu đáng mừng.
2.2. Nâng cao vai trò của người uy tín quản lý hệ thống cơ sở.
Cần đôn đốc, kiểm tra chặt chẽ hệ thống quản lý chính quyền tại cơ sở. Cần có
chính sách mới đối với các chức sắc trẻ có trình độ trong việc tham gia chính quyền
địa phương như: Mặt trận, Hội nông dân, thanh tra nhân dân… Hiện nay tình trạng
lỏng lẽo trong quản lý tại các cấp cơ sở Chăm là đáng báo động, nhiều Đảng viên,
chi bộ không quan tâm đến giải quyết công việc của dân. Những bức xúc, phản ánh
của dân không được giải quyết kịp thời dẫn đến việc mất lòng tin của các chức sắc,
sư cả vào chính quyền, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước.
Vì vậy nhiệm vụ trọng tâm của các làng, thôn, xã Chăm hiện nay là xây dựng một
hệ thống cơ sở Đảng vững mạnh và trong sạch. Quan tâm sâu sắc đến đời sống, tâm
tư, nguyện vọng của các chức sắc, sư cả Chăm trong việc giải quyết những thắt
mắc, bức xúc trong dân thỏa đáng, có như vậy mới làm tăng lòng tin của nhân dân
vào chính quyền, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước.


2.3. Thực hiện tốt các chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Đi đôi với việc nâng cao đời sống tinh thần và nâng cao chất lượng quản lý nơi cơ
sở thì việc quan trọng nhất hiện nay là thực hiện tốt các chính sách dân tộc tôn giáo
của Đảng và Nhà nước.
Thự hiện tốt các chính sách phát triển dân tộc và tôn giáo. Quan tâm hơn đên đời
sống của các cộng đồng dân tộc có đạo. Thực hiện các chính sách phát triển bình
đẳng giữa các tôn giáo, đảm bảo việc tự do tín ngưỡng trong tôn giáo.

Kết Luận
Trong việc nâng cao mức sống cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội ở Bình
Thuận thì các vị chức sắc, sư cả Chăm có vai trò đặc biệt quan trọng.
-Các vị chức sắc, sư cả luôn là những người tiêu biểu trong cư dân Chăm. Họ là



 .Tài liệu tham khảo.
-Lễ hội của người Chăm, của tác giả Sakaya Văn Món, NXB Văn Hóa Dân Tộc
năm 2003.
-Các vấn đề văn hóa- xã hội Chăm, tiểu luận của tác giả Inrasara, NXB Văn Hóa
Dân Tộc năm 1999.
-Văn hóa –xã hội Chăm , nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận của tác giả Inrasara,
NXB Văn Học năm 2003.
-Phát huy vai trò các vị chức sắc, sư cả ở dân tộc Chăm, của tác giả Lê Quốc Hùng (
tạp chí văn học nghệ thuật số 97/ 2006).
-Ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ với Chăm Bàlamôn Ninh Thuận, của tác giả Phan
Quốc Anh (trích từ văn hóa nghệ thuật Ninh Thuận số 9/2001 ký hiệu ISSN 08668655).
-Văn học Chăm II của Inrasara (Nhà xuất bản. Văn Hóa Dân Tộc-1996).
-Đời sống văn hóa và xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh, của Phú Văn
Hãn làm chủ biên, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội năm 2006 trang 110-117.
-Tổ chức tôn giáo và xã hội người Chăm Bà ni ở Phan Rang, của TS. Thành Phần,
Đăng trên Tập san khoa học, Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, số
01 năm 1996, trang 165-172.
-Đặc điểm cư trú người Chăm qua các thời kì, của TS. Thành Phần, trong cuốn Nam
Bộ Đất và Người, tập III, Hội Khoa Học Lịch Sử thành phố Hồ Chí Minh, NXB trẻ,
TP.HCM trang 461-477.(1)
-Công tác tôn giào ở vùng đồng bào dân tộc Chăm Ninh Thuận hiện nay, của tạp chí
Dân tộc học , ngày 02/01/2008.
-Tôn giáo người Chăm Ninh Thuận, của Phan Quốc Anh, Tạp chí văn hóa nghệ
thuật, 1973-2004.(www. vanhoanghethuat.org.vn)
-Thực trạng xã hội Chăm, của Nguyễn Văn Tỷ, Tagalau 4, NXB Văn Hóa Dân Tộc.
(1,3)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status