TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
--------------------------
Tiểu luận Các quá trình sản xuất cơ bản
PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIẤY NHIỆT CƠ
Sinh viên thực hiện: Phó Đức Trung
Đặng Song Hải
Cao Thu Trang
Lớp: Kỹ thuật môi trường K52
------
Hà Nội, 1/12/2009
1
Mục lục
Mở đầu......................................................................................................................3
1. Giới thiệu chung về ngành giấy.........................................................................4
1.1. Lịch sử sản xuất giấy....................................................................................4
1.2. Tình hình sản xuất giấy trên thế giới............................................................5
1.3. Tình hình sản xuất giấy ở Việt Nam.............................................................7
2. Sơ lược về một số công nghệ sản xuất giấy hiện nay.....................................13
2.1. Đặc thù của công nghệ sản xuất giấy bằng phương pháp nhiệt cơ............13
2.2Quy trình sản xuất giấy bằng phương pháp nhiệt cơ....................................18
2.3. Ưu nhược điểm của sản xuất giấy theo phương pháp nhiệt cơ..................20
3. Công nghệ sản xuất giấy nhiệt cơ....................................................................21
3.1. Quy trình sản xuất......................................................................................22
3.2. Ưu và nhược điểm của phương pháp.........................................................22
4. Dòng thải của phương pháp sản xuất giấy nhiệt cơ......................................22
5. Một số biện pháp xử lý môi trường.................................................................27
6. Phụ lục
Tiết kiệm nước trong nhà máy giấy.....................................................29
7. Tài liệu tham khảo............................................................................................30
2
và bị phân hủy sinh học.
Giấy cói (giấy chỉ thảo) làm bằng một loại lau sậy (cây cói giấy hay cây chỉ
thảo – cyperus papyrus) được buộc vào với nhau và đặt chéo lên nhau trước khi
được ép lại. Người ta viết trên đó bằng mực đỏ hay đen. Mực đen bao gồm bồ hóng
và một dung dịch từ nhựa của cây keo (gummi arabicum). Mực đỏ được làm từ
hoàng thổ. Người ta dùng một cây cọ làm từ cây sậy (cây lau) để viết.
Giấy cói cổ từ Ai Cập
Trung Quốc cổ đại ghi chép sự việc trên mai rùa, xương thú, thẻ tre, ván, đồ
đồng, bia đá v.v... Chữ khắc trên mai rùa và xương thú nổi tiếng là tiền thân của
chữ Hán hiện đại, chính vì được khắc trên mai rùa, xương thú và đồ đồng đen, chữ
viết này được lưu truyền đến thế hệ sau. Cho đến nay, các mai rùa, xương thú trên
4
có chữ viết được khai quật ra đã có khoảng 2.000 năm lịch sử. Sau đó, cổ đại Trung
Quốc còn viết chữ trên thẻ tre và ván. Xét từ tác dụng và tính chất, thẻ tre và ván
giống như mai rùa và xương thú. Tiếp theo thẻ tre và ván, hàng tơ lụa cũng từng
dùng để viết chữ, nhưng chủ yếu là hoàng gia quý tộc sử dụng.
b. Phát minh ra giấy:
Hình mẫu bước đầu của giấy xuất hiện vào năm 100 trước công nguyên. Theo
sử sách ghi chép, nhà Hán Trung Quốc xuất hiện một loại giấy làm bằng bông tơ, vì
công nghệ làm giấy này phức tạp và giá đắt, nên loại giấy này chưa được sử dụng
thực tế. Thái Luân đã thay đổi triệt để cục diện này.
Thái Luân sinh vào năm 61 công nguyên, là nhà khoa học thời nhà Hán Trung
Quốc. Thái Luân xuất thân trong một gia đình nông dân, năm 15 tuổi được chọn
làm tùy tùng của vua, từng làm quan văn cấp cao trong thời gian dài. Lúc đó, Thái
Luân nhìn thấy mọi người viết chữ không tiện lắm, thẻ tre và ván quá nặng, tơ lụa
quá đắt, giấy bông tơ không thể sản xuất nhiều và đều có khiếm khuyết bất cập.
Thái Luân bèn bắt đầu nghiên cứu biện pháp cải tiến kỹ thuật làm giấy.
Thái Luân tổng kết kinh nghiệm làm giấy của thế hệ trước, dẫn nhiều người
thợ dùng vỏ cây, vải gai, vải rách, lưới rách nát v.v... để làm giấy. Trước tiên họ cắt
hoặc thái vỏ cây, vải gai, vải rách và lưới rách nát thành từng miếng vụn, rồi ngâm
tấn so với năm 2005.
Bảng 1: Sản lượng bột giấy trên thế giới năm 2005 và 2006
Bột hóa
*
Bột cơ Bột khác Tổng
**
2005 2006 2005 2006 2005 2006 2005 2006
Bắc Mỹ 62.189 61.352 16.090 15.324 216 216 78.495 76.892
C.Âu 33.380 34.774 15.423 15.983 665 675 49.468 51.432
Châu Á 13.701 13.985 1.701 1.808 18.570 20.173 33.972 35.966
Mỹ
Latinh
13.820 14.996 1.085 1.079 707 607 15.612 16.682
C.Phi 1.837 1.874 288 294 848 857 2.973 3.024
Ểc 1.463 1.476 1.257 1.144 0 0 2.720 2.620
Tổng 126.390 128.457 35.843 35.631 21.006 25.528 183.239 186.616
Đơn vị: nghìn tấn
* Gồm cả bột bán hóa.
** Gồm cả bột không phân loại.
6
Bảng 2: Tình hình xuất nhập khẩu và sử dụng giấy tái chế theo vùng lãnh thổ
Tái chế Nhập khẩu Xuất khẩu
2005 2006 2005 2006 2005 2006
Châu Âu 57.671 61.717 11.630 12.371 18.506 19.669
Bắc Mỹ 49.918 51.819 2.625 2.407 15.741 16.926
Châu Á 62.991 70.040 25.340 28.612 5.564 5.944
Châu Úc 1.691 1.716 9 7 889 1.171
Mỹ latinh 8.616 8.927 2.161 1.925 255 294
Châu Phi 1.708 1.790 202 235 79 71
Tổng số 182.895 196.009 41.967 45.557 41.034 44.075
thể. Tổng công suất sản xuất bột giấy và giấy của CNGVN tương ứng là 200.000
8
tấn/năm và 400.000 tấn/năm. Theo thống kê của Hiệp hội giấy Việt Nam, ngành
giấy đạt tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong những năm vừa qua.
Ngành giấy trong 20 năm qua đã có sự phát triển vượt bậc, với tốc độ tăng
trưởng hành năm luôn trong khoảng 15-16%, từ 80.000 tấn/năm lên 824.000
tấn/năm. 20 năm qua, Nhà nước chỉ dồn đầu tư cho các doanh nghiệp giấy quốc
doanh, với một mục tiêu rất khiêm tốn, rất "kế hoạch hóa" chỉ để đảm bảo nhu cầu
thiết yếu về giấy in baó, giấy in & viết. Nhưng xét tổng thể phần lớn đều lỡ nhịp và
hiệu quả chưa cao, thâm chí có những doanh nghiệp lâm vào khủng hoảng tài chính
sau đầu tư. Không phải doanh nghiệp giấy quốc doanh nào cũng có lãi và có khả
năng tái đầu tư. Trong khi dù hoàn toàn không được nhà nước hỗ trợ về vốn, nhưng
doanh nghiệp tư nhân phát triển rất nhanh, nhất là sau năm 2000, phần lớn do
những người nông dân, dân nghèo thành thị bỏ sức lao động và đồng vốn ít ỏi gây
dựng. Hầu như doanh nghiệp nào ít nhiều đều cólãi và quan trọng hơn là có khả
năng tái đầu tư nên gần như từ con số 0, nay khu vực kinh tế này đã sản xuất 75%
sản lượng giấy của cả nước (60% về giá trị). Thật xót xa, 20 năm qua năng lực sản
xuất bột giấy tẩy tráng chỉ tăng từ 70.000 tấn/năm lên 80.000 tấn/năm. Đây là minh
chứng rõ ràng về tư duy kinh tế yếu kém , đậm tính cơ hội, ăn xổi và manh mún.
Chủng loại giấy sản xuất trong nước rất nghèo nàn chỉ có giấy in báo, giấy in &
viết, giấy bao gói (không tráng), giấy lụa, thể hiện rõ tính tự cấp của ngành. Dù đã
đầu tư112.000 tấn/năm năng lực sản xuất giấy tráng, nhưng nay hầu như chỉ sản
xuất giấy không tráng. Chúng ta đã bỏ qua việc gia công chế biến giấy đến sản
phẩm cuối cùng và qua đó nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm giấy.
Năm 2005, khả năng đáp ứng tiêu dùng của toàn ngành giấy là 61,92%, cụ thể như
sau: với giấy in báo: 68,42%; giấy in & viết: 89,29%; giấy bao bì (không tráng):
71,50%; giấy tráng: 5,75%; giấy lụa: 96,97%.
BỐN ĐIỂM YẾU CƠ BẢN CỦA NGÀNH GIẤY
*Lệ thuộc vào bột giấy nhập ngoại
Sản xuất bột hóa ở trong nước chỉ đáp ứng 37% nhu cầu và vì thế phải nhập
vực kinh tế năng động nhất thế giới, có nhiều cường quốc về công nghiệp giấy:
Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Inđonêxia, Đài Loan.
Xét các yếu tố tạo ra sức mạnh cạnh tranh, ngành giấy Việt Nam thua thiệt
nhiều mặt. Chỉ có yếu tố thị trường tại chỗ là lợi thế của các doanh nghiệp. Dù lao
động rẻ nhưng chi phí về lao động ở các nhà máy giấy Việt Nam lại lớn vì năng
suất lao đông thấp (trong khi một lao động Nhật Bản sản xuất được 140 tấn/năm).
Chỉ ở những cơ sở lớn công nhân mới được đào tạo bài bản, còn lại phần lớn rời
"tay cầy" ra đứng máy và trưởng thành trong thực tiễn. Trình độ công nghệ của
ngành giấy Việt Nam ở mức dưới trung bình so với thế giới, nên chất lượng sản
phẩm chỉ ở mức trung bình và thấp. Quản lý ở những cơ sở lớn mang dáng dấp "kế
hoạch hóa", còn ở những cơ sở nhỏ mang tính chất "gia đình", "tiểu chủ". Thêm
10
nữa do lệ thuộc vào bột nhập khẩu, do thực thi chính sách của ta chập chờn, khó
lường nên sức cạnh trang của ngành giấy bấp bênh.
Sức cạnh tranh yếu còn do quy mô sản xuất nhỏ, trình độ công nghệ thấp:
công suất dây chuyền bột hóa lớn nhất của Việt Nam là 61.000 tấn/năm, trong khi
đảo Hải Nam, Trung Quốc là 1 triệu tấn/năm; máy xeo lớnnhất của ta có công suất
50.000 tấn/năm, chiều rộng lưới là 4,15m, tốc độ 600-700m/phút, trong khi máy
xeo mới đầu tư ở trung quốc có công suất 800.000 tấn/năm, chiều rộng lưới là
10,4m, tốc độ là 2.000 m/phút
*Liên kết, hiệp lực và hợp tác yếu
Sự hợp tác trong bội bộ ngành kém, thậm chí một gia đình có 3 xơ sở sản xuất
nhưung ông bố ngao ngán vì bọn con trai, con dâu chèn ép. Hiện tượng phổ biến là
cả một dãy phố công xưởng nhỏ("xí nghiệp ống") ken sát vách nhau thay cho một
nhà máy và một khu dân cư (Dương Ổ, Phong Khê, Yên Phong, Bắc Ninh). Hay 3
dây chuyền mới đầu tư cùng công suất, cúng xuất xứ thiết bị, của những người có
quan hệ huyết thống, đặt cạnh nhau thay vì chung nhau một dây chuyền công suất
lớn gấp 3 lần. Hàng năm, năng lực sản xuất giấy tăng trên 100.000 tấn/năm nhưng
với cả chục dây chuyền máy, thay vì một vài dây chuyền. Thật đáng tiếc, chưa có
một dự án(bột giấy, giấy) lớn nào hoặc một công ty giấy lớn nào có dự án mời chào
ngành giấy đã bỏ qua hai kênh huy động vốn hiệu quả: huy đọng trong nội bọ và
trên thị trường chứng khoán.
Nhà nước ta coi trọng đầu tư nước ngoài (FDI), liên btục cải cách cơ chế, luật pháp,
chính sách, môi trường kinh doanh ... và dành cho FDI hầu hết mọi ưu đãi có thể.
Nhưng, so sánh với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam sau 20 năm đổi mới vẫn
bị coi là nước "chưa thân thiện" vơi FDI, khả năng cạnh tranh thu hút FDI còn thấp
so với những điều kiện thuận lợi cho phép. Nguyên nhân chính là tính tiên liệu
trong môi trường kinh doanh ở nước ta thấp chủ yếu do: tính nhất quán trong hệ
thống chính sách và quản lý thấp; các chính sách kinh tế, luật pháp..thay đổi luôn
và lúc thực thi nhiều khi bị bóp méo. Thêm nữa ta còn thiếu nhân lực cung cấp cho
các dự án FDI.
Vì vậy, trong nhiều năm qua, không phải các tập đoàn bột, giấy lớn thế giới không
quan tâm đến Việt Nam (IP của Mỹ- tập đoàn lớn nhất thế giới , doanh thu trước
thuế một năm trên 27 tỉ USD, Trung Quốc, Ấn Độ...) hết đoàn này đến đoàn khác
vào tìm hiểu và không trở lại, trong khi tất cả các công ty bột, giấy lớn trên thế giới
đều đổ xô đến Trung Quốc. Cũng có một số đề xuất liên doanh nghiêm túc, nhưng
cũng không được chấp nhận.
Ý thức phường hội
Hiệp hội ngành nghề là một sản phẩmcủa nền kinh tế hàng hóa. Trước đây,
chắc rằng Việt Nam cũng có nền kinh tế thị trường, vì thế mới có câu "buôn có bạn,
12