Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây - Pdf 33

MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môi trường ngày nay đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, được sự
quan tâm của toàn thế giới. Hiện tại cuộc sống của chúng ta đang bị ảnh
hưởng rất lớn của sự ô nhiễm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Đặc
biệt, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và cả Việt Nam, môi trường đang bị
huỷ hoại nghiêm trọng, gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt
của nguồn tài nguyên (như ô nhiễm không khí,môi trường sinh thái, nguồn
nước sạch…), làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của con người
và sự phát triển bền vững của đất nước.
Một trong những nguyên nhân chính là do ý thức trách nhiệm của con
người đối với môi trường còn chưa đúng đắn.
Từ đó, một vấn đề bức thiết được đặt ra trước mắt chúng ta là phải tăng
cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, đặc biệt là việc tổ chức công tác
GDMT trong các trường THPT.
Tại nguyên tắc 19 trong tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về “Môi
trường con người” họp tại Stockholm - 1972 đã nêu: “Việc Giáo dục môi
trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được đạo đức,
trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”.
Trong những năm gần đây, nội dung GDMT được tích hợp, lồng ghép
ở các môn học ở trường THPT như: Sinh học, Địa lý, GDCD... Ngoài việc
giảng dạy lồng ghép, tích hợp với một thời lượng còn ít trong chương trình,
một số trường THPT đã tiến hành hoạt động ngoại khoá theo các chủ đề có
liên quan đến tình hình môi trường ở địa phương như: Nước uống, năng lượng
sử dụng trong gia đình, Bioga, rừng nhiệt đới, môi trường sinh thái, rác thải
sinh hoạt và một số vấn đề khác như V.A.C, Tết trồng cây, chương trình xanh
hoá nhà trường và các cuộc thi tìm hiểu về môi trường...

1



2


3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động GDMT ở các trường THPT .
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Việc quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT
huyện Thạch Thất –tỉnh Hà tây chưa được chú trọng đúng mức. Do đó, hiệu
quả giáo dục môi trường chưa cao,nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường
của giáo viên, học sinh và một bộ phận còn hạn chế. Nếu đề ra và thực hiện
một số biện pháp quản lý chặt chẽ, hợp lý thì hiệu quả công tác giáo dục môi
trường sẽ được nâng lên.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
5.1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về GDMT và quản lý hoạt
động GDMT ở trường THPT.
5.2. Tìm hiểu thực trạng giáo dục môi trường và các biện pháp quản lý
hoạt động GDMT ở các trường THPT Huyện Thạch thất –Tỉnh Hà tây.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDMT nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động GDMT ở các trường THPT Huyện Thạch Thất.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hoạt động GDMT trong những năm gần đây tại trường
THPT Phùng Khắc Khoan và 3 trường THPT khác trong huyện: THPT Thạch
thất, BC Thạch Thất và trường THPT Hai Bà Trưng về phương pháp giảng
dạy,tổ chức dạy lồng ghép,tích hợp nội dung GDMT trong các môn học: Địa
lý, Sinh vật, Hoá học, GDCD,kỹ thuật và công tác tổ chức ngoại khoá, hoạt
động ngoài giờ lên lớp theo chủ đề GDMT…
7. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
+ Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:Nghiên cứu,phân tích,tổng hợp
các văn bản,tài liệu có liên quan để tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài.
+ Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động giáo dục,tham quan

người càn phải đối mặt trược tiếp với sự ô nhiễm môi trường,sự cạn kiệt về tài
nguyên.Vì vậy bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu,con người phải phối
hợp hành động nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục,ngăn chặn sự ô nhiễm
môi trường,sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự phát triển bền
vững cho mọi thế hệ.
Lần đầu tiên trong lịch sử,năm 1948,tại Pa- ri,trong cuộc họp của Liên
Hiệp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên,thuật ngữ “Giáo
dục môi trường ”(GDMT) đã được sử dụng.
Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định
nghĩa GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm
nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết đẻ hiểu và đánh giá được
sự quan hệ tương tác giữa con người,nền văn hoá,thế giới vật chất bao quanh,
GDMT đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ qui tắc ứng xử với vấn
đề liên quan tới đặc tính môi trường.
Tại nguyên tắc 19 trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về “
môi trường con người “ tại Stockholm,ngày 5/6/1972 đã nêu: “ Việc giáo dục
môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được trách
nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường ”.Từ đó,ngày mùng 5 tháng 6
hàng năm trở thành “Ngày môi trường thế giới ”.
Ngay sau đó,7 chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc
(UNEP) cùng với tổ chức văn hoá,khoa học, giáo dục LHQ( UNESCO)
đã thành lập chương trình giáo dục môi trường Quốc tế (I E E P) và đã

5


đưa ra nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên
tắc hướng dẫn GDMT.
Từ sau Hội nghị Belgrate10-1975 chương trình giáo dục môi trường
quốc tế bắt đầu triển khai và có khoảng 60 quốc gia đã đưa GDMT vào các

+ Hỗ trợ xây dựng một bản chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia
về GDMT tại Việt nam.
+Tăng cường năng lực của Bộ GD&ĐT trong việc truyền đạt những
nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên.
+ Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp tiểu học và
trung học.
Những chủ đề về giáo dục môi trường không chỉ được lồng ghép vào
những môn học có liên quan đến môi trường như:, địa lý, hoá học, mà cả các
môn khác như giáo dục công dân, đạo đức, thẩm mỹ học,văn học....
- Nội dung kiến thức về giáo dục môi trường được đưa vào gồm: Mối
quan hệ của con người với tự nhiên, vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục, luật pháp
bảo vệ môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.Nội dung GDMT được
gắn liền với điều kiện địa lý, truyền thống, lịch sử văn hóa của các dân tộc ...
Khối kiến thức học sinh được trang bị ngoài những giờ học trên lớp học sinh
còn được tham gia các chương trình ngoại khoá theo các chủ đề có liên quan
đến tình hình môi trường ở địa phương như: nước uống, năng lượng sử
dụng trong gia đình, Bioga, rừng nhiệt đới, môi trường sinh thái, rác thải
sinh hoạt, và một số các vấn đề khác như:

VAC, Chương trình xanh hoá

nhà trường , Tết trồng cây, các cuộc thi tìm hiểu về môi trường: Viết truyện,
chụp ảnh , quay băng hình VIDEO,vẽ tranh....
1-2. Lý luận chung về giáo dục môi trường
1-2-1. Khái niệm về môi trường
- Môi trường theo nghĩa rộng là tập hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội nhân
tạo,có quan hệ mật thiết tác động qua lại với nhau và qua đó ảnh hưởng đến
cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của con người và giới tự nhiên.
Môi trường có vai trò đặc biệt đối với cuộc sống và chất lượng cuộc



8


và cấp bách của hệ thống Giáo dục -Đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay
và chiến lược giáo dục môi trường, là một bộ phận cấu thành của chiến lược
phát triển GD-ĐT nước ta giai đoạn 2001-2010.
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững
của đất nước.Trong quá trình phát triển, con người không chỉ khai thác thiên
nhiên mà còn phải giữ gìn bảo vệ môi trường tự nhiên,tạo lập môi trường
nhân tạo phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và sản xuất, dịch vụ, xây dựng
mối quan hệ cộng đồng tốt đẹp, bảo đảm lợi ích lâu dài cho các thế hệ hôm
nay và mai sau.
Trong khi xây dựng các triết lý, đạo lý,hệ tư tưởng xã hội con người
không chỉ lấy cuộc sống của mình mà còn lấy chính môi trường sống làm đối
tượng suy ngẫm.Nhờ đó mà hình thành, làm phong phú thêm ý thức hệ và
các quan niệm của con người về môi trường.
Đất nước ta có hàng ngàn năm văn hiến. Về mặt tinh thần người Việt
Nam chịu ảnh hưởng của nhiều hệ tư tưởng triết lý, nhiều tín ngưỡng khác
nhau, trong đó phần lớn dân cư chịu ảnh hưởng của Đạo Phật, Triết lý phật
giáo khuyên mọi người làm việc thiện, sống thanh bạch, hoà đồng với thiên
nhiên, tránh sự cám dỗ của nhu cầu cuộc sống đời thường, sống cần kiệm...
Trong ý thức truyền thống người Việt nam quan niệm con người và vũ
trụ là một. Thuyết “THIÊN--ĐịA – NHÂN HỢP NHẤT” chủ trương đưa con
người hoà đồng với thiên nhiên,với môi trường ,xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ dại của dân tộc,danh nhân văn hoá
thế giới là hiện thân của sự kết hợp những truyền thống văn hoá quý báu của
dân tộc Việt nam với tư tưởng tiến bộ của thời đại.Người sống giản dị hoà
đồng với thiên nhiên. Ngay từ năm 1960 Người phát động phong trào Tết
trồng cây để giữ gìn và làm đẹp môi trường sống.

v.v…sẽ có tác động mạnh đến vấn đề môi trường và phát triển bền vững ở
nước ta.
- Công tác quản lý môi trường ở nước ta hiện nay còn yếu kém, nguồn
đầu tư còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc bảo vệ

10


môi trường trong thời kỳ mới – công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng môi trường trong những năm gần đây
và xu thế diễn biến môi trường trong thời gian tới, báo cáo hiện trạng môi
trường Việt Nam năm 2000 của Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường đã đề
ra 8 vấn đề môi trường cần ưu tiên giải quyết một cách triệt để, cấp bách là:
- Tàn phá rừng tự nhiên, xuống cấp chất lượng rừng.
- Suy giảm đa dạng sinh học cạn,sinh học nước.
- Thoái hoá môi trường đất.
- Ô nhiễm môi trường nước.
- Ô nhiễm bụi, chì, SO2 trong không khí.
- Bão , lụt, lũ quét, hạn hán xảy ra thường xuyên.
- Xử lý và thải bỏ chất thải rắn.
- Vấn đề nước sạch và vệ sinh nông thôn.
Những vấn đề trên có liên quan trực tiếp đến mọi người dân, mọi tổ chức
kinh tế –xã hội trong đó ngành Giáo dục -Đào tạo với gần 24 triệu học sinh,
sinh viên đang sống và học tập trên mọi miền đất nước.
1-2-4. Giáo dục môi trường trong chương trình giáo dục phổ thông
Hệ thống giáo dục quốc dân từ Mầm non đến Đại học với mạng lưới
các cơ sở giáo dục và đào tạo đến tận từng thôn, ấp rộng khắp mọi miền đất
nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục môi trường.
Với một hệ thống tổ chức chặt chẽ,liên tục giữa các bậc học,ngành
học, việc tổ chức và quản lý công tác giáo dục môi trường trong hệ thống

hiện được mục đích mục tiêu dự kiến ”.
Hoặc:
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng ,có chủ đích của chủ thể
quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (Người bị quản lý) nhằm làm
cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.”
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức và điều
khiển ) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực
hiện có hiệu quả những mục tiêu của tổ chức đã đề ra.

12


Như vậy quản lý là tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) và những nhân tố liên
quan trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả cao.
Tóm lại, để quản lý một cách khoa học đòi hỏi nhà quản lý phải có
những hiểu biết khoa học về đối tượng quản lý,về môi trường...Những năng
lực quản lý còn phụ thuộc vào khả năng vận dụng một cách khôn khéo và có
hiệu quả các qui luật, sử dụng các phương pháp thích hợp vào tình hướng cụ
thể. Do đó quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
* Các mô hình quản lý
Trên cơ sở tiếp cận hệ thống người ta thường nêu lên cơ bản sau:
* Mô hình

5 yếu tố:

- Kế hoạch hoá

( Planing )



O

13
L


Mô hình này người ta viết là:

D P O L C I Per

Mô hình này nêu bật ý nghĩa quyết định trong mọi khâu của quá trình
quản lý con người.
* Mô hình 4 yếu tố là mô hình có 4 yếu tố sau đây:

P

A

D

C

Mô hình này nêu lên vai trò quan trọng của việc thực hiện (Doing). Đối
với nhà quản lý là vấn đề tổ chức thực hiện. Tất nhiên để tổ chức thực hiện
cần phải biết rõ mục đích, những việc cụ thể gì, và làm bằng phương pháp
nào:
M - N- P ( Mục tiêu,nhiệm vụ, phương pháp )
Ngoài ra mô hình đó cũng nêu lên vai trò hoạt động trôi chảy.Để đạt
được điều đó phải diều chỉnh sau khi đã kiểm tra.

trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là để thực hiện mục đích phát triển
nhân cách cho người học.
Theo nghị quyết TƯ 2,hệ thống muc tiêu quản lý giáo dục bao gồm:
- Đảm bảo quyền học sinh vào học các ngành học, cấp học, lớp học
đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn.

15


- Đảm bảo chỉ tiêu chất lượng và hiệu quả đào tạo.
- Phát triển tập thể sư phạm: đủ và đồng bộ,nâng cao trình độ về chuyên
môn nghiệp vụ và đời sống giáo viên.
- Xây dựng, sử dụng và bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho
Dạy và Học.
- Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng , Đoàn, Đoàn
thể quần chúng để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục -Đào tạo.
- Phát triển và hoàn thiện các mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội để
để làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ.
Các mục tiêu được thực hiện theo từng cấp và tạo thành một hệ thống mục
tiêu phân cấp,mục tiêu của cấp dưới chủ yếu chi phối của mục tiêu cấp trên.
Các mục tiêu có liên quan với nhau, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau.
Để đạt được mục tiêu quản lý giáo dục cần phải thực hiện tốt các chức năng
quản lý giáo dục như:
Kế hoạch hoá, Tổ chức, chỉ đạo (Chỉ huy điều hành), Kiểm tra đánh
giá. Cũng cần phải tính đến quan hệ của mục tiêu với các yếu tố khác của hệ
thống quản lý giáo dục như: nội dung, phương pháp, chủ thể, đối tượng ,
hình thức, điều kiện, môi trường, quy chế và bộ máy tổ chức quản lý giáo
dục - đào tạo.
Có như vậy mới làm cho quá trình quản lý giáo dục vận động hợp quy
luật, tạo ra sự phát triển đồng bộ và toàn diện,đạt tới chất lượng tổng thể và

lý ) trong hoạt động sư phạm.
+ Các tầng bậc cao hơn của quản lý giáo dục bao gồm các quan hệ chủ
thể quản lý ↔ Hoạt động sư phạm ↔ các yếu tố bên ngoài ↔ khách thể
quản lý.
Từ sự phân tích trên có thể nói quản lý giáo dục là một bộ phận quan
trọng của quản lý xã hội, quản lý giáo dục là quản lý cả một hệ thống,Mối
quan hệ chủ thể – khách thể, quản lý giáo dục là quản lý của sự quản lý,
quản lý cả chính bản thân mình.

17


Quản lý giáo dục là mô hình tư duy,mô hình lý tưởng sẽ đạt tới trong
năm học. Đó cũng là nhiệm vụ, chức năng cần phải thực hiện trong quá trình
vận hành của hệ thống cho đến khi kết thúc hoạt động và mục tiêu đó thường
được cụ thể hoá trong bản kế hoạch năm học.
1.3.1.3

Quản lý nhà trường

* Khái niệm
Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống
những tác động có mục đích ,có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý
(hệ giáo dục) nhằm làm cho học sinh hướng theo quan điểm giáo dục của
Đảng - thực hiện được mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề cao, biết
tự chủ, năng động sáng tạo ,có đạo đức cách mạng,tinh thần yêu nước,yêu
chủ nghĩa xã hội. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện, có sức
khoẻ và năng lực chuyên môn sâu sắc,có ý thức, có khả năng tự tạo việc
làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần .

đào tạo về GDMT:
+ Về chủ trương: Bộ GD-ĐT đã ban hành một số văn bản liên quan
đến GDMT sau:
- Thông tư liên bộ số 228/LB ngày 13-5-1991 giữa Bộ GD-ĐT và Bộ
Lâm nghiệp về hướng dẫn thực hiện chỉ thị số 106/CT của Chủ tịch Hội đồng
bộ trưởng.
- Quyết định số 3288/QĐ-BGD-ĐT –KHCN ngày 2-10-1998 về việc
phê duyệt văn bản chính sách và chiến lược thực hiện Giáo dục môi trường
trong nhà trường phổ thông Việt nam.
- Công văn số 12054/THPT ngày 22-12-1998 v/v Hướng dẫn thực hiện
giáo dục môi trường trong các trường THPT
- Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ
tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi
trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”.
Các văn bản trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức,triển

19


khai các hoạt động Giáo dục môi trường ở các cơ sở GD-ĐT trong hệ thống
giáo dục quốc dân trong thời gian vừa qua.Tuy nhiên để đáp ứng tốt yêu cầu
tăng cường công tác GDMT ở nhà trường phổ thông trong giai đoạn mới
(2001-2010) hệ thống các văn bản pháp quy về GDMT cần được tiếp tục bổ
sung hoàn thiện, đặc biệt là các văn bản về chính sách và chiến lược thực
hiện GDMT trong nhà trường phổ thông.
1.3.2.2. Nội dung GDMT ở trường THPT
Giáo dục môi trường

được đưa vào trường THCS và trường


ngoài ra các nhà trường cần tổ chức cho học sinh cắm trại, ngoại khoá , dã
ngoại để học sinh được tiếp xúc với môi trường tự nhiên nhiều hơn và trực
tiếp tham gia vào việc bảo vệ môi trường.
+ Nội dung GDMT trong chương trình bậc học THPT đều có thể tích
hợp,lồng ghép nội dung GDMT vào nhiều môn học trước hết là:
Sinh vật, Địa lý, kỹ Thuật, GDCD, văn học....
Sau đây ta có thể lập bảng thời lượng khối kiến thức GDMT được tích
hợp trong các môn học ở bậc THPT như sau:
Số
TT
1
2
3
4
5
6
7

Môn
học
GDCD
Địa
Sinh
Kỹ thuật
Văn

Hoá

Số tiết được tích hợp
THCS

16/33
7/66
10/66
2/99
4/66

L12
5/50
2/33
13/66
1/66
14/66
3/99
27/66

1.3.2.3 Con đường GDMT ở trường THPT
Nhà trường có sứ mệnh hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinhthực hiện

21


các vai trò xã hội của mình,cung cấp kiến thức,kỹ năng,giá trị về môi trường
và BVMT để học sinh trở thành những thành viên có ích cho xã hội.Mặc dầu
một phần những điều này,học sinh có thể thu nhận ở gia đình trong sinh hoạt
xã hội, qua các phương tiện truyền thông v.v..nhưng nhà trường có trách
nhiệm thực hiện việc giáo dụcmột cách có hệ thống,có tổ chức cho những
công dân tương lai. Chìa khoá cho tương lai nằm trong sự giáo dục thế hệ trẻ
ngày nay, trong đó tất yếu phải có GDMT.
Giáo dục môi trường ở trường THPT có tính đặc trưng, ở Việt nam
chúng ta chưa có bộ môn GDMT riêng mà chỉ diễn ra bằng 2 cách thức.Đó

Có 2 loại hình tích hợp:
+ Hình thức lồng ghép: ở hình thức này một số kiến thức môn học cũng
chính là kiến thức GDMT được đưa vào chương trình và sách giáo khoa theo
các mức độ khác nhau.
Các kiến thức GDMT này có thể chiếm cả chương, một bài trọn vẹn,một
đoạn,thậm chí 1 câu trong 1 bài học.
+ Hình thức liên hệ:
Hình thức này các kiến thức GDMT không được nêu rõ trong sách giáo
khoa, không dựa vào kiến thức bài học.Người giáo viên có thể bổ sung các
kiến thức đó bằng cách liên hệ các kiến thức GDMT vào bài giảng trên lớp
dưới hình thức các ví dụ khi phân tích bài học một cách hợp lý.
Do nội dung GDMT được tích hợp trong các môn học như đã nêu trên nên
công tác quản lý của người hiệu trưởng về GDMT cũng được xem như một
bộ phận của quản lý chuyên môn,với tỷ lệ hoạt động lên lớp và ngoại khoá
đặc trưng cho GDMT.
+ Hoạt động quản lý (GDMT) này của cán bộ quản lý nhà trường là hoạt
động chủ đạo,quan trọng trong quá trình dạy học . Quản lý hoạt động dạy học
GDMT cũng giống như quản lý các bộ môn khác bao gồm:
Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học, quản lý việc soạn bài và
chuẩn bị lên lớp, quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học có nội
dung GDMT, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, quản lý hồ

23


sơ chuyên môn, quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về
phương pháp soạn,giảng những giờ học có nội dung GDMT.
1.3.3.1. Quản lý việc thực hiện chương trình (có lồng ghép GDMT)
Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục
tiêu của nhà trường.Chương trình là văn bản pháp quy nên Cán bộ quản lý

+ Đầu năm học:
- Kiểm tra kế hoạch giảng dạy của giáo viên về nội dung GDMT, các yêu
cầu về tài liệu giáo khoa, đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo,chi phí cần thiết
cho việc thực hành.
- Hàng tháng kiểm tra việc thực hiện chương trình,sinh hoạt tổ chuyên môn
về việc chuẩn bị giờ lên lớp cho nội dung trên.
- Hàng tuần thực hiện kiểm tra việc thực hiện phiếu báo giảng trước và lập
phiếu báo giảng mới đầy đủ.
- Giao cho phó hiệu trưởng chuyên môn, hoặc tổ trưởng chuyên môn kiểm
tra công việc đã quy định: Giáo án, hồ sơ sổ sách,sử dụng đồ dùng dạy
học,thực hành …
1.3.3.3. Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
- Giờ lên lớp của giáo viên là phản ánh toàn bộ những gì họ đã tích luỹ
được đồng thời cũng là lúc thể hiện tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề
nghiệp của giáo viên. Cán bộ quản lý không thể quản lý trực tiếp nhưng phải
tìm biện pháp để giáo viên tự kiểm soát được giờ lên lớp của họ với thời
lượng, phương pháp tích hợp,lồng ghép trong bài học những nội dung đã qui
định có nội dung GDMT.
- Yêu cầu của hiệu trưởng trong việc quản lý giờ lên lớp của giáo viên,
xây dựng và tổ chức giờ lên lớp một cách kế hoạch và thực tế để đánh giá giờ
giảng dạy của giáo viên, đánh giá thi đua, nhưng điều quan trọng hơn là tạo
cơ sở để giáo viên tự đánh giá kết quả công việc của mình và phấn đấu vươn
lên.
- Tiêu chuẩn giờ lên lớp phản ánh trình độ thực tế của giáo viên trong từng
giai đoạn. Vì vậy cần thấy rõ sự vận động của các tiêu chuẩn làm cho nó ngày

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status