TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TOÁN – TIN
____
GVHD:TRẦN NHƯ CƯƠNG
SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
MSSV: K33101080
LỚP: TOÁN 3B
____________
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2010
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
1. Lý do chọn đề tài.
Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử sôi động nhất, hào
hung nhất, oanh liệt nhất. Kể từ khi có Đảng, dân tộc ta tiếp tục giành được những thắng
lợi mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, thể hiện những bước nhảy vọt trong tiến
trình lịch sử của dân tộc. Mở đầu là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tiếp đó là thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; và đến nay chúng ta cũng khẳng địng công cuộc đổi mới
của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang giành được những thắng lợi lớn, "có
ý nghĩa lịch sử sâu sắc"… Tất cả những thắng lợi đó của dân tộc không thể phủ nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày nay, nhân dân Việt Nam, đặc
biệt là thế hệ trẻ đã và đang được trực tiếp
hưởng thụ những thành quả của cách
mạng, từ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt
của Đảng, việc giáo dục cho các thế hệ
dân tộc Việt Nam không còn là vấn đề mới, mà đây là vấn đề có lịch sử nghiên cứu từ rất
lâu và cũng được sự quan tâm của nhiều tác giả, nhóm tác giả, nhiều cơ quan, tổ chức…
và đến nay vấn đề này cũng được công bố rộng rãi, là một trong những nội dung giảng
dạy ở không chỉ các trường cao đẳng, đại học, mà còn ở các cấp học phổ thông. Như vậy,
đây là vấn đề đã mang tính phổ biến và không còn là mới. Song, tác giả lựa chọn cách
tiếp cận là đặt trực tiếp sự ra đời của Đảng trong bối cảnh lịch sử dân tộc và thế giới để
qua đó làm nổi bật lên ý nghĩa sự ra đời của Đảng.
--------------------------------------------
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 3
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
TÊN MỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích, yêu cầu
3. phạm vi, phương pháp nghiên cứu.
NỘI DUNG
Chương 1. Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX.
1. Tình hình thế giới và tác động của nó đối với cách mạng Việt Nam.
2. Sự chuyển biến về kinh tế- xã hội ở Việt Nam.
3. Vai trò của Nguyễn ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
11
13
14
15
16
18
19
Trang 4
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
1. Tình hình thế giới và tác động của nó đối với cách mạng Việt Nam:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên bình diện thế giới xuất hiện những biến cố
lịch sử mang tính chất là bước ngoặt của xã hội loại người.
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh
tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (ĐQCN). Chính bước chuyển này đã làm cho
mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày càng trở nên gay gắt: Mâu thuẫn vốn có trong
CNTB là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã phát triển đến
được gọi là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới. Sự hoàn thành triệt để cuộc cách
mạng đó có nghĩa là tạo lập chiếc cầu trực tiếp để chuyển sang cách mạng XHCN và
giữa chúng không có ''bức tường thành ngăn cách''.
Lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và đặc biệt là Lý luận cách mạng không ngừng
đã chỉ ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa như Việt Nam, đó là phải tiến
hành một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản. Đồng thời Lênin cũng chỉ
ra việc cần thiết phải xây dựng một Đảng cộng sản kiểu mới của giai cấp công nhân.
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, đặc
biệt là khi được trang bị bởi một học thuyết cách mạng và khoa học, cuộc cách mạng vô
sản đầu tiên nổ ra và giành thắng lợi tại Nga năm 1917.
Cờ_Huy hiệu Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Xô Viết
Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng mười
đã cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt
Vị trí của Liên bang Cộng Hòa Xã Hội
là nhân dân các nước thuộc địa. Cách mạng Tháng
chủ nghĩa Xô Viết
Mười đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt các đảng
cộng sản trên thế giới: Đản cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hunggari (1918), Đảng cộng
sản Mỹ (1919), Đảng cộng sản Anh, Đảng cộng sản Pháp (1920)…
Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các
đảng cộng sản. Tình hình đó đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế đứng ra lãnh đạo, tập
trung sức mạnh của phong trào ở tất cả các quốc gia, dân tộc (Quốc tế II đã không còn
vai trò tiên phong kể từ sau khi Ăngghen qua đời năm 1895).
Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, với khẩu hiệu "Vô sản thế giới
và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại" đã đánh dấu một giai đoạn mới của phong trào
Chúng dùng chính sách chia để trị. Chia nước ta thành 3 kỳ sát nhập với Lào,
Campuchia lập liên bang Đông Dương, nhằm xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới. Mỗi
kỳ có chính sách khác nhau hòng chia rẽ và gây thù hận giữa các sứ làm cho dân tộc ta
không đoàn kết thống nhất, không tạo sức mạnh tổng hợp chống lại chúng.
Về kinh tế, 1897 Pháp tiến
hành khai thác thuộc địa lần 1, sau
chiến tranh thế giới I (1914- 1918),
chúng khai thác lần 2 - để bù vào
những tổn thất trong chiến tranh
(vốn đầu tư với tốc độ nhanh, giai
đoạn 1924 - 1928 hơn 6 lần 1847 1918), tập trung vào hai khu vực
chủ yếu là đồn điền cao su và mỏ
than.
Tăng cường ngân hàng để
cho vay nặng lãi và thâu tóm để
kiểm soát các hoạt động kinh tế ở
Đông Dương. Chúng tăng thuế lên
2 - 3 lần so với trước, độc quyền
thuốc phiện, rượu, muối.
Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria, đời
sống người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp
Chúng thực hiện chế độ mộ phu cực kỳ man rợ và chiếm đoạt ruộng đất của nông
dân làm 50% nông dân ta mất ruộng đất. Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 7
Việt Nam hình thành nhiều mâu thuẫn đan xen lẫn nhau, song mâu thuẫn chủ yếu nhất
nổi lên lúc này là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai
phản động.
Về giai cấp cũng bị phân hóa triệt để do chính sách khai thác thuộc địa của thực
dân Pháp, ngoài những giai cấp vốn có (địa chủ phong kiến và nông dân), xã hội Việt
Nam xuất hiện những giai cấp mới như tư sản, tiểu tư sản, vô sản.
Thái độ chính trị của các giai cấp cũng có sự phân hoá sâu sắc, theo đó trong các
giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản đều có những bộ phận có thể lôi kéo, lợi dụng trong
lực lượng cách mạng ; các giai cấp tiểu tư sản và nông dân đều có tinh thần hăng hái cách
mạng, là lực lượng quan trọng của cách mạng. Đặc biệt là công nhân, tuy chiếm khoảng
1% dân số nhưng là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng nếu được trang
bị Chủ nghĩa Mác- Lênin.
Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước theo nhiều khuynh hướng khác
nhau đã diễn ra: Phong trào Cần Vương (1885 – 1896), Khởi nghĩa của nông dân Yên
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 8
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
Thế (1885 – 1913), Phong trào Đông Du (1906 – 1908), Phong trào Duy Tân (19061908), Phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925 - 1926), Phong trào cách mạng
quốc gia tư sản, gắn liền với hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng (1927 - 1930)...
Nhưng tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại, cách mạng Việt Nam rơi vào cuộc
khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng.
3. Vai trò của Nguyễn ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam.
hội quốc tế.
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 9
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
Từ 11-11-1924 đến 1927, Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu - Trung Quốc, thành
lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông. Tháng 6 - 1925, Người sáng lập Hội Việt
Nam cách mạng thanh niên. Đây là bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức
cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ 1925 - 1927, Người mở nhiều lớp huấn luyện
chính trị tại Quảng Châu. Đầu năm 1927, những bài giảng của Người được tập hợp thành
sách với tên gọi “Đường cách mệnh”, với những nội dung cơ bản vạch ra phương hướng
cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng ở Việt Nam
Năm 1928, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên chủ trương “Vô sản hóa”, Đến
1929 phong trào công nhân và phong trào yêu nước
phát triển rất mạnh mẽ. Các yếu tố thành lập Đảng
đã xuất hiện, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
bị phân liệt, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam lần
lượt ra đời. Yêu cầu của phong trào dân tộc dân chủ
ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một
Đảng Cộng sản.
Nguyễn ái Quốc với tư cách là biệt phái viên
của Quốc tế cộng sản, triệu tập các tổ chức cộng
sản và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng
sản thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Hội nghị
Tiểu luận lịch sử Đảng
Trước sự xuất hiện 3 tổ chức cộng sản ở trong nước thì Quốc tế CS đã viết thư kêu
gọi những người CS ở Việt Nam là phải nhanh chóng hợp nhất 3 tổ chức CS, thành lập
Đảng CS đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Ai Quốc là thay mặt quốc tế CS
hợp nhất 3 tổ chức CS thành lập ra Đảng CS. Sau chỉ thị của quốc tế CS đồng chí
Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các văn kiện cho hội nghị hợp nhất và
khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất thì hội nghị hợp nhất 3 tổ chức CS tiến hành 3 đến
7-2-1930 tại Hương cảng Trung Quốc: Hội nghị thảo
luận bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, quyết định thành
lập Đảng CS và lấy tên là Đảng CS Việt Nam, thông
qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ
tóm tắt và lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
nhân dịp thành lập Đảng, bầu Ban chấp hành trung
ương lâm thời. Hội nghị được coi như là hội nghị
thành lập Đảng và các văn kiện do Hội nghị thông
Cờ Đảng Cộng Sản Việt Nam
qua chính là cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, là bước ngoặc vĩ đại trong
phong trào cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ giai cấp Công nhân Việt Nam đã trưởng
thành. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lenin và
phong trào Công nhân. Đây là quy luật thành lập Đảng của giai cấp Công nhân Việt
Nam.
--------------------------------------------“Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam”.
Hồ Chí Minh
“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý
ấy không bao giờ thay đổi”.
Hồ Chí Minh
dân đảng (1927 - 1930). Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc
Nhu và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất theo khuynh hướng tư sản
ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản , địa chủ, cả học sĩ quan Việt Nam
trong quân đội Pháp.
Về chủ trương Đảng mô phỏng chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Về chính
trị, Đảng chủ trương đánh Pháp, xóa bỏ chế độ vua quan, lập dân quyền, nhưng chưa bao
giờ có đường lối chính trị rõ ràng, cụ thể. Về tổ chức Đảng chủ trương xây dựng các cấp
từ TW đến cơ sở nhưng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất. Về phương
pháp đấu tranh, nặng ám sát cá nhân, lấy bạo động làm lối thoát.
Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái vào 9- 2- 1930 với phương châm “không thành
công cũng thành nhân” đã bị thực dân Pháp dìm phong trào trong biển máu. Vai trò của
Việt Nam quốc dân Đảng trong phong trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất
bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 12
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
Lược đồ cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930
Trong khi các giai cấp, tầng lớp đều lần lượt bước lên vũ đài chính trị nhưng đều
không được lịch sử chấp nhận thì với nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên, Chủ nghĩa Mác- Lênin được truyền bá rộng rãi vào phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam và đang khẳng định được
sức mạnh của mình. Nếu như những năm 1919- 1925, phong trào công nhân được đánh
hướng phát triển từ tự phát sang tự giác. Chính xu hướng đó đã làm cho nhu cầu tất yếu
của lịch sử đòi hỏi phải thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam, làm cho Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình đã bị phân liệt dẫn
đến sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản và cuối cùng là sự tất yếu phải hợp nhất để thành lập
một đảng cộng sản duy nhất. Điều đó khẳng định sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
là sự lựa chọn của chính lịch sử, là sản phẩm của sự kết hợp 3 yếu tố Chủ nghĩa MácLênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
2. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng
khủng hoảng về lãnh đạo cách mạng những năm đầu thế kỷ XX.
Trước ách áp bức của thực dân Pháp xâm lược, các phong trào đấu tranh của nhân
dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, qua đó
cũng chứng kiến nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau lần lượt bước lên vũ đài chính trị với
nhiều đường lối, phương pháp tiến hành đấu tranh khác nhau nhưng cuối cùng đều rơi
vào cùng một kết cục là thất bại.
Phong trào Cần Vương với sự lãnh đạo của giai cấp địa chủ lớp trên, giai cấp đã
không còn đủ năng lực và uy tín lôi kéo, vận động lực lượng nhân dân. Khởi nghĩa Yên
thế "nặng cốt cách phong kiến" vì hoạt động đấu tranh của nghĩa quân chỉ dựa vào tài
thao lược của một lãnh tụ, khi lãnh tụ mất, phong trào cũng vì thế mà tan rã. Đông Du có
phương pháp đấu tranh đúng đắn là dùng bạo động nhưng lại không biết xác định bạn
thù, đồng thời lại không có biện pháp cụ thể phù hợp để thực hiện bạo động. Duy Tân thì
phương pháp đấu tranh cải lương, không tưởng. Việt Nam quốc dân đảng biểu thị tính
bồng bột, hăng hái nhất thời của tầng lớp tiểu tư sản... nhìn chung tất cả các phong trào
thất bại vì không có đường lối đấu tranh phù hợp với xu thế của thời đại; không có giai
cấp lãnh đạo giữ vị trí là giai cấp trung tâm của thời đại.
Với những biến cố lịch sử đã xuất hiện trên thế giới cho thấy phạm trù của cách
mạng thế giới đã chuyển sang phạm trù cách mạng vô sản, tất cả các cuộc cách mạng trên
thế giới, kể cả cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo đường lối
của cách mạng vô sản và theo đó, giai cấp cách mạng nhất, giữ vai trò tiên phong, có sứ
mệnh lịch sử là giai cấp trung tâm của thời đại lúc này tất yếu phải là giai cấp vô sản. Vì
Do CNTB đã phát triển đến giai đoạn cao, giai đoạn ĐQCN, mâu thuẫn nội tại của
CNTB đã và đang tạo ra tính tất yếu của các cuộc cách mạng vô sản và trên bình diện thế
giới, cuộc cách mạng vô sản đầu tiến đã giành thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy, thời đại mới
đã mở, đó là thời đại của cách mạng vô sản, phạm trù cách mạng thế giới đã chuyển sang
phạm trù cách mạng vô sản, cho nên tất cả các cuộc cách mạng trên thế giới, kể cả cách
mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo đường lối của cách mạng vô
sản.
Song, ở Việt Nam trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, các phong trào
đấu tranh lại chủ yếu diễn ra theo hai khuynh hướng chính trị cơ bản là phong kiến và tư
sản. Đây đều là những khuynh hướng cách mạng không còn phù hợp với thời đại mới nếu
như không muốn khẳng định là "quay ngược bánh xe lịch sử". Từ chỗ không có đường
lối cách mạng phù hợp với xu thế vận động và phát triển của lịch sử nhân loại; không có
giai cấp lãnh đạo cách mạng là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại, cho nên các
phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng phong kiến và tư sản đã không tìm thấy cho
mình không chỉ lực lượng trong nước mà quan trọng hơn là sự đoàn kết liên minh chặt
chẽ với lực lượng cách mạng thế giới để chống lại một kẻ thù đã trở thành hệ thống thế
giới. Do vậy, đây cũng được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết
cục thất bại của các phong trào.
Với sự nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Chủ
nghĩa Mác- Lênin được truyền bá rộng rãi vào phong trào công nhân và phong trào yêu
nước Việt Nam, làm cho các phong trào này, đặc biệt là phong trào công nhân phát triển
mạnh mẽ, từ tự phát sang tự giác và thành quả là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đi theo cách mạng vô
sản đã đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng thời đại, là cơ sở tiên quyết
để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới. Từ đây, giai cấp
công nhân và nhân dân lao động Việt Nam tham gia một cách tự giác vào sự nghiệp đấu
tranh cách mạng của nhân dân thế giới; từ đây sự phát triển của phong trào cách mạng
Việt Nam cũng góp phần củng cố sức mạnh của phong trào đấu tranh cách mạng thế giới
và sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới cũng củng cố sức mạnh cho cách
mạng Việt Nam.
Việt Nam là điều kiện tiên quyết để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phân của cách
mạng thế giới, cho phép cách mạng Việt Nam không chỉ phát huy được sức mạnh toàn
dân tộc mà còn kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thông qua đó tạo
nên sức mạnh tổng hợp để cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không
ngừng củng cố, xây dựng mình vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức để ngang
tầm với nhiệm vụ lịch sử được giao phó. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố
hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bắt nguồn từ sự chuyển hướng
đúng đắn, kịp thời của Đảng trong HNTW6 (11- 1939) và HNTW8 (5- 1941) trước tình
hình mới; bắt nguồn từ sự sáng suốt của Đảng trong việc dự đoán thời cơ và chớp thời cơ
thể hiện tập trung trong chỉ thị "Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (12- 31945); từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng qua các cao trào 1930- 1931, 1936- 1939... để
lịch sử dân tộc Việt Nam ghi vào dòng chảy của mình một cuộc "cách mạng thần thánh"
giành chính quyền, lập lên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; đưa nhân dân ta từ
thân phận là người nô lệ trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc; đưa Đảng ta từ một
Đảng bí mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền...
Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Đảng cộng sản
Việt Nam với đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn, sáng tạo cũng thể hiện rõ vai trò
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 16
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
và năng lực lãnh đạo cách mạng, là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh để Việt Nam lần
lượt đánh bại các tên đế quốc hùng mạnh, sừng sỏ và hiếu chiến bậc nhất thế giới.
Với đường lối kháng chiến "toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do !”.
Hồ Chí Minh
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Hồ Chí Minh
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 18
Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử phát triển của nhân loại đang có những
chuyển biến vô cùng quan trọng, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH đã mở, tình hình
đó đòi hỏi những chiến sỹ cách mạng trên thế giới phải nhìn nhận được xu thế phát triển
của thời đại mà đề ra được đường lối và tìm ra được giai cấp lãnh đạo cách mạng phù
hợp.
Việt Nam chịu ách thống trị của thực dân Pháp, trước ách áp bức bóc lột nặng nề,
mâu thuẫn dân tộc đang diễn ra hết sức gay gắt, nhiều phong trào đấu tranh của nhiều lực
lượng và theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau đều lần lượt thất bại. Phong trào
cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo.
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ thiên tài của mình
đã sớm nắm bắt được xu thế của thời đại và nhu cầu của cách mạng Việt Nam, đã tìm
thấy ở Chủ nghĩa Mác- Lênin con đường cách mạng giải phóng cho dân tộc, mang lại tự
do, hạnh phúc cho nhân dân, đó là đường lối cách mạng theo con đường cách mạng vô
6. TS. Đinh Xuân Lý- Quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam- Nxb
CTQG- HN. 2007.
7. TS Đinh Xuân Lý (chủ biên)- Một số chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh- Nxb
CTQG- HN. 2003.
8. TS Doãn Hùng, TS Ngọc Hà, TS Đoàn Minh Huấn- Đảng cộng sản Việt Nam những
tìm tòi và đổi mới trên con đường lên chủ nghĩa xã hội (1986- 2005)- Nxb Lý luận chính
trị- HN. 2006.
9. Trang web của tạp chí cộng sản và các tài liệu thu
thập từ internet.
Sưu tầm: Congtuthich.Blogspot.com
Trang 20