Mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp tư nhân của sở giao dịch ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 33

21

LỜI MỞ ĐẦU
cho SGD. Việc tìm hiếu thực trạng hoạt động cho vay đối với DNTN của SGD,
và đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động này là rất cần thiết. Vì lý do
Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực
trên, đề tài “Mở rộng cho vay đối vói các doanh nghiệp tư nhân của Sở Giao
phù hợp với xu thế phát triến chung của thế giới. Một trong những chuyển biến
dịch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu.
đó là sự lớn mạnh không ngừng của doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư
nhân cóNgoài
sự giaLời
tăng
về đề
số tài
lượng
càng khẳng định được vị
mởnhanh
đầu vàchóng
Ket luận,
bao và
gồmngày
3 chương:
trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Các doanh nghiệp này đóng góp lớn vào
• Chương 1 :Cho vay đối với DNTN của NHTM - những vấn đề lý luận cơ bản.
GDP của cả nước, góp phần chuyển dịch CO' cấu kinh tế, tạo ra nhiều việc làm và
tạo •co chế
cạnh2:Thực
tranh thúc
Sự phát
triển Ngân

nhu cầu rất lớn của các DNTN. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các DNTN
cần vay vốn tại SGD, mà còn gây khó khăn cho chính SGD. Trong môi trường
cạnh tranh gay gắt, SGD khó có thể phát triển nếu không khai thác tốt thị trường


3

CHƯƠNG 1. CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP Tư NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN cơ BẢN
1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1

Hoạt động CO’ bản của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian thực hiện việc chuyển vốn từ
người cho vay đến người đi vay. Các loại NH bao gồm: NH thương mại, NH
phát triển, NH đầu tư, NH chính sách, NH hợp tác... Trong đó, NHTM là loại
hình chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng, thị phần và quy mô tài sản. NHTM là
“to chức tài chỉnh cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chỉnh đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng
tài chính nhất so với bất kỳ một to chức kinh doanh nào trong nền kinh tể ”. Các
dịch vụ tài chính mà NHTM cung cấp là không thề thiếu đối với hầu hết các hoạt
động kinh tế. Do đó, đối với nền kinh tế, NHTM có vai trò rất quan trọng.
Trước hết, NH làm tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính. Nhờ
NH mà những người có món tiết kiệm nhỏ nhận được thu nhập từ tiền lãi cho
vay, đồng thời những người cần vay các món tiền nhỏ có thể vay được tiền. Điều
này không thể có được ở thị trường tài chính. NH làm tăng thu nhập cho người
tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm chi phí đi vay cho người
đầu tư, từ đó khuyến khích đầu tư. Chính vì thế, hệ thống tài chính trở nên hoàn
hảo hơn. Luồng vốn được luân chuyến dễ dàng và thường xuyên hơn, thúc đẩy


Hoạt động huy động vốn
Hoạt động đầu tiên của NHTM là huy động vốn. Thực tế, để bắt đầu hoạt
động, chủ NH phải có một lượng vốn nhất định gọi là VCSH. Tuy nhiên, VCSH
thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ, khoảng 5% tổng nguồn vốn. Là tổ chức cung ứng
vốn chủ yếu của nền kinh tế, NH buộc phải huy động vốn. Hoạt động này sẽ
hình thành nên vốn nợ của NH. vốn nợ bao gồm tiền gửi, tiền vay và các loại
vốn nợ khác.
Nghiệp vụ đầu tiên của NH khi đi vào hoạt động là mở tài khoản TG đế
giữ hộ và thanh toán hộ cho KH. Qua nghiệp vụ này, NH huy động được lượng
tiền nằm rải rác trong xã hội. NHTM nhận TG từ các tổ chức, cá nhân và các tổ
chức tín dụng khác dưới hình thức TG không kỳ hạn, TG có kỳ hạn và các loại
TG khác. Tiền gửi của KH là bộ phận quan trọng nhất, thường chiếm tỷ trọng
hơn 50% tổng vốn của NH. Tuy nhiên, tiền gửi phải được thanh toán khi có yêu
cầu của KH, ngay cả khi đó là TG có kỳ hạn chưa đến hạn. Quy mô và cơ cấu
TG cũng phụ thuộc nhiều vào những biến động về lãi suất, tỷ lệ lạm phát và thu
nhập của KH. Vì thế, đây là nguồn kém ổn định, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của
NH. Hơn nữa, vốn từ huy động tiền gửi không đủ đế đáp ứng nhu cầu cho vay và
một số nhu cầu chi trả khác của NH. Bởi vậy, NHTM phải đi vay để bổ sung vốn
cho mình.
Do đặc điểm không ổn định của TG, và vốn từ huy động TG không đủ
đáp ứng nhu cầu vay của KH, NH phải vay thêm vốn tù’ các nguồn khác. NHTM
không thường xuyên đi vay mà chỉ vay khi càn thiết. Việc đi vay chủ yếu nhằm
đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. NHTM có thể vay từ


6

với NHNN, hình thức vay chủ yếu của NHTM là được tái chiết khấu hoặc tái cấp
vốn theo hạn mức nhất định. Mặc dầu vậy, việc NHNN có cho NHTM vay hay

được quản lý chặt chẽ, đảm bảo cho hoạt động của NH an toàn và đạt hiệu quả
cao.
Ngoài ra, các NHTM còn đầu tư vào chứng khoán nhằm mục tiêu thanh
khoản và đa dạng hoá tài sản. Các loại chứng khoán mà NHTM thường nắm giữ
là: chứng khoán của Chính phủ trung ương hoặc địa phương, chứng khoán của
các NH khác, các công ty tài chính và chứng khoán của các công ty khác. Việc
nắm giữ chứng khoán đem lại nhiều lợi ích cho NHTM. Khi cần thiết, NH có thế
bán chúng đi để gia tăng ngân quỹ. Hơn nữa, chứng khoán còn là tài sản mang
lại thu nhập quan trọng cho NH. Các NHTM cũng thường nắm giữ chứng khoán
công ty để có quyền tham dự, kiểm soát hoạt động của các công ty đó.
Bên cạnh hoạt động cho vay và đầu tư chứng khoán, NHTM còn sử dụng
vốn để kinh doanh kiếm lời. Các hoạt động kinh doanh khác mà NHTM thực
hiện là: góp vốn, mua cổ phần các DN hoặc các tổ chức tín dụng khác, liên
doanh với tổ chức tín dụng nước ngoài, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh
vàng, ngoại hối, thành lập công ty trực thuộc....


8

(NHNN, NH và tổ chức tín dụng khác). Việc NHTM duy trì một lượng ngân quỹ
nhất định nhằm ba mục đích: thứ nhất là chi trả kịp thời mọi nhu cầu của KH,
thứ hai là duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN và thứ ba là sự tiện
lợi trong thanh toán giữa các NH. Ngân quỹ là tài sản có tính lỏng cao song khả
năng sinh lời rất thấp. Khả năng cho vay của NH sẽ bị hạn chế nhiều nếu như
ngân quỹ được duy trì ở mức cao. Do vậy, mỗi NH đều cố gắng giữ ngân quỹ ở
mức tối thiểu có thể được.
Hoạt động dịch vụ
Ngoài hoạt động huy động và sử dụng vốn, NHTM còn tiến hành hoạt
động dịch vụ để gia tăng lợi nhuận. Việc cung ứng dịch vụ giúp cho NHTM
nhận được các khoản doanh thu khác. Lợi nhuận từ mảng hoạt động này đóng

quả và có khả năng hoàn trả nợ.
Cho vay được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau: theo thời gian,
theo loại hình DN, theo phương thức, theo hình thức cho vay...
Theo thời gian thì cho vay bao gồm:



Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng



Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ trên 12 đến 60 tháng



Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng trở lên.


10

Đối với các DN, đặc biệt là DNTN, vốn vay từ các NH rất quan trọng.
Vậy các DN tư nhân là gì? Họ có vai trò như thế nào trong nền kinh tế? Vì sao
hoạt động cho vay của NHTM đối với các DN tư nhân lại có tầm quan trọng đặc
biệt? Điều này sẽ được trình bày ở phần tiếp theo.
1.2 Hoạt động cho vay đối vói doanh nghiệp tư nhân của ngân hàng thưong
mại
1.2.1

Khái quát về doanh nghiệp tư nhân


chi phí quản lý, giảm thủ tục hành chính, tạo nên lợi thế cạnh tranh với
DNNN.



Tận dụng được nhiều nguồn lực của XH tham gia vào quá trình kinh doanh.
Chính nhò' những lợi thế kể trên mà khu vực kinh tế tư nhân đang có

những bước tiến lớn. số lượng DNTN tăng dần, với tốc độ ngày càng cao. Năm
1991,

cả nước mới chỉ có 414 DNTN. Đen năm 1992, con số này tăng hơn 10

lần, lên tới 5189. 14 năm sau, tức là đến năm 2006, số DNTN hoạt động trên
cả
nước là 200,000 và năm 2007 là 260,000.(1) Quy mô vốn của các DNTN cũng

sự tăng trưởng lớn. Trong giai đoạn 2001-2005, có hơn 150,000 DNTN thành
lập
mới với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 305,122 tỷ đồng. So với giai đoạn 19911992,

con số này tăng hơn tám lần. Mức vốn đăng ký bình quân của một

DNTN,
nếu thời kỳ 1996-2000 là 0.65 tỷ đồng thì thời kỳ 2001-2005 là 2.02 tỷ đồng.
(2)

(1) (2) (3): www.mofa.gov.vn




Thứ hai, các DNTN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động theo hướng tích cực. Tỷ trọng lao động trong các ngành công
nghiệp, xây dựng tăng lên. Tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông, lâm,
ngư nghiệp giảm từ 68.2% năm 2000 xuống còn 57% năm 2005. Tỷ trọng lao
động trong ngành thương mại, dịch vụ tăng từ 19.7% lên 25%. )
Thứ ba, DNTN tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Trong 3 năm từ 2000
đến 2002, số việc làm mới mà các DNTN tạo thêm là 1.75 triệu(2).Nhiều đối
tượng như: người đến tuổi lao động cần việc làm; lao động dôi dư từ các DNNN
do tinh giảm biên chế, giải thể, phá sản; lao động nông nhàn do chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, chuyển sang làm việc trong các DNTN. Như vậy, các DNTN đã góp
phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống người dân.
Thứ tư, DNTN tạo ra sự cạnh tranh - chìa khoá phát triển của nền kinh
tế. Với đặc điếm năng động, linh hoạt, phong cách phục vụ tốt, các DNTN dần
chiếm được cảm tình của người tiêu dùng. Điều này tạo ra áp lực cạnh tranh lớn
đối với các DNNN. Sự độc quyền của DNNN trong một số lĩnh vực bị xoá bỏ,
giúp người tiêu dùng tiếp cận được nhiều sản phẩm dịch vụ tốt hơn.
Thứ năm, số lượng các công ty cổ phần trong khối DNTN tăng lên đồng
nghĩa với sự tăng trưởng về số lượng hàng hoá trên thị trường chứng khoán. Nhờ
đó, thị trường chứng khoán trở nên sôi động hơn và có tác động thực sự tới việc
tập trung vốn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế.
Ngoài
ra, các DNTN là nhân tố quan trọng giúp phát huy cao độ nội lực
(1) (2):
www.mofa.gov.vn


14

Tóm lại, DNTN đang lớn mạnh và có đóng góp lớn vào sự phát triển

rất thấp, chỉ khoảng 20% giá trị tài sản đảm bảo. DN nào thực sự có uy tín mới
được vay đến 50%.
Rất nhiều phương thức cho vay được NHTM đưa ra nhằm tạo thuận lợi
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Dựa vào nhu cầu vay của
KH và mức độ tín nhiệm của NH đối với KH, hai bên thoả thuận để lựa chọn
một phương thức cho vay trong số các phương thức sau:
Cho vay từng lần: là hình thức phổ biến đối với các KH không có nhu cầu vay
thường xuyên. Mỗi lần vay KH phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng
vốn. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, NH sẽ thu gốc và lãi.
Cho vay theo hạn mức: thường áp dụng với những KH có nhu cầu vay thường
xuyên. NH thoả thuận cho KH vay theo hạn mức - mức dư nợ tối đa được duy trì
trong một kỳ. NH không ấn định trước ngày trả nợ mà sẽ thu nợ khi KH có thu
nhập. Mỗi lần vay, KH không phải làm đơn mà chỉ cần trình bày phương án sử
dụng vốn vay, xuất trình các chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ.
Cho vay luân chuyến: thường áp dụng với các DN có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày,
có quan hệ vay trả thường xuyên với NH. NH cho DN vay khi mua hàng và thu
nợ khi DN bán hàng. Mỗi lần vay, KH chỉ cần gửi đến NH các chứng từ hoá đơn
nhập hàng. NH sẽ trả tiền cho người bán.
Thấu chi: sử dụng đối với các KH có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu
nhập ngắn. NH cho phép người vay được chi vượt số dư tiền gửi thanh toán của
mình đến một giới hạn nhất định, trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn ấy


16

Hoạt động cho vay đối với DNTN của NHTM có tầm quan trọng đặc
biệt. Trước hết, với các DNTN - khả năng tài chính rất hạn hẹp, thì vốn vay từ
NH nhiều khi là vấn đề sống còn. Nguồn tài chính từ NH giúp cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của DN diễn ra liên tục, giúp họ có co hội tái đầu tư, mở rộng
sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm... Hon nữa, khi vay vốn của NH, DNTN


tư nhân
Quy trình cho vay là tổng hợp các công việc mà cán bộ tín dụng và các
phòng ban có liên quan phải thực hiện khi cấp vốn cho KH. Mỗi NHTM thường
xây dựng cho mình một quy trình cho vay. Giữa các NH, quy trình ấy có thể có
sự khác biệt, tuỳ thuộc vào đặc điếm và khả năng tổ chức của NH. Tuy nhiên


18

Bưóc 1: Phân tích trưóc khi cho vay
Đây là bước quan trọng nhất, quyết định tới chất lượng khoản vay. Nội
dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến KH, bao gồm: năng
lực sử dụng vốn vay, uy tín, khả năng tạo lợi nhuận, quyền sở hữu tài sản và các
điều kiện kinh tế khác của người vay. Có nhiều phương pháp để thu thập thông
tin. NH có thể gặp gỡ trực tiếp khách hàng, có thể mua hoặc tìm kiếm thông tin
từ các nguồn như: nhà cung cấp, khách hàng của DN, phương tiện thông tin...
Ket thúc bước 1, NH đánh giá được nhu cầu vay của KH, tính khả thi của
phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, các thiệt hại có thể xảy ra...
Neu thấy các yếu tố trên không phù hợp với điều kiện của mình, NH sẽ từ chối
cho vay. Ngược lại, NH sẽ tiến hành bước 2.
Bưóc 2: Xây dựng và ký kết họp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là văn bản có tính pháp lý, xác định quyền và nghĩa
vụ của NH và KH trong quan hệ tín dụng. Các điều khoản trong hợp đồng do hai
bên thoả thuận thống nhất, đồng thời phải tuân theo đúng Luật. Các yếu tố chủ
yếu của một hợp đồng tín dụng là: thông tin chung về khách hàng; Mục đích sử
dụng vốn vay; số tiền mà NH cam kết cấp cho KH; Lãi suất cho vay; Mức phí
tín dụng; Thời hạn cho vay; Các loại đảm bảo; Điều kiện và kỳ hạn giải ngân...
Bưóc 3: Giải ngân và kiếm soát trong khi cho vay
Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, NH có trách nhiệm cấp tiền cho



20

Mức độ mở rộng cho vay đối với DNTN được đánh giá dựa trên một số
chỉ tiêu cơ bản sau đây:


Số lượng DNTN vay vốn tại NH: chỉ tiêu này được tính trong một khoảng
thời gian nhất định, thường là một năm. Sự tăng trưởng của nó qua các năm
cho
thấy NH đang mở rộng cho vay đối với DNTN.



Doanh số cho vay DNTN: Doanh số cho vay là tổng số tiền NH đã cho vay
ra trong kỳ. Doanh số cho vay DNTN tăng dần qua các kỳ chứng tỏ hoạt động
cho vay đối với DNTN của NH đang được mở rộng.



Dư nợ cho vay DNTN: dư nợ cho vay là số tiền mà NH đang cho vay vào
thời điểm cuối kỳ. Đây là chỉ tiêu tích ĩuỹ qua các thời kỳ, tính theo công thức:
DNCVkỳ này = DNCV kỳ trước + DSCV trong kỳ - DS thu nợ trong kỳ

Đây là chỉ tiêu phản ảnh rõ nhất về sự mở rộng cho vay của NH. Neu dư nợ cho
vay đối với DNTN kỳ này lớn hơn kỳ trước, có thể khẳng định rằng, hoạt động
cho vay đối với DNTN đang được NH mở rộng.



Những nhân tố sau đây thuộc về bản thân NHTM, có ảnh hưởng đến việc
mở rộng cho vay đối với DNTN của NHTM.
Chỉnh sách tín dung'.
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh cho vay của một NH. Vì thế nó
là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến hoạt động cho vay đối với DNTN. về cơ
bản, nội dung của chính sách tín dụng bao gồm chính sách marketing, chính sách
về quy mô và giới hạn cho vay, chính sách lãi suất và thời hạn cho vay, chính
sách về các khoản đảm bảo...


22

thống, KH mục tiêu, KH có nhiều rủi ro... Trên cơ sở đó, NH sẽ xây dựng chính
sách marketing áp dụng riêng cho từng loại KH. Một chính sách marketing hợp
lý, huớng tới nhóm KH là DNTN sẽ thúc đẩy các DNTN đến vay vốn tại NH. Từ
đó, hoạt động cho vay đối với DNTN được mở rộng.
Chính sách về quy mô và giới hạn cho vay ảnh hưởng trực tiếp tới quy
mô các khoản vay mà DNTN nhận được từ NH. Bên cạnh các quy định của pháp
luật, mỗi NH thường có quy định riêng về quy mô và giới hạn cho vay đối với
từng KH cụ thế. Ví dụ như quy mô cho vay tối đa đối với từng KH, từng ngành
nghề, quy mô cho vay trên giá trị vật đảm bảo... Khi muốn mở rộng cho vay đối
với các DNTN, NH sẽ nới lỏng chính sách này theo hướng tăng quy mô và mở
rộng giới hạn cho vay đối với DNTN.
Lãi suất cho vay của NHTM có tác động lớn tới nhu cầu vay vốn của
DNTN. Một mức lãi suất cao sẽ hạn chế ý muốn vay mượn của các DNTN, bởi
chi phí vốn cao. Ngược lại, NH sẽ áp dụng mức lãi suất cho vay thấp khi muốn
mở rộng cho vay đối với các DNTN. Chi phí vốn thấp góp phần giảm gánh nặng
chi phí cho DN, tạo điều kiện để DN kinh doanh có lãi. Khi đó, nhiều DNTN tìm
đến NH để vay vốn. số lượng DNTN vay vốn tại NH tăng lên, nghĩa là hoạt
động cho vay đối với DNTN được mở rộng.


24

Ngành dịch vụ có đặc điểm nổi bật là chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố con người. Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của
cán bộ NH sẽ quyết định chất lượng của hoạt động cho vay cũng như các dịch vụ
tài chính mà NH cung cấp. Từ đó, yếu tố con người có tác động lớn đến việc NH
có thể mở rộng cho vay đối với các DNTN hay không. Ngoài ra, nhân viên NH
thường xuyên tiếp xúc với KH, do đó, là hình ảnh đại diện cho NH trong con mắt
KH. Đội ngũ nhân viên có tác phong chuyên nghiệp, thái độ phục vụ chu đáo,
nhiệt tình sẽ đế lại cho NH ấn tượng tốt. Sự hài lòng của KH sẽ giúp cho việc mở
rộng cho vay đối với các DNTN của NHTM thuận lợi hơn.
Cô mỉ tác quản ly rủi ro của NHTM
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động cho vay của NHTM. Rủi ro tín
dụng là khả năng xảy ra những tốn thất cho NH khi người vay không trả, không
trả đúng hạn hoặc không trả đầy đủ cả gốc và lãi. Nhìn chung NH chỉ quyết định
cho vay sau khi thẩm định và thấy dự án cần vay vốn an toàn. Tuy nhiên, rủi ro
tín dụng vẫn có thể xảy ra mà NH không lường trước được. Rủi ro này gây tổn
thất cho NH, khiến NH không thể mở rộng cho vay nói chung và mở rộng cho
vay DNTN nói riêng. Bởi vậy, công tác quản lý rủi ro tín dụng có ảnh hưởng to
lớn đến việc mở rộng cho vay đối với các DNTN của NHTM. Neu công tác này
được thực hiện tốt, rủi ro tín dụng được giảm thiểu, chất lượng hoạt động cho
vay tăng lên. Đây chính là điều kiện tốt để NH có thể mở rộng cho vay đối với
các DNTN.
Mang lưới chi nhánh của NHTM
Số lượng và sự phân bố chi nhánh của NH cũng tác động tới khả năng


25


vốn của NH hay không. Bởi cho vay DNTN là hoạt động rủi ro nên NH luôn yêu
cầu tài sản đảm bảo cho các khoản vay. Tài sản đảm bảo là căn cứ để NH xác
định mức cho vay đối với DNTN. Neu DN không có tài sản đảm bảo, không có
người bảo lãnh hoặc giá trị tài sản đảm bảo thấp, không đủ tiêu chuẩn thì khó
vay được vốn NH.
Như vậy, năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính và tài sản đảm
bảo là những yếu tố quyết định tới khả năng đáp ứng điều kiện vay của DNTN.
Khả năng ấy càng lớn, việc mở rộng cho vay đối với các DNTN của NHTM
càng được thực hiện dễ dàng hơn.
Nhân tố thứ ba về phía DNTN là tính khả thi của dự án/phương án kinh
doanh mà DN cần tài trợ. NH cho vay dựa trên những dự án, phương án kinh
doanh khả thi và khả năng sinh lời cao. Vì vậy, sức thuyết phục của phương án
sản xuất kinh doanh là cơ sở để NH chấp nhận hay từ chối đề nghị vay vốn của
DN. Do đó, tính khả thi của dự án mà DN trình bày với NH cũng là một trong
những nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động mở rộng cho vay đối với
DNTN của NHTM.
Những nhân tố từ phía môi trường vĩ mô
Thứ nhất, sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế có ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động cho vay của NHTM. Hoạt động NH có liên quan đến
tất cả các lĩnh vực kinh tế. Vì thế, những biến động của nền kinh tế sẽ có tác


Trích đoạn Nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội trong thờ Tăng cường huy động vốn Tăng cường hoạt động marketing
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status