HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN TẬP PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 - Pdf 33

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN TẬP
PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9
MỤC LỤC
Nội dung

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1

1

Lí do chọn đề tài.

1

2

Đối tượng và phạm vi.

2

3

Phương pháp nghiên cứu.

2

4


6

3.2

Xây dựng kế hoạch ôn tập và kiểm tra.

7

3.3

Ôn tập theo vấn đề và nhóm tác phẩm.

9

3.4

Học theo ý kết hợp giữa kiến thức Văn với tiếng Việt và tập làm
văn

11

4

Một số kết quả thu được

29

PHẦN KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo

trọng truyền thống, và ngôn ngữ Mẹ đẻ...
1.2 Cơ sở thực tiễn
Như chúng ta đều biết, từ khi thực hiện chương trình SGK mới đến nay, vấn đề
thi vào lớp 10 THPT nhất là đối với bộ môn Ngữ văn và Toán luôn được các thầy, cô
giáo, các em học sinh, các bậc cha mẹ học sinh, các cấp các ngành và toàn thể nhân
dân quan tâm. Với quy định về cách tính điểm, môn Ngữ Văn chiếm 2/5 tổng số điểm
và góp phần quan trọng vào kết quả tuyển sinh đầu cấp của mỗi nhà trường và toàn
ngành GD- ĐT.
Đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn của sở GD- ĐT Vĩnh Phúc đã nhiều năm
có nhiều câu hỏi liên quan đến phần thơ hiện đại Việt Nam lớp 9. Người ta có thể
kiểm tra học sinh về phần những nội dung của văn bản; lại cũng có thể yêu cầu học
1


sinh phải bộc lộ khả năng cảm thụ tác phẩm văn chương ở những mức độ, những khía
cạnh khác nhau.
Xét về nội dung chương trình Ngữ văn THCS hiện hành, phần thơ hiện đại là
một phần quan trọng không thể thiếu trong tổng thể những nội dung được đưa vào
giảng dạy. Việc giúp học sinh ôn tập đầy đủ được những kiến thức cơ bản về các tác
giả, tác phẩm thuộc mảng kiến thức này từ đó giải quyết yêu cầu đề bài là một điều
hết sức quan trọng và cần thiết.
Ai cũng biết rằng, chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn nói chung và
phần thơ hiện đại nói riêng do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: chương trình, sách
giáo khoa, giáo án, phương pháp giảng dạy của thầy cô, ý thức, thái độ học tập của
trò. Trên thực tế, khi ôn tập đơn vị kiến thức này cho học sinh, phần lớn các em học
sinh vẫn chưa có kế hoạch ôn tập, chưa biết cách ôn tập cho có hiệu quả, các thầy
giáo, cô giáo trong nhà trường vẫn còn lúng túng, chưa hướng dẫn đầy đủ cho học
sinh về nội dung, phương pháp ôn tập. Điều này có lí do vừa khách quan, vừa chủ
quan. Tuy nhiên chính sự lúng túng này đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thi vào
THPT của các em học sinh, kết quả giảng dạy của giáo viên, thứ tự xếp loại của nhà

Phần thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 9 dù chỉ có 11 văn
bản nhưng khi ôn tập phần này, học sinh gặp rất nhiều khó khăn như không thể thuộc
được các văn bản thơ; không nắm chắc được tiểu sử tác giả, có khi lại nhớ nhầm bài
thơ này của tác giả kia; học xong nội dung nghệ thuật của bài thơ này thì lại quên nội
dung nghệ thuật của bài thơ đã học trước đó; một số học sinh lại chưa biết phân chia
thời gian học như thế nào cho lý giữa các phần trong môn Văn; cũng có những học
sinh lại gặp khó khăn trong việc viết phần mở bài hoặc phân tích thế nào cho đủ ý khi
viết phân tích một bài thơ(đoạn thơ). Cũng có học sinh chia sẻ rằng mặc dù em đã rất
nhớ một nội dung khi thầy cô giáo kiểm tra nhưng chỉ qua một vài tuần em lại không
thể nhớ một cách chính xác và đầy đủ nội dung ấy. Có em nói rằng không biết nên
chọn sách, tài liệu tham khảo nào để ôn tập cho phù hợp vì mỗi sách viết một kiểu, ....
Trong khi đó, số tiết trong chương trình dành để ôn tập cho phần thơ chỉ có 2
tiết ôn tập phần thơ( 127-128) và có một phần trong 2 tiết Tổng kết Văn học (167168). Như vậy khi tiến hành dạy – học tiết ôn tập, giáo viên và học sinh chỉ ôn tập
một số nội dung mà không thể ôn tập được toàn bộ nội dung các văn bản thơ hiện đại.
Về phía giáo viên giảng dạy, qua trao đổi với một số đồng nghiệp, tôi nhận
thấy, một số thầy cô giáo khi dạy chưa quan tâm nhiều đến việc hướng dẫn học sinh
như thế nào để học sinh ôn tập phần thơ hiện đại cũng như phần Văn nói chung trong
chương trình Ngữ văn lớp 9. Một số thầy cô cũng chưa có hướng dẫn cụ thể từng nội
dung của phần thơ hiện đại. Chính vì thế những kiến thức về phần thơ hiện đại không
được nắm đầy đủ, kết quả bộ môn Ngữ văn thấp, kết quả thi tuyển sinh vào lớp 10
môn Ngữ văn điểm không đạt được chỉ tiêu đề ra.
Khảo sát kết quả ôn tập phần thơ hiện đại
Kết quả
Tình trạng
Chưa áp dụng
(2011-2012)

SL
HS
82


4

4.88

25

30.49

26

31.71

24

29.27

3

3.66

4


2. Nguyên nhân của thực trạng
Khi tìm hiểu nguyên nhân của việc ôn tập phần thơ hiện đại Việt Nam lớp 9
chưa đạt yêu cầu của bộ môn, chúng tôi nhận thấy rằng:
Về phía học sinh:
Thứ nhất là do học sinh học tủ, học lệch: đó là việc học mà người học chỉ học,
ôn tập những bài nào mình thích, còn những bài mình không thích thì chỉ học qua loa.


3. Hướng dẫn học sinh ôn tập phần thơ hiện đại Việt Nam lớp 9
3.1 Lựa chọn sách, tài liệu để ôn tập
Ngoài bài giảng của thầy cô, khi ôn tập nội dung kiến thức đã học học sinh cần
phải dựa vào sách, tài liệu. Cũng như môn Toán, sách tham khảo cho môn Ngữ văn
rất nhiều về chủng loại, về tác giả, về nhà xuất bản. Do đó chọn sách ôn thi là một
trong những bước quan trọng giúp các em học sinh thành công trong việc ôn thi tuyển
sinh vào lớp 10 THPT, cao đẳng, đại học. Tuy nhiên, để chọn cho mình những cuốn
sách hữu ích đòi hỏi các bạn phải biết chọn lọc và xác định rõ mục tiêu mua sách. Để
bổ sung kiến thức, phương pháp làm bài thì học sinh có thể chọn mua một số sách
hướng dẫn ôn thi. Nhưng các em chỉ nên chọn mua số lượng vừa phải để tập trung ôn
luyện, tránh tình trạng bị “tẩu hoả nhập ma” vì mỗi cuốn nói một kiểu. Các em cũng
phải cẩn thận vì có nhiều trường hợp tên sách khác nhau nhưng nội dung bên trong lại
giống nhau y hệt, nếu không chọn lựa kỹ càng sẽ rơi vào tình cảnh “trăm quyển như
một”.
Nhiều bạn học sinh đã rơi vào trường hợp “dở khóc dở cười” khi rơi vào hoàn
cảnh này: rất hí hửng vì mua được mấy cuốn sách hay ho, nhưng về sau thì tá hoả khi
nhiều nội dung hai cuốn giống nhau đến từng chữ.
Để tăng hiệu quả khi mua sách, các em học sinh có thể tham khảo ý kiến của
các thầy cô, bạn bè để lựa chọn được những cuốn sách phù hợp với khả năng của
mình. Bên cạnh đó cũng cần chọn sách của những nhà xuất bản uy tín. Qua quá trình
hướng dẫn, chúng tôi thấy có một số sách tốt cho việc ôn tập như: Tài liệu ôn thi vào
lớp 10 THPT môn Ngữ Văn( Nhà xuất bản ĐHSP), ...
Bên cạnh đó, giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh ôn tập trên mạng internet.
Thông tin trên các trang web cũng rất đa dạng và phong phú của cả các thầy cô giáo
và của cả các em học sinh trên mọi miền, cả trong nước và ngoài nước. Các trang các
em có thể tham khảo như: thi.moet.gov.vn, dethi.violet.vn, vinhphuc.edu.vn.... Tuy
nhiên, cũng cần nhớ rằng hầu hết các thông tin này chỉ để tham khảo vì chúng chưa
được kiểm chứng. Vì vậy, khi tham khảo cần phải có sự chọn lọc.
Khi ôn tập kiến thức, nếu có nội dung có sự sai khác (như ngày sinh của tác giả,

cần khoảng 28 tiết). Tùy theo từng cách học của mỗi học sinh mà có thể có nhiều cách
xây dựng kế hoạch ôn tập. Sau đây là một số cách ôn tập có hướng dẫn cho học sinh:
- Ôn tập theo cách “cuốn chiếu”: Nghĩa là sau khi học xong văn bản nào thì tiến hành
ôn tập hết văn bản ấy như người ta cuốn chiếu từ giới thiệu về tác giả, hoàn cảnh sáng
tác, phần văn bản thơ, giá trị nội dung – nghệ thuật, … Vì một tuần có thể học 2 văn
bản thơ nên có thể lập kế hoạch:
HỌC KÌ I
Stt

Tuần

Văn bản

1

10

Đồng chí – Chính Hữu

2

11

Bài thơ về tiểu đội xe không kính –

Ghi chú

7




Văn bản

Ghi chú

7

25

Viếng lăng Bác

8

26

Con cò

9

27-28

10

29

Sang thu

11

30

Đồng chí
Bài thơ về ...
Đoàn thuyền đánh cá
Bếp lửa
Khúc hát ru những em
bé lớn trên lưng mẹ*
8


Ánh trăng
Con cò*
Viếng lăng Bác
Mùa xuân nho nhỏ
Sang thu
Nói với con
* Những bài: Tự học có hướng dẫn
Trong mỗi ô tương ứng với các phần, học sinh có thể tự điền thời gian ôn tập cho phù
hợp nhất.
3.2.2 Xây dựng kế hoạch kiểm tra
Cũng cần phải nói thêm rằng, sau khi học, ôn tập kỹ rồi chưa phải đã xong. Một
nội dung đã nhớ, đã nắm được học sinh khá, giỏi có thể nhớ lâu, nhớ tốt nhưng với
những học sinh trung bình các em lại rất hay quên nên cần phải ôn lại thường xuyên
thì mới nắm chắc, nhớ lâu.
Vì thế, cùng với việc lập kế hoạch ôn tập thì giáo viên cũng cần hướng dẫn cho
học sinh kế hoạch kiểm tra các nội dung đã học. Có thể học sinh tự lập nhóm học tập
và các em tự kiểm tra lẫn nhau. Tuy nhiên số học sinh có ý thức học tập tự giác là rất
ít nên cần có sự kiểm tra của người giáo viên. Các thầy cô giáo cũng cần linh hoạt
trong cách kiểm tra đánh giá: có thể kiểm tra trong giờ học chính khóa, giờ học
chuyên đề; kiểm tra báo trước hoặc không báo trước nội dung và cần phải căn cứ vào
kế hoạch đã lập của học sinh để kiểm tra, đánh giá.

hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
- Còn Ánh trăng của Nguyễn Duy lại nói về những suy ngẫm của người lính đã qua
thời chiến tranh, nay sống trong hòa bình, giữa thành phố. Bài thơ đã gợi lại những
năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính với đất nước, với đồng đội để từ
đó nhắc nhở về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.
3.3.2 Tình cảm gia đình
Tình cảm gia đình cũng là một đề tài được các nhà biên soạn sách giáo khoa
đưa khá nhiều vào trong phần thơ hiện đại Việt Nam. Đó là tình bà cháu trong bài thơ
Bếp lửa của Bằng Việt, là tình mẫu tử, phụ tử trong bài Nói nới con của Y Phương,
Con cò của Chế Lan Viên, Khúc hát ru những em bé trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa
Điềm. Khi ôn tập, các em cần thấy được điểm chung và những nét riêng của mỗi bài
thơ.
Nét chung của các bài thơ này là thể hiện tình cảm gia đình, tình mẹ con thiêng
liêng, thắm thiết.
Nét riêng: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ(1971) thể hiện sự thống
nhất của tình yêu con với lòng yêu nước, gắn bó với cách mạng, ý chí chiến đấu của
người mẹ dân tộc Tà-ôi trong hoàn cảnh hết sức gian khổ ở chiến khu miền Tây Thừa
Thiên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Con cò lại khai thác và phát
triển tứ thơ từ hình tượng con cò trong ca dao, hát ru để ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa
10


của lời ru đối với cuộc đời của mỗi con người. Nói với con lại là sự kết hợp giữa tình
cảm thắm thiết của cha mẹ đối với con cái, tình yêu quê hương sâu nặng cùng niềm tự
hào về truyền thống, sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của người dân tộc qua cách diễn tả
độc đáo, giàu hình ảnh của thơ ca miền núi.
3.3.3 Tình cảm đối với thiên nhiên, quê hương, đất nước với lãnh tụ
Thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 9 còn thể hiện tình cảm
của nhà thơ với thiên nhiên, với đất nước với lãnh tụ.
Là những cảm nhận hết sức tinh tế và hình ảnh giàu sức biểu cảm trong bài thơ

người cha tinh thần của nó. Vì thế khi ôn tập các văn bản thơ, người học cũng phải
nắm được những nét khái quát nhất về tác giả đã sáng tác nên bài thơ. Kiểm tra về tác
giả cũng là kiểm tra về kiểu bài thuyết minh đã học ở lớp 8 và HK I lớp 9,
Để trả lời, học sinh phải trình bày những nét khái quát nhất về tác giả. Mỗi tác
giả đều sinh ra và lớn lên ở những miền quê khác nhau, sống ở những giai đoạn lịch
sử khác nhau, khi làm thơ thường lấy bút danh, có những phong cách sáng tác khác
nhau ...Vì vậy để nắm chắc về từng tác giả các em nên học theo sơ đồ cấu trúc:

Về hoạt động cách mạng
- Tác giả Chính Hữu tham gia Trung đoàn Thủ đô năm 1946 và hoạt động trong suốt
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
- Tác giả Nguyễn Duy: gia nhập quân đội, vào bình chủng thông tin, tham gia chiến
đấu ở nhiều chiến trường.
- Nhà thơ Y Phương: nhập ngũ năm 1968, phục vụ quân đội đến năm 1981 chuyển về
công tác tại Sở văn hóa – Thông tin tỉnh Cao Bằng.

12


Về hoạt động văn học: có thể nêu quá trình làm thơ, đặc điểm sáng tác và
những thành công
- Nhà thơ Huy Cận: trước cách mạng ông đã nổi tiếng trong phong trào thơ Mới với
tập thơ Lửa thiêng, sau cách mạng là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ
ca hiện đại Việt Nam. Ông đã được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học nghệ thuật(1996)
Một số câu hỏi về tác giả có thể hướng dẫn học sinh ôn tập
Câu 1:
Viết một đoạn văn ngắn khoảng 10 - 12 câu giới thiệu về tác giả Huy Cận và
bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của ông
Gợi ý (về phần tác giả)

học sinh vẽ sơ đồ tư duy để ôn tập.
VD:
Nội dung - nghệ thuật bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến
Duật có thể rút lại còn các từ theo sơ đồ sau:

14


- Nội dung nghệ thuật bài thơ Đồng chí của Chính Hữu có thể rút lại như sau:

Nắm chắc được nội dung và nghệ thuật, các em mới có thể trả lời được các câu
hỏi liên quan đến nội dung này. Các thầy cô có thể cho các em ôn tập các bài tập như
sau:
* Dạng 1: Bài tập về nội dung của cả bài thơ.
Câu 1
“ Mặt trời xuống biển như hòn lửa”.
(Đoàn thuyền đánh cá- Huy Cận)
a) Hãy chép chính xác 3 dòng thơ tiếp theo của bài thơ.
b) Nêu những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Đoàn thuyền đánh
cá.
Câu 2
Trình bày những hiểu biết của em về nhà thơ Thanh Hải và tác phẩm Mùa
xuân nho nhỏ của ông.
Câu 3
a) Chép lại chính xác bốn dòng thơ cuối của bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.
b) Trình bày ngắn gọn giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ đó.
15


* Dạng 2 Bài tập về nội dung về một khổ thơ, đoạn thơ.

16


con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước
ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt
đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.
- Dòng thơ cuối dồn nén biết bao niềm tâm sự, lời sám hối ăn năn dù không cất lên
nhưng chính vì thế càng trở nên ám ảnh, day dứt.
- Nhà thơ tự nhắc nhở mình cũng như gửi gắm đến bạn đọc một thông điệp thấm thía:
Đừng bao giờ phản bội lại quá khứ dù đó là tốt đẹp hay khổ đau. Chính quá khứ là
nhân cách, là cái bóng vô hình mà mỗi con người không thể thiếu được và mỗi chúng
ta phải thực hiện tốt đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, sống thật tình nghĩa thủy chung
với quá khứ”.
Câu 2:
Theo cách tổng - phân - hợp viết đoạn văn từ 7-10 câu phân tích hiệu quả nghệ
thuật tu từ trong hai câu thơ:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa”.
(“Đoàn thuyền đánh cá” – Huy Cận)
Gợi ý:
- Phép tu từ so sánh nhân hóa,ẩn dụ được nhà thơ Huy Cận sử dụng rất thành công khi
khắc họa bức tranh hoàng hôn trên biển trong hai câu thơ đầu bài “Đoàn thuyền đánh
cá”.( Câu tổng hợp – khái quát)
- Mặt trời được ví với hòn lửa đem đến bức tranh hoàng hôn một vẻ đẹp rực rỡ, tráng
lệ và ấm áp chứ không hiu hắt, ảm đạm như trong thơ cổ.
- Quan sát tinh tế và so sánh chính xác tạo sự tương phản về màu sắc, mang sức gợi
mạnh mẽ về không gian.
- Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ: gắn cho vật những hành động của con người như “sóng
cài then” – “đêm sập cửa” gợi cảm giác vũ trụ như một ngôi nhà lớn với màn đêm
buông xuống là cánh cửa và những con sóng là then cài.

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
( “Bếp lửa” – Bằng Việt)
Gợi ý:
- Mở đầu bài thơ “Bếp lửa” là hình ảnh ấm áp thân thương – bếp lửa khơi nguồn cho
kí ức Bằng Việt từ nơi xa nhớ về quê hương, nhớ về người bà kính yêu của mình:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
18


- Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với
giọng điệu sâu lắng, khẳng định hình ảnh “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ
phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.
- “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt
Nam trước đây mỗi buổi sớm mai. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn
vờn “sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.
+ Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng, chập
chờn của ngọn lửa lúc mới nhóm, của ngọn lửa trong kí ức.
+ Từ láy “ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm
lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể.
- Rất tự nhiên, hình ảnh bếp lửa khiến nhà thơ liên tưởng tự nhiên đến người nhóm
lửa, đến người bà và làm trỗi dậy tình yêu thương: “Cháu thương bà biết mấy nắng
mưa”. Tình thương tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản dị.
Đằng sau sự giản dị ấy là cả một tấm lòng, một sự thấu hiểu đến tận cùng những vất
vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.
=>Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi
tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc
đời lam lũ của người bà.

một câu văn khái quát( Câu văn giới thiệu khái quát chứ không phải đầy đủ) vì nhiều
em lại đi giới thiệu về năm sinh, tên tuổi, quê quán, .... Để nắm được cách giới thiệu
này, khi kiểm tra bài cũ về phần tác giả, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi: “ Hãy giới
thiệu khái quát về nhà thơ ........ bằng một câu văn”. Qua cách học sinh trả lời, sự nhận
xét của các bạn và nhận xét của thầy cô giáo, học sinh có thể sẽ dễ dàng nhớ và viết
một câu giới thiệu khái quát về nhà thơ.
Cách 2: Có thể giới thiệu về đề tài, chủ đề hay hoàn cảnh sáng tác bài thơ và nêu và
giá trị nội dung nghệ thuật bài thơ, đoạn thơ.
Cho đề văn: Phân tích bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm
Tiến Duật
Ví dụ 1: Giới thiệu về đề tài ( Dựa vào việc ôn tập theo đề tài)
Hình ảnh người lính đã trở thành một đề tài nổi bật của thơ ca trong những năm
kháng chiến. Nhắc đến họ người đọc không thể không nhắc đến hình ảnh người chiến
sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước qua bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Với giọng
điệu trẻ trung, hình ảnh thơ chân thực, bài thơ đã miêu tả hình ảnh độc đáo: những
chiếc xe không kính vẫn băng ra chiến trường qua đó thể hiện hình ảnh người chiến sĩ
lái xe với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy
hiểm và ý chí chiến đấu giải phòng miền Nam.
Ví dụ 2: Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác
Với đề văn: Cho đoạn thơ sau (trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận)
20


“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đem sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
( SGK Ngữ văn 9 – Tập 1 trang 139 – NXB GD 2007)
Có thể hướng dẫn HS viết như sau

Khổ 1
- Mở dầu bài thơ là những cảm nhận nhạy bén, bất ngờ về sự thay đổi của đất trời
+ Hương ổi – một mùi vị quen thuộc của miền Bắc trong cái gió se se lạnh của tiết
trời đầu thu
+ Cảm nhận: bất ngờ, mạnh qua từ “bỗng”(đột ngột), “phả”(mạnh)
+ Hình ảnh làn sương: chùng chình, một chuyển động rất chậm, giăng mắc từ mái nhà
này sang mái nhà khác.
- Kết nối 3 hình ảnh => nhận ra mùa thu đã về. Nhưng dó là sự khẳng định chưa chắc
chắn(hình như)chỉ là sự nghi hoặc, bâng khuâng. Một trạng thái cảm xúc của sự giao
mùa.
Khổ2
- Cảm xúc của nhà thơ như được mở rộng trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn.
+ Hình ảnh dòng sông(nước): dềng dàng
+ Đàn chim: vội vã
=> hai hình ảnh đối lập góp phần làm sinh động cảnh sang thu
+ Hình ảnh đám mây hai mùa: Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác(một nửa vẫn rực rỡ cái
nắng mùa hè, nửa kia dịu mát sắc thu)
- Đó là vẻ đẹp của sự giao mùa, vẻ đẹp của tâm hồn nhà thơ.
Khổ 3
- Cảm nhận của nhà thơ đã đi vào lí trí, dự cảm. Nó thể hiện sự từng trải của nhà thơ.
+ Hình ảnh nắng: còn(bao nhiêu) nhưng không gay gắt, oi bức, nồng nàn.
+ Mưa: vơi dần về số lượng cơn, lượng mưa
+ Hình ảnh sấm và hàng cây có hai tầng nghĩa:
♦ Nghĩa tả thực: Lúc sang thu, cũng đã bớt đi những tiếng sấ bất ngờ, hàng cây
đứng tuổi không còn bị giật mình bởi tiếng sấm.
♦ Nghĩa ẩn dụ: khi con người ta đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những
tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời.
22




- Cách nói từ trực tiếp cụ thể đến việc dùng ẩn dụ, hoán dụ đã sáng tạo được hình ảnh
thơ tuyệt đẹp, ví cuộc đời của Bác đẹp như chính mùa xuân. Điều đó thể hiện sự tôn
kính lòng biết ơn vô hạn của nhân dân ta đối với Bác.
Khổ thơ thứ 3:
- Tiếp tục mạch cảm xúc, nhà thơ diễn tả chính xác và tinh tế không khí trang nghiêm,
yên tĩnh nơi Bác yên nghỉ. Hình ảnh “vầng trăng”, “trời xanh” thêm một lần nữa là
biểu tượng cao đẹp về tâm hồn trong sáng bất diệt của Người.
- Người đã hóa thân thành thiên nhiên đất nước dân tộc. Dù vẫn tin như thế nhưng
không thể không đau xót vì sự ra đi của Người. Nỗi đau xót đã được nhà thơ biểu hiện
bằng hình ảnh cụ thể trực tiếp “Mà sao nghe nhói ở trong tim!”.
Đề 3
Phân tích những cảm xúc và suy nghĩ của tác giả trong đoạn thơ sau:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Trích Ánh trăng , Nguyễn Duy, Ngữ văn 9, tập 1, NXB GD 2006)
Gợi ý:
- Tình huống xuất hiện đột ngột của vầng trăng gợi nên những xúc cảm và suy nghĩ ở
nhà thơ về trăng, về kỉ niệm. Hình ảnh vầng trăng: hình ảnh của thiên nhiên khoáng
đạt, hồn nhiên, tươi mát gợi tới kỉ niệm lúc ấu thơ, lúc tham gia chiến đấu. Vầng trăng
như một cố nhân khiến người xúc động.
- Hình ảnh vầng trăng: biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, cho vẻ đẹp bình dị, vĩnh
hằng của đời sống, đánh thức trong tâm trí con người bao kỉ niệm, bao nghĩa tình:
như là đồng, là bể / như là sông, là rừng; trăng như một lời nhắc nhở nghiêm khắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status