Theo dõi tình hình mắc bệnh CRD và biện pháp phòng trị trên đàn gà hậu bị tại trại bà Mùi thuộc xã Cao Ngạn – thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên - Pdf 33

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN QUYỀN
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CRD
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TRÊN ĐÀN GÀ HẬU BỊ TẠI TRẠI BÀ MÙI THUỘC
XÃ CAO NGẠN – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

:

Chính quy

Chuyên ngành

:

Chăn nuôi Thú y

Khoa

:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học

:

:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học

:

2011 – 2015

Giảng viên hướng dẫn :

ThS. La Văn Công

Bộ môn Bệnh động vật - Khoa Chăn nuôi Thú y

Thái Nguyên, 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN QUYỀN
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CRD
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TRÊN ĐÀN GÀ HẬU BỊ TẠI TRẠI BÀ MÙI THUỘC
XÃ CAO NGẠN – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo



ii

LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng và không thể thiếu được
trong chương trình đào tạo của các trường Đại học nói chung và trường đại
học Nông Lâm nói riêng. Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố, áp
dụng những kiến thức đã học vào thực tế, rèn luyện tay nghề, nâng cao kiến
thức chuyên môn, học tập phương pháp nghiên cứu khoa học, đồng thời đây
là thời gian để sinh viên tự hoàn thiện mình, trang bị cho bản thân những kiến
thức về phương pháp quản lý, những hiểu biết xã hội để khi ra trường trở
thành một cán bộ khoa học kỹ thuật có kiến thức chuyên môn vững vàng và
có năng lực trong công tác.
Được sự nhất trí của Nhà trường và Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy
giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Theo dõi tình hình mắc bệnh CRD và biện pháp phòng trị trên đàn gà
hậu bị tại trại bà Mùi thuộc xã Cao Ngạn – thành phố Thái Nguyên - tỉnh
Thái Nguyên”
Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn và sự nỗ lực của
bản thân tôi đã hoàn thành bản khóa luận này. Do bước đầu làm quen với
công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế.
Vì vậy tôi mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo,
các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận hoàn chỉnh hơn.


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG


Thể trọng


v

MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................ 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm................. 3
2.1.2. Đặc tính chung của bệnh CRD ở gà ................................................. 5
2.1.3. Nguồn gốc, đặc điểm của gà Hisex Brown .................................... 16
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài.................................. 17
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................... 17
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ................................................ 18
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....20
3.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 20
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ......................................................... 20
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 20
3.4.1. Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của đàn gà thí nghiệm ................ 20
3.4.2. Xác định bệnh tích của gà bị nhiễm CRD ...................................... 21
3.4.3. Hiệu quả điều trị CRD bằng thuốc Tylosin .................................... 21
3.4.4. Ảnh hưởng của Tylosin đến tỷ lệ nuôi sống và sinh trưởng của gà 21
3.4.5. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu .................................................. 21
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 23
4.1. Công tác phục vụ sản xuất .................................................................... 23

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
tận tình của thầy giáo hướng dẫn ThS. La Văn Công trong suốt quá trình
nghiên cứu để hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2014
Sinh viên

HOÀNG VĂN QUYỀN


2

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định tỷ lệ nhiễm CRD trên đàn gà hậu bị
- Quy trình phòng và điều trị bệnh CRD
- Ảnh hưởng của quy trình đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng
của gà thí nghiệm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong khoa học: bước đầu áp dụng những tiến bộ khoa học vào thực
tiễn sản xuất về quy trình phòng bệnh CRD ở gà.
-Ý nghĩa trong thực tiễn: từ kết quả thực nghiệm, bước đầu rút ra đề xuất hợp
lý khuyến cáo cho người chăn nuôi về tình hình nhiễm bệnh CRD ở gà và quy trình
phòng bệnh CRD.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm

Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí. Các túi khí là sự mở
rộng và tiếp dài của khí quản. Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4
đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn. Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí
xương đòn, đôi túi khí trước ngực, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng. Túi
khí đơn là túi khí cổ. Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế
quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ.
* Tần số hô hấp
- Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài,
tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi
dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí. Trong điều kiện nuôi dưỡng
tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng
nhỏ. Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống 30 - 40 %. Nhiệt độ tăng tần số
hô hấp cũng tăng. Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150
lần/ phút. Bình thường ở gà trưởng thành là 25 - 45 lần/ phút. Gà từ 4 - 20
ngày là 30 - 40 lần/ phút.
* Hoạt động trao đổi khí của gia cầm
- Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra
với sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính.
- Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống
50%. Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi
chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%.
Nhu cầu O2 và lượng CO2 sau một giờ tính trên 1 kg thể trọng của các
loại gà như sau:


5

Bảng 2.1: Nhu cầu O2 và lượng CO2 sau một giờ tính trên 1 kg thể trọng
của các loại gà
Tuổi gà

Bệnh hô hấp mãn tính (CRD) ở gà do nhiều loại Mycoplasma gây ra,
trong đó quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma synoviae.
Mầm bệnh Mycoplasma gallisepticum là nguyên nhân chính gây bệnh viêm
đường hô hấp mãn tính ở gà. Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn
thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém (Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu
(2001) [18]).
Bệnh do Mycoplasma gây ra những tổn thất khá lớn đối với ngành
chăn nuôi gia cầm ở mọi nơi trên thế giới. Cho đến nay có 16 loài
Mycoplasma phân lập được từ gà và gà tây, 7 loài được phân lập từ ngỗng
và vịt, 3 loài khác nhau được phân lập từ bồ câu. Trong số đó có 4 loài gây
bệnh cho gia cầm được quan tâm đó là M.gallisepticum; M.synoviae;
M.meleagridis và M.iowae.


6

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [5] nghiên cứu cho thấy: bệnh đường hô
hấp mãn tính do Mycoplasma gallisepsticum gây bệnh nên, viết tắt là CRD
(Chronic Respiratory Disease) là bệnh truyền nhiễm ở gà ở các lứa tuổi khác
nhau với những bệnh tích ở đường hô hấp, nhất là ở khí quản và phổi, cũng
như ở các túi khí. Bệnh đường hô hấp mãn tính rất nguy hiểm đối với gà, nhất
là gà nuôi tập trung theo hướng công nghiệp bởi phương thức truyền lây của
bệnh chủ yếu là truyền qua trứng và đường hô hấp. Qua xuất khẩu trứng và gà
giống, bệnh CRD đã lan tràn hầu hết các nước trên thế giới. Bệnh có thể làm
giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30 %, giảm tỷ lệ ấp nở tới 14 % và giảm tăng
trọng của gà thịt thương phẩm tới 16 %. Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các
bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ huyết trùng, bệnh
do E.coli gây ra … đã gây nên những vụ dịch lớn, có tỷ lệ gà chết cao.
Từ những năm 1960 trở lại đây, nhờ áp dụng chương trình quốc gia
khống chế CRD ở các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Hà Lan, Đức,

triệu chứng viêm túi khí, viêm niêm mạc xoang mũi, mắt, phế quản. Bệnh
phát ra chủ yếu ở gà con và nặng nhất ở giai đoạn từ 3 tuần đến 3 tháng tuổi,
gà lớn hơn cũng bị và mang mầm bệnh cả đời. Bệnh có thể truyền cho gà con
qua trứng và dưới tác động xấu của môi trường sống.
Phương thức lây lan
Sự lây nhiễm Mycoplasma gallisepticum dễ dàng từ con này sang con
khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp. Khi Mycoplasma
gallisepticum khu trú ở đường hô hấp trên, một lượng lớn mẫm bệnh được
giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự bài xuất của dịch rỉ mũi, qua hô
hấp, ho. Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của vùng khu trú mầm bệnh, số
lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa chúng. Khi con vật bị nhiễm bệnh
mầm bệnh này thì nó bị coi là mang khuẩn suốt đời vì mầm bệnh có khả năng
thay đổi hình thức của cấu trúc kháng nguyên bề mặt một cách rất tinh vi, nhờ
vậy nó có thể tạo ra sự thay đổi liên tục về sự biểu hiện của kháng nguyên bề


8

mặt và tránh được sự tấn công của hệ thống miễn dịch của vật chủ. Sự mang
bệnh lâu như vậy cho nên một đàn gà bị nhiễm bệnh thì đó là nguồn bệnh cho
các đàn gà khác trong quá trình nhiễm bệnh mới. Đây là một điều đáng chú ý
trong quá trình tạo giống khi các dòng khác được đưa vào lai ghép.
Các yếu tố ngoại cảnh bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của gà
như: thời tiết thay đổi đột ngột, thức ăn không đảm bảo chất lượng, gà bị vận
chuyển xa, chuồng trại kém vệ sinh, mật độ nuôi nhốt cao, ẩm độ cao, chuồng
nuôi không thông thoáng, nồng độ các chất thải cao,… sẽ làm bệnh phát ra
nhanh và rộng, gây nhiều thiệt hại về kinh tế (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1999) [4].
Lây nhiễm qua các vật trung gian là dụng cụ chăn nuôi và người chăn
nuôi đã nhiễm mầm bệnh ở tóc, quần áo đi qua đi lại, mầm bệnh lây nhiễm
vào không khí, thức ăn, nước uống.

Được sự nhất trí của Nhà trường và Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy
giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Theo dõi tình hình mắc bệnh CRD và biện pháp phòng trị trên đàn gà
hậu bị tại trại bà Mùi thuộc xã Cao Ngạn – thành phố Thái Nguyên - tỉnh
Thái Nguyên”
Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn và sự nỗ lực của
bản thân tôi đã hoàn thành bản khóa luận này. Do bước đầu làm quen với
công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế.
Vì vậy tôi mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo,
các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận hoàn chỉnh hơn.


10

Khi bắt gà ta thấy gà thở rất mạnh nhưng quan sát kỹ gà rất khó thở, hay lắc
đầu, kèm theo tiếng thở phát ra là tiếng khẹc khẹc ướt.
Theo dõi khi gà ngủ thấy gà thở khò khè, còn khi gà ăn uống thỉnh
thoảng thấy gà kêu “tooc tooc” vẩy mỏ khẹt khẹt, phân gà hơi xanh hoặc hơi
trắng (Bùi Đức Lũng và cs (2000) [7].
Theo Lê Hồng Mận (2007) [11]: gà con và gà dò bị bệnh viêm kết mạc,
chảy nước mắt, ít dịch thanh dịch ở lỗ mũi và mi mắt. Nhiều con mí mắt sưng
tấy và dính vào nhau. Thở khò khè có tiếng ran khí quản dễ phát hiện vào
buổi đêm yên tĩnh. Gà xù lông, thở khó bỏ ăn, bệnh kéo dài làm gà gầy nhanh
và chết.
Một số con bị ỉa chảy, sưng ở vùng ngoài hốc mắt. Những triệu chứng
trên biểu hiện ở cường độ khác nhau và kéo dài hàng tháng, bênh về mùa hè
diễn biến nhẹ hơn mùa đông. Tỷ lệ chết của gà con từ 10 - 25% và tập trung
vào tuần đầu tiên sau khi xuất hiện bệnh. Gia cầm mắc bệnh giảm sản phẩm
từ 10 - 40 %, gà gầy sút và bệnh chuyển sang thể mãn tính.
Riêng ở gà đẻ: những ngày đầu thấy giảm ăn, sút cân, giảm đẻ trứng.

phận khác nhau với tỷ lệ phần trăm trên tổng số các ca bệnh được mổ khám
như sau:
Bảng 2.2. Kết quả về bệnh tích ở những cơ quan khác nhau trên gà

Bệnh tích

Tỷ lệ (%)

Viêm khí quản

97

Viêm thanh quản

82

Viêm túi khí

41

Viêm mũi

40

Viêm xoang

33

Viêm phổi


có hiện tượng kháng thuốc như Streptomycin, Erythomycin… Hamdy A.H (1970)
đã xác định được rằng việc kết hợp giữa Lincomycin và Spectonimycin đã đạt
được kết quả tốt trong công việc khống chế viêm túi khí ở gà con và gà tây.


13

Trong mọi trường hợp, người ta còn phải tính đến lợi ích kinh tế khi
điều trị so với mức độ thiệt hại về sản lượng trứng hoặc thịt do bệnh gây nên.
Kết quả trong nghiên cứu điều trị có thể thay đổi do sự ảnh hưởng của virus
và vi trùng kế phát phức tạp hơn do lứa tuổi của gà.
Chúng ta có thể tham khảo một số phác đồ điều trị sau: (Phạm Sỹ Lăng
và Lê Thị Tài, 1999) [4].
- Phác đồ 1:
+ Thuốc điều trị: Tylosin (lọ 10ml, 100ml, 10 %)
+ Cách dùng: tiêm bắp thịt hoặc cho uống, pha 1g với 2 lít nước, cho
uống liên tục 3 - 5 ngày.
+ Thuốc trợ sức: cho uống hoặc trộn với thức ăn các loại vitamin B1, A,
C, D, E,…
+ Hộ lý: mùa đông che truồng kín ấm, mùa hè giữ chuồng khô, thoáng, sạch.
- Phác đồ 2:
+ Thuốc điều trị: Tiamulin (lọ 10ml, 100ml, 10%)
+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc dưới mào với liều 1mg/5kg TT hoặc
cho uống thì dung loại 20g/gói, pha 20g/16 lít nước, cho uống toàn đàn liên
tục 3 - 5 ngày.
+ Thuốc trợ sức và hộ lý như phác đồ 1
- Phác đồ 3:
+ Thuốc điều trị: Gentatylo: 100mg/lọ
+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc tiêm bắp theo liều 1mg/kg TT, tiêm 3 5 ngày. Genta-Tylo-5 hoặc 20ml/lọ tiêm bắp hoặc tiêm dưới da theo liều 1 1,5ml/10Kg TT.
+ Thuốc trợ sức và hộ lý như phác đồ 1.

Respi.dox hòa vào nước hoặc trộn vào thức ăn mỗi khi thời tiết thay đổi
hoặc sau khi ngừa vaccine.
ND IODIN hòa loãng phun chùm lên gà, dụng cụ chăn nuôi, chuồng
trại,…để diệt mầm bệnh.
Men tăng trọng để bổ sung các men tiêu hóa và phòng chống tiêu chảy
kế phát sau khi gà mắc hen.
Cách chữa bệnh hen ghép
Trước khi chữa bệnh cho một đàn gà bị hen có biểu hiện bệnh đường
hô hấp ta cần lưu ý những triệu chứng sau.
Nếu gà bị hen kèm theo một số con bị nghẹo cổ liệt chân có triệu chứng
thần kinh, gà ỉa phân xanh nhiều, kêu toóc toóc thì nhiều khả năng gà bị hen
ghép với Newcastle nhưng do đàn gà đã được nhỏ vaccine lasota nên bệnh
biểu hiện không rõ, không điển hình khi đó cần nhỏ vaccine Avinew hoặc
tiêm H1 với liều gấp đôi. Sau đó dùng một trong các loại thuốc sau Mardoxy
hoặc Marenro 10 hoặc Erimar hoặc CRD MYCO pha lẫn với MARPHASOLThảo dược, điện giải gluco- K-C cho uống liên tục từ 3 - 5 ngày kết hợp bổ
sung men tăng trọng vào thức ăn để chống rối loạn tiêu hóa.
Nếu gà bị hen mà kèm theo biểu hiện rụng lông nhiều.
Gà kêu chíp chíp đuổi theo nhau chạy vòng tròn quanh chuồng, thì
nhiều khả năng gà bị hen ghép với bệnh nấm phổi khi đó dùng MARDOXY
hoặc ERYMAR pha lẫn với MARPHASOL- Thảo dược, Điện giải gluco- K-


16

C trong vòng 3 - 5 ngày kết hợp cho gà uống thêm KMnO4, CuSO4 với liều 2
- 3 gam/lít nước uống.
Nếu gà bị hen mà không có các biểu hiện trên và lây lan nhanh, thận
sưng to gà ỉa ra phân phớt vàng, đối với gà đẻ thường đẻ trứng méo mó, nang
trứng biến dạng, ứ máu trong lòng khí quản, khi dùng kháng sinh để điểu trị
mà không thấy bệnh thuyên giảm, thì gà có thể bị hen ghép với bệnh viêm

phải giải quyết vì nó có xu hướng lan rộng, gây thiệt hại không nhỏ cho ngành
chăn nuôi và làm giảm hiệu quả chăn nuôi.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [5] bệnh CRD là một bệnh có khả
năng lây lan rất lớn. Ở Mỹ, bệnh được mô tả lần đầu tiên vào năm 1943 do
J.P.Delaplane và H.O.Stuart với tên là bệnh đường hô hấp mãn tính. Ở Việt
Nam, bệnh đường hô hấp mãn tính do Mycoplasma gallisepticum gây ra đã
được phát hiện từ năm 1972 do các tác giả như Đào Trọng Đạt và cs (19721973). Tác giả đã cho biết bệnh CRD có ở tất cả các giống gà nuôi công
nghiệp với tỷ lệ mắc bệnh khá cao. Tương tự như vậy những nghiên cứu sau
đó của Lê Văn Năm (1999) [13] đã đưa ra kết luận rằng tất cả các giống gà
nuôi tại các Xí nghiệp ở phía Bắc điều bị nhiễm M.gallisepticum ở mức độ cao,
thấp khác nhau, dao động từ 0,82 - 11,97% trong đó cao nhất là giống
Plymouth (11,97 %) và thấp nhất là giống Leghorn (0,82 %). Tác giả Phạm Sỹ
Lăng và cs (2002) [5] trong nghiên cứu về tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn
gà nuôi công nghiệp ở tỉnh Tây nam bộ (1996) cũng đưa ra một kết quả là tất
cả 8 trại gà nuôi công nghiệp tại các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang đã
kiểm tra đều nhiễm M.gallisepticum, tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,9 - 6,2 %.
Theo Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) [18] tác nhân gây bệnh là
Mycoplasma gallisepticum. Tỷ lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt Nam là 51,6% (gà
thương phẩm) còn gà giống là 10%. Tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 - 30% khi gà mắc bệnh.
Nguyễn Quang Tuyên và cs (1993) [17] cho biết: bệnh do
Mycoplasma gallisepticum gây ra thể hiện bằng triệu chứng chảy nước


Trích đoạn Kết quả công tác phục vụ sản xuất Ảnh hưởng của Tylosin trong phòng bệnh cho đàn gà thí nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status