LỜI CẢM ƠN
Trải qua một thời gian dài học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm
nghiệp đến nay khoá học đã bước vào giai đoạn kết thúc. Để hoàn thiện
chương trình đào tạo tại nhà trường, củng cố những kiến thức lý thuyết, làm
quen dần với công tác nghiên cứu khoa học và tiếp cận với thực tiễn sản xuất.
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, khoa Lâm học, bộ môn Điều
tra – Quy hoạch và thầy giáo PSG.TS Trần Hữu Viên tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Xây dựng phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp cho
Ban quản lý rừng tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011 – 2020”
Để hoàn thành đề tài ngoài sự nỗ lực bản thân, tôi đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo trong bộ môn Điều tra - Quy hoạch, Ban
lãnh đạo, các phòng ban của Ban quản lý rừng tỉnh Hải Dương, bạn bè đồng
nghiệp và đặc biệt là sự chỉ đạo tận tình chu đáo của PSG.TS Trần Hữu Viên
trong suốt thời gian thực tập. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới tất cả các Bác, các Cô, chú trong Ban quản lý rừng tỉnh Hải Dương, tới các
bạn bè đồng nghiệp và đặc biệt tới thầy giáo PSG.TS Trần Hữu Viên.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã hết sức cố gắng để đạt được kết
quả tốt nhất, tuy nhiên do thời gian hạn chế, bản thân mới bắt đầu làm quen
với công tác nghiên cứu ngoài thực tế nên bản khóa luận khó tránh khỏi
những thiếu sót. Vậy tôi kính mong các thầy, cô giáo, các bạn đọc góp ý, bổ
sung để bản khóa luận được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân mai, ngày 14 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện:
Vũ Đình Điệp
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời kỳ chiến tranh cũng như những năm đầu phục hồi nền kinh tế
một chuyên ngành bắt đầu từ quy hoạch vùng. Vào thời gian này quy hoạch
quản lý rừng và Lâm sinh ở châu Âu được xem như là một lĩnh vực phát triển
ở mức cao trên cơ sở QHSDĐ (Olschowy,1975). Đến thế kỷ 19, với các khái
niệm “Lập địa hợp lý”, “Năng suất sử dụng”( Weber,1972), đã mở đầu thời
kỳ quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp.Trên cơ sở QHSDĐ theo
địa lý và vùng sản xuất, là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất nông
nghiệp.
Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc
“Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài
nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành
“khoanh khu chặt luân chuyển” theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức
này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, Chu kỳ khai thác ngắn.
Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh rừng
chồi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai
thác dài, phương thức khoanh khu chặt luân chuyển nhường chỗ cho phương
thức “Chia đều” của Harting. Harting đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều
thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm. Đến năm
1816 xuất hiện phương pháp phân kỳ lợi dụng của H.cotta. Cotta chia chu kỳ
khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt
hàng năm.
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời. Quan điểm phương
pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời
vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19
3
xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich, phương pháp này
khác với “Phương pháp bình quân thu hoạch” về căn bản. Judeich cho rằng
những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào
diện khai thác. Hai phương pháp “ Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh
thôn có sự tham gia cuả người dân (PRA) và đặc biệt là phương pháp phân
tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô. Ưu thế của các
phương pháp này đã được thực tiễn chứng minh bằng các kết quả áp dụng
RRA và PRA vào thập kỷ 80 và những năm đầu thập kỷ 90 trên nhiều quốc
gia và vùng lãnh thổ. Những kết quả thực nghiệm phân tích hệ thống canh tác
tại châu Á, châu Phi và Nam Mỹ đã xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác
là một công cụ để quy hoạch lập kế hoạch nông lâm nghiệp và sử dụng đất
cấp địa phương. Luning (1990), đã kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ
thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất. Theo Enwin (1999), phân tích hệ
thống canh tác là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại
hộ gia đình, để xác định mục tiêu cho quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng
đất hiện tại và phương án sử dụng đất mới, đánh giá các phương án sử dụng
đất khác nhau với mục đích lựa chọn được phương án hiệu quả nhất.
Nhìn chung quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển sản xuất nông
lâm nghiệp ngay từ khi mới ra đời cho đến nay đã có nhiều biến đổi rõ rệt,
xây dựng phương pháp ngày càng hoàn chỉnh hơn, phù hợp dần với thực tiễn
sản xuất. Bắt đầu từ quy hoạch vùng, đến các quy hoạch chuyên ngành và kỳ
kế hoạch với cường độ kinh doanh rừng cao.
2.2. Tại Việt Nam
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các công trình nghiên cứu đánh giá và quy
hoạch sử dụng đất đã được các nhà khoa học nghiên cứu phát triển với quy
mô rộng. Từ năm 1955 đến 1975, công tác điều tra phân loại đã được tổng
hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn Miền bắc. Nhưng đến năm
1975, các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất. Xung
quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình triển khai thực hiện trên các
5
vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến 1986, Đỗ Đình Sâm 1994…). Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức nghiên cứu cơ bản,
Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển
nông, lâm nghiệp các xã trên cơ sở phát triển các thôn bản và hộ gia đình.
Theo Bùi Đình Toái và Nguyễn Hải Nam năm 1998, tỉnh Lào Cai xây dựng
mô hình PRA để tiến hành quy trình sử dụng đất, tỉnh Hà Giang xây dựng quy
hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất 3 cấp: Xã, thôn và hộ gia đình. Đến năm
1998 trên toàn vùng dự án có 78 thôn bản được quy hoạch sự dụng đất theo
phương pháp có người dân tham gia. Phương pháp sử dụng đất trong giai
đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất với
cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn, tuy nhiên
chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa chủ chương nhà nước với nguyện vọng
của nhân dân. Vấn đề đặt ra ở đây là tìm ra một phương pháp quy hoạch tại địa
phương kết hợp hài hòa giữa ưu tiên của chính phủ và nhu cầu của cộng đồng.
Tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges năm 1996 đã thử nghiệm phương pháp
QHSDĐ có người dân tham gia tại Quảng Ninh đã đề xuất 6 nguyên tắc và
các bước trong công tác QHSDĐ. Sáu nguyên tắc đó là: Kết hợp hài hòa giữa
ưu tiên của chính phủ và nguyện vọng của người dân địa phương; tiến hành
trong khuôn khổ luật hiện hành và các nguồn lực hiện có tại địa phương; đảm
bảo tính công bằng, chú trọng đến cộng đồng dân tộc miên núi, người nghèo
và vai trò của phụ nữ; đảm bảo phát triển bền vững; đảm bảo nguyên tắc cùng
tham gia; kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng.
7
2.2.1. Một số chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước về quy hoạch
phát triển rừng và đất rừng
- Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua Luật số: 13/2003/QH11 ngày 26
tháng 11 năm 2003.
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chế tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp hiện nay theo đờng lối
phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nớc.
3.1.2 Mc tiờu c th
- iu tra, phõn tớch iu kin c bn ca Ban qun lý
- ỏnh giỏ c tim nng t ai, ti nguyờn rng.
- Quy hoch phỏt trin sn xut Lõm nghip cho Ban qun lý giai
on 2011 2020.
3.2 Ni dung nghiờn cu
3.2.1 iu tra, phõn tớch iu kin c bn ca Ban qun lý
- iu tra iu kin t nhiờn
- iu tra iu kin kinh t - xó hi
- iu tra tỡnh hỡnh sn xut kinh doanh Lõm nghip t trc ti nay
- iu tra hin trng s dng t ai, ti nguyờn rng ca Ban qun lý
- Phõn tớch nhng thun li v khú khn trong sn xut lõm nghip
3.2.2 Quy hoch phỏt trin sn xut Lõm nghip
- Xỏc nh phng hng, mc tiờu, nhim v phỏt trin sn xut Lõm
nghip.
- Quy hoch cỏc bin phỏp s dng t ai ti nguyờn rng
- Quy hoch cỏc bin phỏp phỏt trin sn xut Lõm nghip cho Ban qun lý
9
- Quy hoạch các giải pháp thực hiện.
- Dự tính vốn đầu tư, ước tính hiệu quả kinh tế của bản phương án.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh Lâm
nghiệp.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc những tài liệu có sẵn
Các tài liệu kế thừa phải đảm bảo các yêu cầu: Chính thống, cập nhật, đầy
Vdt
Trong đó: P là tổng lợi nhuận 1 năm
Tn là tổng thu nhập 1 năm
Vđt là tổng vốn đầu tư trong 1 năm
CP là tổng chi phí sản xuất kinh doanh 1 năm
r là Tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
3.3.2.2 Phương pháp động
Sử dụng phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận CBA (Cost Benefit
Analys) để phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình sản xuất. Các số liệu được
tổng hợp và phân tích bằng các hàm kinh tế trong chương trình MC.EXCEL
trên máy tính. Các chỉ tiêu kinh tế được sử dụng để đánh giá gồm: Lãi ròng
(NPV) và tỉ suất thu hồi nội bộ (IRR), tỉ suất giữa giá trị hiện tại của thu nhập
và chi phí (BCR).
* Tính giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV)
NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động
sản xuất sau khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại.
n
NPV =
∑
t=o
Bt − Ct
(1 + r ) t
11
NPV: Giá trị hiện tại của thu nhập ròng (đồng)
BPV : Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng).
CPV : Giá trị hiện tại của chi phí (đồng).
Nếu hoạt động sản xuất nào có BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng
cao cụ thể là BCR>1 thì sản xuất có lãi, BCR=1 hoà vốn, BCR r là có lãi, IRR < r là lỗ, IRR = r là hoà vốn.
12
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện cơ bản của Ban quản lý
4.1.1 Điều kiện sản xuất lâm nghiệp
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Toàn bộ khu vực nghiên cứu của Ban quản lý rừng Hải Dương nằm ở
phía Bắc của tỉnh, trụ sở của Ban đặt tại khu vực Côn Sơn xã Cộng Hoà
huyện Chí Linh cách trung tâm thành phố Hải Dương 45Km về phía Nam.
Toạ độ địa lý:
- Từ 20005’ đến 21015’ vĩ độ Bắc.
- Từ 1060 17' đến 106038' kinh độ Đông.
Về ranh giới cụ thể:
Chí Linh và Kinh Môn, với dạng địa hình như trên ít gây cản trở cho công tác
khai thác và vận chuyển lâm sản.
c. Địa chất, thổ nhưỡng
Đá mẹ
- Đá sa thạch và cuội kết: 5.333,9 ha, chiếm 36,4% diện tích đất đồi rừng.
- Đá phiến thạch, phấn xa: 46004,7 ha chiếm 23,14%.
- Phù sa cổ bạc màu: 4722,4 ha chiếm 32,3%.
Độ dầy tầng đất:
- Tầng đất nông: 2841,1 ha, chiếm 19,4%.
- Tầng đất sâu: 1744,8 ha, chiếm 11,9%.
- Tầng đất trung bình: 10.074,8 ha, chiếm 68,7%.
14
Độ dốc:
- 260: 3.290,0 ha, chiếm 22,4% diện tích đất đồi rừng.
Độ cao:
-Núi thấp>300m diện tích là 607,2 ha, chiếm 4,1% diện tích
đất đồi rừng.
- Đồi cao (200- 300 m) diện tích là 675,2 ha, chiếm 4,6%.
- Đồi trung bình (100 -200 m) diện tích là 2.483,4 ha, chiếm 16,9%.
- Đồi thấp (
hán về mùa khô.
Nhìn chung chế độ khí hậu thuỷ văn của khu vực cũng gây không ít khó
khăn cho công tác phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp trong vùng.
e. Hệ thực vật
Do đặc điểm khí hậu và địa hình của cùng đã hình thành nên kiểu rừng “lá
rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới gió mùa” với các loài cây chủ yếu: Re,
Kháo, Trám, Muồng, Lim xanh, Sau sau, Sến, Sao đen… cây ưu thế trước đây
là Lim xanh hiện nay là Dẻ và Sồi. Bên cạnh các loài cây thân gỗ thì hệ thảm
16
thực vật ở đây cũng rất phát triển với đa dạng nhiều loài cây phổ biến như:
Giàng giàng, Lau lách, Mâm xôi, Cộng sản, Sim, Mua…
Theo kết quả điều tra của Viện sinh thái – Tài nguyên Bộ khoa học công
nghệ và môi trường thì trong vùng có khoảng 156 loài thực vật bậc cao và
trên 100 loài cây thuốc khác nhau.
f. Hệ động vật
Do khu vực có diện tích rừng tự nhiên chiếm ít, mặt khác tình trạng săn
bắn bừa bãi diễn ra nhiều nên hiện nay khu vực chỉ còn lại một số ít các loài
động vật. Theo số liệu thống kê của Viện sinh thái trong vùng có khoảng 123
loài chim và thú nhỏ như: Lợn rừng, Sóc, Nhím, Cầy hương, Hoẵng…chúng
tập trung chủ yếu ở những khu rừng tự nhiên, những nơi xa xôi hẻo lánh, núi
đá, ít người qua lại.
4.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Tình hình dân số, dân tộc, lao động, và phân bố dân cư
Ban Quản Lý rừng tỉnh Hải Dương quản lý trên diện tích của 2 huyện Chí
Linh và Kinh Môn với 28 xã và 6 thị trấn, với 7 dân tộc anh em là: Kinh, Tày,
Nùng, Thái, Sán Dìu, Hmông, Hoa. Tổng số hộ là: 65.372 và 242.173 nhân
khẩu. Mật độ dân số trong vùng bình quân 530 người/km2.
Tổng số lao động trong vùng là 131.769 người, chiếm 54,0% dân số,
được nâng cao, chất lượng phục vụ tốt.
Hiện nay, 100% số xã trong vùng đồi rừng đều có điện thắp sáng và phục
vụ cho sản xuất phát triển kinh tế. Hệ thống thông tin liên lạc trong các huyện,
thị đều có các đài, trạm phát thanh truyền hình, hầu hết các xã đã xây dựng
được các tụ điểm sinh hoạt văn hóa thể thao cho thanh thiếu niên.
Nhìn chung về văn hoá, giáo dục, y tế trên địa bàn tương đối phát triển
điều này rất thuận lợi cho công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo vệ
và phát triển nghề rừng.
18
4.1.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh lâm nghiệp từ trước tới nay
a. Sự hình thành và phát triển của Ban quản lý rừng tỉnh Hải Dương.
* Giai đoạn trước năm 1999.
Trước năm 2002 Ban quản lý rừng có tên là Lâm trường quốc doanh Chí
Linh. Lâm trường quốc doanh Chí Linh được thành lập theo quyết định số
937 ngày 27/6/1967 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng (nay là tỉnh Hải
Dương).
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của lâm trường là:
- Sản xuất nông lâm nghiệp.
- Sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ song, mây tre đan.
- Khai thác gỗ và chế biến lâm sản.
Từ trước năm 1993 - 1998 làm chủ dự án 327, kết quả đã trồng phủ xanh
đất trống đồi núi trọc trên địa bàn hai huyện Chí Linh và Kinh Môn.
Từ năm 1999 đã trực tiếp tham gia dự án 661 trên địa bàn hai huyện Chí
Linh và Kinh Môn.
* Giai đoạn 1999 đến nay.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế đất nước và chuyển đổi doanh
nghiệp Nhà nước. Đến năm 2003 Lâm trường quốc doanh Chí Linh được
chuyển sang đơn vị sự nghiệp và đổi tên thành Ban quản lý rừng Hải Dương
Trạm QLR
Côn sơn
Trạm Nam
Chí Linh
Phòng kế hoạch kỹ thuật
Trạm Bắc
Chí Linh
Trạm Nông
Lâm Bến
Tắm
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ban quản lý
Chỉ huy trực tuyến:
Quan hệ công tác:
20
Trạm Kinh
Môn
b. Tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kimh doanh
* Về công tác trồng mới rừng:
Công tác trồng mới rừng được tiến hành ngay từ khi thành lập Lâm
trường, hiện nay hầu hết diện tích rừng của Ban là rừng trồng với tập đoàn
nhiên ngày càng bị thu hẹp kéo theo trữ lượng suy giảm nên hàng năm BQL
chỉ tiến hành khai thác ở rừng trồng, chủ yếu là các sản phẩm gỗ trụ mỏ cung
cấp cho các nghành công nghiệp than của tỉnh Quảng Ninh đồng thời đáp ứng
nhu cầu gỗ nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp và các xưởng sản xuất
trong tỉnh. Nhu cầu về lâm sản để phục vụ cho các hoạt động chế biến trên địa
bàn tỉnh là rất lớn. Hầu như hàng năm các đơn vị chế biến trong tỉnh đều phải
nhập gỗ từ ngoài vào. Có thể nói sự phát triển của ngành công nghiệp chế
biến cũng như nhu cầu về gỗ trong nhân dân đang ngày một tăng. Đây là điều
kiện thuận lợi cho BQL mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp,
phát triển nghề rừng.
Ngoài ra với diện tích lớn Thông nhựa cung cấp với một số lượng lớn lâm
đặc sản hàng năm. Mỗi năm BQL khai thác khoảng 35 – 40 tấn nhựa thông,
đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
* Về công tác vườn ươm:
Để cung cấp đầy đủ nhu cầu cây con phục vụ cho công tác trồng rừng, tại
mỗi trạm của BQL được thiết kế một vườn ươm với quy mô nhỏ đồng thời bố
trí thêm 2 công nhân chăm sóc, bảo vệ như vậy nhu cầu về gống, chất lượng
cây con cung cấp cho công tác trồng mới rừng của BQL luôn được đáp ứng.
* Các nghành sản xuất khác:
Sản xuất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp trong khu vực là
1.307,55 ha chiếm 9.72%. Các hộ thuần nông ruộng đất ít mặt khác đất canh
22
tác không thích hợp với việc mở rộng phát triển nông nghiệp, do vậy hầu hết
người dân ở đây đã phát triển kinh tế theo hướng nông lâm kết hợp lấy ngắn
nuôi dài nên đời sống kinh tế ổn định hơn. Những hộ ở gần rừng, ven rừng
tham gia vào nghề rừng lâu dài nên có điều kiện kinh tế khá hơn.
Ngành chăn nuôi: Chăn nuôi gia súc gia cầm trong khu vực cũng đã có những
chiều hướng phát triển tuy nhiên mới chỉ ở mức độ thấp, chăn nuôi nhỏ lẻ. Các
(5)
(6)
(7)
2.1.2
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
2.1.3
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
II
1
2
3
III
1
2
3
4
Hạng mục
Mã
Tổng diện tích tự nhiên
Đất trống có cây gỗ rải rác (Ic)
Núi đá không cây
24
NNP
SXN
LNP
RSX
RPH
RDD
PNN
ONT
CDG
ĐKH
CSD
NCS
Diện tích
(ha)
11145.90
10806.41
2584.25
8222.16
2672.31
452.80
726.80
96.95
23.91
76.09
32.50
16.94
27.20
9.36
8.20
7.57
4.20
26.54
50.45
24.79
15.25
14.12
6.63
39.20
17.05
46.38
5.06
11.94
5.80
30.82
1.37
32.96
51.73
15.30
1.67
31.15
39.71
nhựa thông mỗi năm đem lại nguồn thu rất lớn cho Ban quản lý.
25