ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC NGỮ PHÁP
CỦA CÚ BỊ BAO
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC NGỮ PHÁP
CỦA CÚ BỊ BAO
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số:
62220110
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học
1. TS. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
2. TS. NGUYỄN THỊ KIỀU THU
………………………………………………..
11
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu ……………………………………… .…
11
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………
13
6. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………..
15
7. Bố cục của luận án
………………………………………………
16
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÚ BỊ BAO …………………………..
17
1.1. Các quan điểm trong việc nghiên cứu cú bị bao
……………………
40
1.2.5. Cú bị bao làm bổ ngữ………………………………………………
41
1.2.6. Cú bị bao làm định ngữ
42
…………………………………………
2
1.2.7. Cú bị bao làm trạng ngữ …………………………………………
1.3 Cú bị bao trong câu tiếng Anh
45
………………………………………
46
1.3.1. Định nghĩa và các thuật ngữ ………………………………………
46
1.3.2. Phân biệt cú bị bao và cú không bị bao
2.1. Cú bị bao làm thành phần trong câu tiếng Việt
61
……………………
61
2.1.1. CBB làm chủ ngữ ………………………………………….
61
2.1.2. CBB làm vị ngữ ……………………………………………
66
2.1.3. CBB làm bổ ngữ …………………………………………..
67
2.1.4. CBB làm định ngữ ………………………………………..
73
2.1.5. CBB làm trạng ngữ
75
……………………………………...
3
2.4. Đối chiếu CBB làm thành phần trong câu tiếng Việt
và tiếng Anh ……………………………………………………..
100
2.4.1. CBB làm chủ ngữ
………………………………………..
100
2.4.2. CBB làm vị ngữ …………………………………………..
105
2.4.3. CBB làm bổ ngữ …………………………………………..
106
2.4.4. CBB làm định ngữ ………………………………………..
109
2.4.5. CBB làm trạng ngữ ……………………………………….
112
3.4. Chuyển dịch CBB làm bổ ngữ ………………………………….
143
3.4.1. Chuyển dịch Việt – Anh (tV1 → tA2) ……………………
143
3.4.2. Chuyển dịch Anh – Việt (tA1→ tV2)………………………
174
3.5. Chuyển dịch CBB làm định ngữ ……………………………….
181
3.5.1. Chuyển dịch Việt – Anh (tV1 → tA2) ……………………
181
3.5.2. Chuyển dịch Anh – Việt (tA1 → tV2) ……………………
191
3.6. Chuyển dịch CBB làm trạng ngữ ……………………………….
201
4
Complementizer
C:
Chủ ngữ của câu
c:
Chủ ngữ của CBB
Dt/Dn:
Danh từ hoặc Danh ngữ
Đ:
Định ngữ
T:
Trạng từ
tA1:
Bản gốc tiếng Anh
tA2 :
Bản dịch tiếng Anh
x: số thứ tự tài liệu tham khảo trong thư mục
[x, y]:
x: số thứ tự tài liệu tham khảo trong thư mục
y: số trang của tài liệu tham khảo
(x, y)
x: số thứ tự của nguồn ngữ liệu minh họa trong thư mục
6
y: số trang của ngữ liệu minh họa
<x>
x : số thứ tự các câu ví dụ minh họa khảo sát dịch thuật
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do thực tiễn
Ngôn ngữ là thành tựu vô cùng quan trọng của văn minh nhân loại. Trải
qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại, ngôn
ngữ ngày càng hoàn thiện và phong phú hơn. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người, là công cụ để con người tư duy và nhận thức. Mỗi dân tộc có
Qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi thấy cần phải giúp học viên người
Việt học tiếng Anh cũng như người nước ngoài học tiếng Việt, hiểu rõ được những
điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc cú pháp của cả hai ngôn ngữ và biết cách
phân tích câu dựa vào các thành phần và những mối quan hệ của các thành phần trong
câu, có thể nắm bắt cấu trúc cú pháp để sử dụng câu một cách hiệu quả, tích cực trong
quá trình học tiếng. Đây không chỉ là điều tâm huyết mà còn là nỗi trăn trở của các nhà
ngôn ngữ học.
1.2. Lý do khoa học
Chúng ta phải thừa nhận rằng việc nghiên cứu câu có chứa cụm chủ - vị
làm thành phần là rất cần thiết và hữu ích cho việc thực hành sử dụng tiếng và phân
tích cấu tạo của câu, nhất là với loại ngôn ngữ đơn lập, không biến hình như tiếng Việt.
Vả lại, việc đưa một CBB vào làm thành phần câu cần phải có những quy tắc ngữ pháp
bắt buộc, mang tính đặc thù của từng ngôn ngữ, và thường không giống nhau giữa các
ngôn ngữ. Vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh rất
quan trọng trong việc dạy và học tiếng, cũng như dịch thuật. Hơn thế nữa, trong
chương trình ngữ pháp tiếng Việt mà nhà trường giảng dạy từ trước tới nay cấu trúc cú
pháp cơ bản là cấu trúc chủ - vị.
9
Chúng tôi nhận thấy cần phải có công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn
về CBB trong tiếng Việt và tiếng Anh, phân tích cấu trúc cú pháp, so sánh, đối chiếu
những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong hai ngôn ngữ nhằm giúp cho việc
học tiếng dễ dàng hơn, hiệu quả hơn. Đồng thời cũng cần phải có khảo sát dịch thuật
CBB để góp phần vào lý thuyết dịch Việt-Anh, Anh-Việt đang ngày càng cần thiết
trong quá trình phát triển và hội nhập toàn cầu hiện nay.
So sánh, đối chiếu cấu trúc cú pháp của tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ đang
học là một trong những cách tốt nhất giúp cho việc dạy và học tiếng hiệu quả hơn và
Lưu Vân Lăng [32, 33], Cao Xuân Hạo [19, 20, 21, 22], Nguyễn Tài Cẩn [8, 9], Mai
Ngọc Chừ [11, 12], Vũ Đức Nghiệu [11, 37], Hoàng Trọng Phiến [11, 38], Nguyễn
Thiện Giáp [14, 15, 16, 17, 18], Nguyễn Văn Hiệp [23, 24, 25, 37, 44], Nguyễn Minh
Thuyết [17, 44, 45] , Diệp Quang Ban [2, 3, 4, 5, 6, 7], Nguyễn Chí Hòa [26], Vũ Thị
Ân, Nguyễn Thị Ly Kha [1], Đỗ Thị Kim Liên [34, 35], Nguyễn Thị Lương [36], Lê
Xuân Thại [39], Nguyễn Kim Thản [40, 41], Phan Thiều [43].
Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình nên việc phân tích cấu trúc câu và thành phần
câu phải dựa trên cách biến thể của vị từ chính. Nhiều nhà ngôn ngữ học cũng rất quan
tâm đến câu và các thành phần bị bao trong câu tiếng Anh như Bas Aart [65], Collins
Cobuild [67], Edward Finegan [70], George Yule [72], Howard Jackson [75], James
David McCawley [77], Peter Collins and Carmelle Hollo [89], Michael Swan [86],
Rodney Huddleston [91], Ronald Carter, Michael McCarthy [92], Robert D. Borsley
[93], Robert D. Van Valin JR [94], Peter W. Culicover [90], Roderick A. Jacobs [95],
Victoria Fromkin, Robert Rodman [96]…. Họ cũng nghiên cứu CBB theo cách tiếp cận
ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng.
Nói tóm lại, cấu trúc câu và các thành phần trong câu là mối quan tâm của nhiều
nhà ngôn ngữ học. Tuy nhiên, theo như tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có nghiên cứu
11
nào so sánh đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh trên phương diện cấu trúc
cú pháp và khảo sát việc dịch thuật. Các nghiên cứu ngữ pháp trước đây chỉ đề cập đến
CBB một cách ngắn gọn, hoặc một phần. Chúng tôi thực hiện luận án này trên cơ sở kế
thừa và tiếp bước các nghiên cứu ngữ pháp nhưng chuyên sâu hơn về CBB trong câu
tiếng Việt và tiếng Anh.
3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện luận án này với mục đích
- Khảo sát vị trí và chức năng của CBB trong câu tiếng Việt và câu tiếng
Đối với ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, vị từ trong câu biến hình theo
thức, thì, và thể của câu, ngôi và số của chủ ngữ thì việc xác định thành phần của câu ít
gặp khó khăn. Còn đối với tiếng Việt – ngôn ngữ đơn lập, không biến hình- thì việc
xác định các thành phần câu đôi khi không đơn giản. Chúng ta phải nhận biết và hiểu
quan hệ cú pháp chúng ta mới có thể hiểu đúng câu, nói và viết được câu đúng. Nhờ
vào kết quả so sánh đối chiếu, người học tiếng thấy được những điểm tương đồng và
khác biệt trong cấu trúc câu có chứa CBB của tiếng Việt và tiếng Anh để có thể sử
dụng CBB một cách chính xác và hiệu quả khi giao tiếp.
Luận án được thực hiện nhằm giúp cho người học tiếng có được kiến
thức vững chắc về cấu trúc CBB mà người bản ngữ biết và sử dụng một cách tự nhiên,
mặc định nhưng lại gây một số khó khăn nhất định đối với người đang học ngôn ngữ
này như một ngoại ngữ, và giúp họ tránh được những lỗi sai khi sử dụng câu có từ hai
kết cấu chủ-vị trở lên.
13
Luận án góp phần mang lại những ứng dụng thực tiễn trong công tác
giảng dạy, học tập, và dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Anh hay ngược lại.
Bên cạnh đó hiện nay đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, nhu
cầu học ngoại ngữ ngày càng cao, đặc biệt là việc học tiếng Anh. Trong quá trình hội
nhập, vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc là điều rất quan trọng và chúng ta phải thực hiện
một cách nghiêm túc. Mà “ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc” (W.Humboldt). Có kiến
thức tiếng mẹ đẻ chuẩn xác, hiểu rõ những nét giống nhau và phân biệt được những sự
khác nhau của tiếng Việt và ngoại ngữ đang học cũng là góp phần giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Dù kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ là một phần trong vốn kiến thức ngữ
pháp phong phú, phức tạp của tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi mong muốn rằng luận
án này có thể góp phần giúp ích cho người học tiếng.
dịch trong các tác phẩm:
1/ Graham Greene (1980), The Quiet American, Penguin Books.
2/ Graham Greene (Vũ Quốc Uy dịch) (2007), Người Mỹ trầm
lặng, Nhà xuất bản Lao động.
3/ Stephenie Meyer (Tịnh Thủy dịch) (2006), Trăng non, Nhà xuất
bản Trẻ.
4/ Stephenie Meyer (2006), New Moon, Little Brown Company.
5/ Nguyễn Thị Kiều Thu (2013). Đón nhận - Truyện ngắn đương
đại Nam bộ (song ngữ) Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
6/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2004), Tình yêu sau chiến tranh,
Nhà xuất bản Hội nhà văn.
7/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2003), Love after War, Curbston
Press.
Luận án đã tiến hành khảo sát câu tiếng Việt và tiếng Anh có chứa CBB
trong 20 truyện ngắn hay năm 2002 của báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật và 20 truyện ngắn hay
2002 của Mỹ (The best American short stories 2002) trên tạp chí US and Canada
Magazine. Mỗi truyện ngắn dài khoảng từ 3.500 đến 4.000 từ để lấy nguồn ngữ liệu
phân tích và miêu tả cấu trúc cú pháp và khả năng hành chức của CBB.
15
Luận án không bàn về vấn đề các loại câu có chứa CBB, không phân biệt
các loại câu và tên gọi của câu có chứa CBB, và sự khác nhau về các thuật ngữ cũng
như quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu, các tác giả về CBB mà chỉ nghiên
cứu, phân tích cấu trúc cú pháp của CBB, sự hành chức của CBB trong câu, khái quát
hóa cách dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt.
Luận án này chỉ nghiên cứu CBB có vị từ biến ngôi trong tiếng Anh.
6. Phương pháp nghiên cứu
Miêu tả và phân tích khả năng hành chức của CBB trong câu tiếng Việt
và tiếng Anh
Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc nội tại của
CBB và CBB làm thành phần trong câu tiếng Việt và tiếng Anh
-
Chương 3: Vấn đề chuyển dịch câu có chứa cú bị bao Việt-Anh, Anh-Việt
Tổng hợp các cách chuyển dịch câu có chứa CBB Việt-Anh, Anh-Việt
trong các tác phẩm văn học.
17
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÚ BỊ BAO
1.1.
Các quan điểm trong việc nghiên cứu cú bị bao
1.1.1. Về việc nghiên cứu cú bị bao trong câu tiếng Việt
Chúng ta có thể tạm chia các nghiên cứu về CBB như sau:
a/ Nhóm tác giả chỉ nghiên cứu CBB làm chủ ngữ, bổ ngữ, và định ngữ:
Khoảng từ thập niên 30 đến 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu
hầu như chỉ chủ yếu tập trung vào CBB làm chủ ngữ, làm bổ ngữ, hoặc định ngữ dựa
trên quan điểm “cú bản vị” hoặc “từ tổ”. Họ không bàn về vấn đề CBB làm vị ngữ và
trạng ngữ.
Từ năm 1936, trong quyển ‘Việt-nam Văn-phạm’, tác giả Trần
Trọng Kim đã nghiên cứu cách thành lập câu với các mệnh đề, ông gọi cụm chủ-vị hay
mệnh đề bổ túc của vị từ ‘trông’. Ông nêu các trường hợp của CBB làm thành phần
như sau :
- Mệnh đề bổ túc làm bổ túc ngữ thuộc động từ: Các mệnh
đề này thường được nối với động từ bằng các giới ngữ: rằng, cho, sao … Nhưng các
giới ngữ ấy không phải là luôn luôn cần thiết. Ta chỉ dùng nó khi không thể bỏ được.
Ví dụ: Chúng tôi mong rằng anh sẽ thành công.
- Mệnh đề bổ túc làm phụ thích ngữ cho danh từ: Tôi đi đến
đó, với cái hy vọng rằng cuộc xung đột sẽ có thể dàn xếp được.
- Mệnh đề bổ túc làm bổ túc ngữ của tính từ: các mệnh đề
bổ túc làm bổ túc ngữ cho tính từ thường được giới ngữ ‘cho đến nỗi’ nối lại với tính
từ. Ví dụ: ‘Bà ấy hà tiện cho đến nỗi khắp trong vùng ai cũng đều biết tiếng’.
19
- Mệnh đề bổ túc làm thuộc ngữ: (không có giới ngữ) Ví
dụ: ‘Sự thật là anh đã phản bội quyền lợi quốc gia.’
- Mệnh đề bổ túc làm chủ ngữ: Ví dụ: ‘Anh thành công
như thế khiến mọi người cảm phục.’ [46, 358-359].
Trong quyển ‘Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, xuất bản năm
1963 ở Đại học Huế, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê viết "Cú pháp là phần
quan trọng hơn cả trong ngữ pháp Việt” [10, 209], hai ông nghiên cứu cả cách cấu tạo
câu và cách cấu tạo từ kết. Hai ông cũng gọi CBB là ‘cú’ và cho rằng "Trong cùng một
câu diễn tả nhiều sự tình, thì mỗi tổ hợp dùng dể diễn tả một sự tình, chúng tôi gọi là
cú. Câu diễn tả một sự tình là câu đơn cú, câu diễn tả nhiều sự tình là câu phức cú,
chúng tôi gọi tắt là câu đơn và câu phức " [10, 479].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn, trong quyển ‘Ngữ pháp tiếng
Việt’ [9], giới thiệu những khái lược về đoản ngữ và xét CBB làm định tố trong danh
ngữ. Ông chia danh ngữ như sau: Bộ phận trung tâm do danh từ đảm nhiệm, và các
thành tố phụ gọi là định tố - được chia làm hai phần: phần đầu của danh ngữ và phần
đã rõ ràng.
cú con [32, 29-30]
Theo ông, “Phân tích ngữ đoạn tầng bậc sẽ giúp ta phân biệt được kết cấu các loại câu
đơn, câu kép, thấy rõ câu đơn thuần túy hay có cú con. Đứng trên quan điểm ‘ngữ
đoạn tầng bậc có hạt nhân’ ta có thể thấy được mối quan hệ và chỗ khác nhau giữa
ngôn ngữ và lời nói, giữa kết cấu trừu tượng bên trong và biểu hiện cụ thể bên ngoài,
giữa bản tính và chức năng, giữa các hiện tượng từ vựng, ngữ pháp tu từ, giữa tiêu
chuẩn và thói quen trong ngôn ngữ.” [32, 30].
Hoàng Trọng Phiến viết “kết cấu chủ-vị là đơn vị cú pháp nhỏ
nhất của tiếng Việt” [38, 80]. Ông gọi kết cấu chủ -vị làm thành phần câu là ‘câu con’,
“Các câu con (hay là các kết cấu chủ-vị) khi được dùng để mở rộng thành phần câu,
thành phần đoản ngữ chúng vẫn giữ đặc điểm của câu về mặt cấu trúc.” Ông gọi việc
21
sử dụng CBB làm thành phần câu là ‘quá trình phức tạp hóa câu đơn’ và viết “quá
trình phức tạp hóa câu đơn thường bao gồm nhiều tầng, nhiều lớp.” [38, 186]. Ông
đưa ra các mô hình khi sử dụng CBB làm thành phần câu như sau: [38, 192-195]
C
V
(c-v)
CBB làm chủ ngữ
V
C
(c-v)
CBB làm định ngữ
Trong các nghiên cứu về câu, Diệp Quang Ban, trong quyển ‘Ngữ
pháp tiếng Việt’ [6, 288-291], đã vạch rõ vị trí và chức năng của CBB là để phân biệt
câu ghép và câu phức, ông gọi CBB là ‘câu bị bao’. Ông xét ‘câu bị bao’ với phần có
liên quan với nó là quan hệ cú pháp – ngữ nghĩa bên trong một câu, chứ không phải
quan hệ giữa hai câu. Ông cho rằng, dạng câu là một bộ phận nằm bên trong một câu
hay bị bao bên trong một câu làm thành một câu phức; và mỗi dạng câu có tính độc lập
tương đối, chúng ghép lại với nhau, không câu nào bao câu nào, làm thành câu ghép.
Ông minh họa ‘câu bị bao’ bằng sơ đồ ví dụ như sau:
Câu bị bao
Chuột chạy
Câu nằm ngoài cùng
làm vỡ đèn
Câu bị bao
Nhưng trong quyển ‘Ngữ pháp Việt Nam’ xuất bản năm 2009 [7],
Diệp Quang Ban không dùng thuật ngữ ‘câu bị bao’ nữa mà gọi là ‘mệnh đề bị bao’.
Ông viết: “Giữa các mệnh đề có hai kiểu phân biệt nhau khá rõ.
23
i) Các mệnh đề nằm ngoài nhau, hay không bao nhau;