đối chiếu cấu trúc – ngữ nghĩa tục ngữ tiếng hán hiện đại và tiếng việt - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THANH HẰNG ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC – NGỮ NGHĨA
TỤC NGỮ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
VÀ TIẾNG VIỆT

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 62.22.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Nguyễn Đức Dân
2. PGS. Chu Xuân Diên



DẪN NHẬP
1. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay việc nghiên cứu tục ngữ trong giới ngôn ngữ học của hai nước Việt
Nam và Trung Quốc rất được coi trọng. Số lượng học giả cũng như những thành
quả trong việc nghiên cứu tục ngữ ngày càng nhiều. Hệ quả của điều này là sự
xuất hiện rất đa dạng các chuyên khảo cũng như các từ điển về tục ngữ. Về các
từ điển tục ngữ Hán có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như “Hán ngữ tục
ngữ đại từ điển” do Ôn Đoan Chính chủ biên [132], “Tục ngữ từ điển” của Từ
Tông Tài, Ứng Tuấn Linh [142], v.v. Ở Việt Nam có “Tục ngữ, ca dao, dân ca
Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan [89], “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân
Diên, Lưu Văn Đang, Phương Tri [27],
“Từ điển thành ngữ – tục ngữ Việt Nam”
của Nguyễn Lân [69], “Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam” của Việt
Chương [16], v.v.
So với sự xuất hiện rất đa dạng, phong phú các từ điển tục ngữ, những công
trình chuyên về nghiên cứu tục ngữ nói chung cũng như các công trình đối chiếu
tục ngữ Hán - Việt, Việt - Hán còn rất ít. Ngoài một số bài viết và luận án tiến só
có đề cập đến việc so sánh tục ngữ, chẳng hạn, luận án tiến só “Cấu trúc cú
pháp – ngữ nghóa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân
tộc khác” (2001) của Nguyễn Q Thành, chưa có công trình nào nghiên cứu

cứu là phương diện ngôn ngữ của tục ngữ và những vấn đề liên quan mật thiết 3
với phương diện này. Những vấn đề cơ bản về tục ngữ như cấu trúc cú pháp, các
mô hình ngữ nghóa, nghóa biểu trưng trong tục ngữ được đặc biệt chú ý. Vì nhiều
lí do, luận án chỉ tập trung tìm hiểu những phương diện trên thể hiện trong tục
ngữ Hán và tục ngữ Việt.
Thông qua luận án này, chúng tôi mong muốn được góp một phần sức lực
vào việc so sánh đối chiếu, tìm ra những nét tương đồng, dò biệt giữa tục ngữ hai
nước Việt – Trung. Chúng tôi hy vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo tin cậây,
có giá trò cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu tục ngữ Hán. Những nội
dung của luận án cũng sẽ góp phần nhất đònh vào việc gìn giữ sự trong sáng của
tiếng Việt.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Trung Quốc
Theo chuyên khảo nghiên cứu tục ngữ tiếng Hán ở thế kỉ XX [135], từ “tục
ngữ” xuất hiện sớm nhất trong “Sử kí” của Tư Mã Thiên. Nếu từ “tục ngữ” trong
“Sử kí” là từ thông thường, chỉ cách nói lưu truyền trong dân gian, thì từ “tục
ngữ” trong “Thuyết uyển” của Lưu Hướng đã mang tính thuật ngữ, chỉ những
ngữ cố đònh lưu truyền trong dân gian. Vào thời Tiên Tần và thời nhà Hán, tục
ngữ và ngạn ngữ thuộc về cùng một khái niệm, cho nên sau này còn có tên gọi
là “tục ngạn”. Nếu tính từ thế kỉ XVIII, có thể nói là việc sưu tầm và chú thích
tục ngữ ở Trung Quốc cũng khá rầm rộ và đạt được những kết quả nhất đònh.
Những đầu sách tiêu biểu là “Thông tục biên”, “Hằng ngôn lục”, “Cổâ dao
ngạn”, “Thường ngữ lục nguyên”, v.v. Tuy nhiên, những sách về tục ngữ của
thời kì này chủ yếu thiên về sưu tầm, thu thập các câu tục ngữ, không mang tính
chất lí luận, nghiên cứu. Ngay cả nhận thức về vấn đề cơ bản nhất “tục ngữ là
hoặc không phân tích sâu, hoặc đều phân tích chúng theo cấu trúc cú pháp
truyền thống.
2.1.2. Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghóa
Các nhà Hán học nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững ngữ nghóa
tục ngữ vì nó liên quan trực tiếp đến việc lí giải và vận dụng tục ngữ một cách
chính xác. Ngoài ra họ còn đề cập cụ thể đến những vấn đề như: nghóa mặt chữ
và nghóa thực tế của tục ngữ; tính đơn nghóa và tính đa nghóa của tục ngữ; tục
ngữ đồng nghóa và tục ngữ phản nghóa.
Theo Ôn Đoan Chính [134], nghóa mặt chữ (字面意义 tự diện ý nghóa) của
tục ngữ là nghóa được suy ra trực tiếp từ những từ và quan hệ ngữ pháp bao hàm
trong tục ngữ. Nghóa thực tế (实际意义 thực tế ý nghóa)của tục ngữ chỉ nghóa
được sử dụng trong thực tế của tục ngữ. Sau khi phân tích mối quan hệ giữa
nghóa mặt chữ và nghóa thực tế, tác giả phân chúng thành ba nhóm sau:
(1) Nghóa mặt chữ và nghóa thực tế giống nhau, nghóa mặt chữ là nghóa đen.
(2) Nghóa mặt chữ và nghóa thực tế không giống nhau. Nghóa mặt chữ không
có tác dụng biểu ý, nghóa thực tế trong câu mới là nghóa được sử dụng.
(3) Có hai nghóa thực tế, một nghóa giống nghóa mặt chữ, còn một nghóa là
nghóa phái sinh.
Về tính đơn nghóa và đa nghóa của tục ngữ, tác giả Ôn cho rằng tục ngữ đơn
nghóa là một câu tục ngữ chỉ truyền thụ tri thức ở một lónh vực nào đó, những tri 6
thức đó được xác nhận và chỉ có một cách giải thích. Tục ngữ đa nghóa là tục ngữ
có từ hai ý nghóa trở lên. Trong tục ngữ không hiếm hiện tượng “nhất ngữ đa
ngôn”, có tục ngữ có hai nghóa thực tế – nghóa đen và nghóa phái sinh, từ đó hình
thành hiện tượng cùng tồn tại tầng nghóa bề mặt (浅层义 thiển tầng nghóa) và
tầng nghóa bên trong (深层义 thâm tầng nghóa). Tuy có thể đa nghóa, nhưng
khi sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể, mỗi câu tục ngữ thường cũng chỉ mang một
nghóa nhất đònh.

mua, đáng trăm quan quý” [dẫn theo 74, tr. 509].
Năm 1975, miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất. Trang sử mới của
nước nhà tạo cơ hội tốt cho sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên cũng
như xã hội. Nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu tục ngữ và một số
công trình chuyên khảo về tục ngữ được ra đời. Những chuyên khảo này không
đơn thuần chỉ là sưu tầm và chú giải tục ngữ, mà còn tìm hiểu tục ngữ từ nhiều
khía cạnh, trong đó cấu trúc và ngữ nghóa của tục ngữ được các tác giả đi sâu
khai thác, nghiên cứu.
Chúng ta có thể kể đến những công trình nghiên cứu về tục ngữ như: “Tục
ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri [27];
“Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc & thi pháp” của Nguyễn Thái Hòa [59], “Tìm hiểu
thi pháp tục ngữ Việt Nam” của tác giả Phan Thò Đào [35] và hàng loạt các bài 8
nghiên cứu tục ngữ đăng trong các tạp chí: Ngôn ngữ, Văn hoá dân gian, Văn học
cùng một số luận án tiến só nghiên cứu về tục ngữ trong mấy năm gần đây.
Ở Việt Nam, có thể thấy cách tiếp cận nghiên cứu tục ngữ theo các khuynh
hướng sau:
2.2.1. Tiếp cận cấu trúc cú pháp tục ngữ theo quan điểm ngữ pháp chức năng
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, cấu trúc câu là mô hình Đề –Thuyết.
Quan điểm phân tích cú pháp tục ngữ theo mô hình đề thuyết đầu tiên có thể kể
đến tác giả Cao Xuân Hạo trong Ngữ pháp chức năng tiếng Việt [54]. Theo ông,
mô hình đề thuyết có thể phân nhỏ thành câu một bậc (kiểu câu mà cả Đề lẫn
Thuyết đều không thể chia tiếp thành hai phần đề và thuyết ở bậc thấp hơn) và
câu nhiều bậc (kiểu câu mà Đề hoặc/ và Thuyết bậc trên được cấu tạo bằng một
cấu trúc đề thuyết bậc dưới). Ông dùng biểu đồ hình cây biểu diễn cấu trúc cú
pháp tiếng Việt trong đó bao gồm cấu trúc cú pháp tục ngữ Việt [54, tr.72,73].
Ngoài ra để có thể dễ dàng phân đònh ranh giới giữa Đề và Thuyết, các tác giả
còn đưa ra một số từ giữ vai trò là phương tiện phân giới Đề – Thuyết. Đó chủ

ngữ nghóa khái quát, tác giả chứng minh rằng một số câu tục ngữ tuy dùng những
phương thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau nhưng lại có cấu trúc lô gích như nhau.
Giải mã nghóa tục ngữ theo kiểu này tương đối chặt chẽ và chuẩn xác.
Chúng ta có thể hiểu rằng cấu trúc lô gích là bất biến ngữ nghóa của hai hay
nhiều câu tục ngữ. Đặc trưng của mối quan hệ giữa các quan hệ và thuộc tính
của chúng đã tạo ra nghóa cơ bản của tục ngữ. Thực tế cho thấy một số câu tục 10
ngữ là những biến thể ngôn ngữ của một bất biến ngữ nghóa, bất biến ngữ nghóa
chính là nghóa khái quát hay nghóa biểu trưng của tục ngữ.
Gần đây, Nguyễn Q Thành trong luận án tiến só Cấu trúc cú pháp – ngữ
nghóa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân tộc khác [95]
tập trung nghiên cứu cấu trúc cú pháp tục ngữ xuất phát từ đặc điểm nội dung
khái quát nhất của tục ngữ để tìm hiểu các cấu trúc đặc thù một cách có hệ
thống. Từ việc phân tích nội dung, hình thức của từng câu tục ngữ Việt, tiếp thu
quan điểm của cấu trúc lôgích – ngữ nghóa, tác giả rút ra ba cặp mệnh đề ngữ
nghóa khái quát nhất phản ánh nhận thức chung của dân gian về thế giới. Đó là:
(1) Cái này thì có/ không có đặc điểm này; (2) Cái này thì tương đương/ không
tương đương cái kia; (3) Cái này thì dẫn tới cái kia tương hợp/ không tương hợp.
Theo tác giả, ba cặp mệnh đề ngữ nghóa khái quát này có thể gọi là cấu trúc
cú pháp – ngữ nghóa (cấu trúc nghóa lô gích trong mối quan hệ với cấu trúc cú
pháp của tục ngữ). Mỗi cấu trúc nghóa khái quát lại bao gồm các mệnh đề lô
gích ngữ nghóa cụ thể hơn. Các mệnh đề ngữ nghóa khái quát được thể hiện trong
các hình thức cú pháp chứa đựng tín hiệu đònh hướng nghóa, có thể gọi là những
cấu trúc ngữ nghóa – cú pháp của tục ngữ. Tác giả trình bày trong luận án của
mình 116 mô hình ngữ nghóa - cú pháp của tục ngữ Việt.
Luận án của tác giả đã đưa ra một hướng tiếp cận mới, có tính khả thi đối
với việc phân tích cấu trúc ngữ nghóa của tục ngữ.
2.2.3. Tiếp cận cú pháp tục ngữ từ các kiểu khuôn hình tục ngữ
12
quá trình vận dụng, những nội dung mà tục ngữ biểu đạt thường được mở rộng
“khiến cho ý nghóa của kinh nghiệm ấy có khả năng bao hàm được cả nhận thức
về bản chất và tính qui luật của nhiều hiện tượng trong thế giới khách quan” [27,
tr.142]. “Nội dung nhất đònh” mà tác giả đề cập đến có thể hiểu đó chính là
nghóa đen của tục ngữ, còn “kinh nghiệm có khả năng bao hàm được cả nhận
thức về bản chất và tính qui luật của nhiều hiện tượng trong thế giới khách
quan” có thể hiểu đó là nghóa bóng của tục ngữ. Tác giả kết luận: “Trong vốn
tục ngữ của người Việt, bên cạnh những câu có một nghóa – nghóa đen, còn có
rất nhiều câu có hai nghóa – nghóa đen và nghóa bóng” [27, tr.142].
Từ góc độ ngữ nghóa học, Hoàng Văn Hành [50, tr.59] nhận đònh rằng trong
mỗi câu tục ngữ không chỉ có cấu trúc ngữ pháp, mà còn có cấu trúc ngữ nghóa.
Cấu trúc này bao gồm cả những yếu tố thuộc về nội dung miêu tả hiện thực
(chức năng đònh danh) cũng như dụng ý thông báo (chức năng thông tin). Theo
tác giả, cấu trúc ngữ nghóa của tục ngữ giống với cấu trúc ngữ nghóa của mọi câu
nói thông thường vì với nghóa đen nó cũng biểu thò một cảnh huống (các sự vật
hay hiện tượng trong những mối quan hệ với nhau), sự khác nhau giữa chúng là
nghóa đen của tục ngữ thường chỉ dừng lại ở sự đúc kết kinh nghiệm trong lónh
vực sản xuất, thiên văn, v.v. Nhưng ở nhiều trường hợp, ngữ nghóa tục ngữ sẽ
được chuyển hóa trong những câu tục ngữ có khả năng ẩn dụ, ngữ nghóa những
câu tục ngữ thuộc loại này đã không chỉ dừng lại ở tầng nghóa cơ sở (tầng nghóa
đen) mà còn được hiểu theo nghóa bóng. Cũng theo Hoàng văn Hành “tục ngữ
nào càng miêu tả đúng những chi tiết, những sự kiện và hoàn cảnh điển hình, thì
giá trò tổng kết của nó càng cao và phạm vi ứng dụng của nó càng rộng. Bởi vì
chi tiết và hoàn cảnh điển hình do tục ngữ miêu tả ở tầng nghóa cơ sở trong 13

các hiện tượng và qui luật tự nhiên có tính khái quát cao, phần lớn đều có thể
được dùng theo nghóa bóng để nói về những hiện tượng và qui luật xã hội, đến
đây tác giả cũng có những gợi ý về nghóa ngữ dụng của tục ngữ “[ ] Nói chung
tính chất ngụ ý không nằm trong dụng ý sáng tác ban đầu của tác giả dân gian,
mà nảy sinh về sau trong cách hiểu của người sử dụng”, “Nội dung ý nghóa của
mỗi câu tục ngữ không chỉ lệ thuộc vào cách hiểu của những người sáng tác ban
đầu, mà còn lệ thuộc rất nhiều vào quan niệm và cách dùng của những người sử
dụng về sau”, nhưng ông cũng chú thích thêm rằng “hiện tượng này chỉ có thể
diễn ra đối với những câu có tiềm ẩn khả năng mở rộng nghóa”. “Tiềm ẩn khả
năng mở rộng nghóa” mà ông nói ở đây chính là nói đến nghóa khái quát (nghóa
bóng) của tục ngữ, có thể được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh cụ thể khác nhau.
Chia sẻ với quan điểm của Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhò

[86, tr.243] đưa ra ý
kiến của mình: “Nghóa bóng đã tạo cho tục ngữ khả năng vận dụng năng động
vào các trường hợp, và cứ mỗi lần được sử dụng ở những văn cảnh khác nhau thì
nội dung, ý nghóa, kinh nghiệm, những lớp nghóa nằm bên trong và bên ngoài từ
ngữ của nó lại giàu thêm ”. Cũng theo ông, một câu tục ngữ có thể ứng dụng
trong hàng ngàn trường hợp cụ thể khác nhau. Quá trình vận dụng tục ngữ là quá
trình tạo nghóa không ngừng.
Phan Thò Đào trong “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” [35, tr.117] khi
bàn về nghóa của tục ngữ cũng khẳng đònh “Mỗi câu tục ngữ có ít nhất là một
nghóa. Những câu có một nghóa thì hầu hết là nghóa đen [ ] Phần còn lại của tục 15
ngữ là những câu đa nghóa [ ] trong quá trình giao tiếp, nghóa được sử dụng của
chúng là nghóa bóng [ ] nghóa đen chỉ là nền để nẩy sinh nghóa bóng, để hiểu
nghóa bóng mà thôi”, tác giả cũng nhấn mạnh ý nghóa khái quát của tục ngữ.
Đương nhiên tục ngữ không chỉ mang ý nghóa khái quát khô khan, sở dó tục ngữ

khác nhau. Cái thực cụ thể ban đầu đã uyển chuyển đi tới những cái thực tương
đồng khác. Hoàng Tiến Tựu [104, tr.133] cũng đã chỉ ra: Hầu hết những câu tục
ngữ nhiều nghóa đều có phần “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời). Mà cái phần “ý ở
ngoài lời” lại là phần chính thức của những câu tục ngữ ấy. “Ý nghóa mở phù
hợp với hoàn cảnh” của Bùi Mạnh Nhò, hoặc “ý ở ngoài lời” của Hoàng Tiến
Tựu xét cho cùng cũng chính là nghóa ngữ dụng mà Nguyễn Xuân Đức đề cập. Ở
đây có thể hiểu rằng các nhà nghiên cứu đã tiếp cận tục ngữ từ các góc độ, các
bình diện khác nhau.
Nguyễn Văn Nở với luận án tiến só Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam [88] đã
tiếp cận nghóa tục ngữ từ góc độ nghóa biểu trưng. Tác giả đi sâu nghiên cứu về
nghóa và các biện pháp tạo nghóa biểu trưng thường dùng trong tục ngữ qua các
chất liệu dùng làm tín hiệu biểu trưng trong tục ngữ Việt. Với hướng nghiên cứu
này, tác giả đã tiến hành khảo sát một cách có hệ thống những loại hình ảnh
thường được dùng làm tín hiệu biểu trưng trong tục ngữ.
Đóng góp mang ý nghóa thực tiễn của luận án tập trung ở phần khảo sát biểu
trưng trong tục ngữ qua môi trường vận dụng, qua đó còn thấy được sự mở rộng
nghóa, những nét nghóa biểu trưng khác nhau của tục ngữ trong từng trường hợp 17
vận dụng cụ thể và cụ thể hoá được biểu trưng của tục ngữ trong những tình
huống giao tiếp nhất đònh.
Riêng về lónh vực so sánh, đối chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ Hán thì các công
trình nghiên cứu vẫn còn khá khiêm tốn. Việc đối chiếu giữa tục ngữ Hán và tục
ngữ Việt có thể thấy được chủ yếu tập trung ở phần giới thiệu trong một vài cuốn
từ điển tục ngữ Hán - Việt như “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hoa - Việt” của Lê
Khánh Trường, Lê Việt Anh [103]; “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hán - Việt” của
Nguyễn Bích Hằng, Trần Thanh Liêm [52]. Về cơ bản, nội dung các công trình
này chủ yếu là dòch nghóa các câu tục ngữ, thành ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt,
chưa chuyên sâu nghiên cứu cấu trúc cú pháp cũng như đặc điểm ngữ nghóa của

Với đối tượng và nhiệm vụ được xác đònh như trên, luận án chủ yếu sử dụng
các phương pháp sau:
4.1.1. Phương pháp thống kê
Thông qua phương pháp thống kê, luận án khảo sát nguồn dữ liệu tục ngữ
Hán và tục ngữ Việt để tìm hiểu cấu trúc khái quát và ý nghóa biểu trưng đặc thù
của tục ngữ từng dân tộc; thống kê các dạng thức, mô hình cấu trúc cũng như các
nhóm nghóa của tục ngữ hai nước. Phương pháp này nhằm nâng cao tính khách
quan trong việc miêu tả để đưa ra những kết luận mang tính khoa học đáng tin cậy. 19
Luận án có đưa ra một số bảng, biểu thống kê số lượng, tỉ lệ về cấu trúc
cũng như các loại hình ảnh biểu trưng khi đối chiếu cấu trúc – ngữ nghóa tục ngữ
Hán và tục ngữ Việt.
4.1.2. Phương pháp miêu tả - phân tích
Từ nguồn dữ liệu thu thập được, luận án tiến hành miêu tả - phân tích các
loại cấu trúc cú pháp cũng như nghóa biểu trưng, hình ảnh biểu trưng, từ đó rút ra
được những nét tương đồng, dò biệt về cấu trúc cú pháp, ngữ nghóa của tục ngữ
hai dân tộc.
4.1.3. Phương pháp qui nạp
Trên cơ sở thống kê, phân tích ngữ liệu, luận án hướng tới việc khái quát,
tổng hợp các loại hình cấu trúc cú pháp, ngữ nghóa của tục ngữ, đồng thời tập
hợp lại những loại câu có cùng cấu trúc, cùng hình ảnh biểu trưng, cùng nội dung
ngữ nghóa; hoặc cùng nội dung ngữ nghóa nhưng hình ảnh biểu trưng khác nhau;
hoặc cùng hình ảnh biểu trưng nhưng nội dung ngữ nghóa khác nhau.
4.1.4. Phương pháp đối chiếu
Đối chiếu là phần trọng tâm của luận án. Sử dụng phương pháp đối chiếu,
luận án nhằm rút ra những nét tương đồng, dò biệt về cấu trúc cũng như ngữ nghóa
giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt. Khi tiến hành đối chiếu, chúng tôi lấy cấu trúc,
ngữ nghóa tục ngữ tiếng Hán hiện đại làm cơ sở để từ đó so sánh với cấu trúc, ngữ
21
của tục ngữ Hán và tục ngữ Việt.
Luận án chọn khảo sát, thống kê một số hình ảnh thường được dùng làm chất
liệu biểu trưng trong tục ngữ về bốn phương diện: động vật (thú), thực vật, món
ăn, đồ dùng. Qua đó có thể thấy được bức tranh đậm nét bản sắc văn hóa của
mỗi dân tộc ẩn chứa trong tục ngữ.
Từ phương diện ý nghóa biểu trưng, thông qua các ví dụ cụ thể, luận án đã so
sánh ngữ nghóa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt. Cách làm này có thể cho ta dễ
dàng nhận biết được nét tương đồng và dò biệt về ngữ nghóa giữa tục ngữ hai dân
tộc Việt, Hán, cũng không khó khăn để nhận biết được những tục ngữ Việt và
Hán đồng nghóa với nhau mặc dù hình ảnh biểu trưng của chúng khác nhau.
Qua khảo cứu, luận án thống kê được một số lượng không nhỏ (267 câu) tục
ngữ âm Hán – Việt, đồng thời đưa ra những phân tích cụ thể để chứng minh
người Việt đã từng dùng âm Hán – Việt để sáng tạo tục ngữ.
5.2. Đóng góp thực tiễn
Luận án chỉ ra được những nét khác biệt và tương đồng về cấu trúc và ngữ
nghóa giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt. Điều này sẽ đóng góp thiết thực và có ý
nghóa nhất đònh cho việc học tập cũng như giảng dạy ngôn ngữ hai dân tộc. Hy
vọng luận án là tài liệu đáng tin cậy cho những người quan tâm, hoặc có thể là
cơ sở cho những bước nghiên cứu tiếp theo. Phần phụ lục của luận án cũng có
thể coi là nguồn ngữ liệu tham khảo có ích cho những nghiên cứu chuyên sâu về
tục ngữ sau này.
6. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Với đề tài “Đối chiếu cấu trúc – ngữ nghóa tục ngữ tiếng Hán hiện đại và 22
tiếng Việt”, căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đặt ra, luận án được sắp xếp thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status