1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NCS NGUYỄN THỊ THANH TÂM
ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC NGỮ PHÁP
CỦA CÚ BỊ BAO TRONG TIẾNG VIỆT
VÀ TIẾNG ANH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62220110
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015
2
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – TP HỒ CHÍ MINH
CB hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
Tiến sĩ NGUYỄN THỊ KIỀU THU
Phản biện 1: _______________________
Phản biện 2: _______________________
Phản biện 3: _______________________
Luận án sẽ được bào vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại
____________________________________________________________________
những cách tốt nhất giúp cho việc dạy và học tiếng hiệu quả hơn, mang ý nghĩa thực tiễn và ý
nghĩa khoa học.
Tuy nhiên, trong chừng mực và giới hạn của luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu cú bị bao
(CBB), hay nói cách khác là cụm chủ - vị giữ chức năng chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, và
định ngữ trong câu.
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài luận án là “Đối chiếu cấu trúc ngữ pháp
của cú bị bao trong tiếng Việt và tiếng Anh”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cú pháp giữ vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học ngôn ngữ,
mà trong đó câu là thành phần cốt lõi. Do chịu ảnh hưởng của ngữ pháp truyền thống châu Âu,
suốt một thời gian dài, các nhà Việt ngữ học đ tập trung vào việc khảo sát từ loại mà ít chú ý
đến cú pháp. Nửa sau thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đ bắt đầu nhận ra đặc thù của tiếng Việt là
một ngôn ngữ đơn lập, không biến hình và trật tự từ trong câu giữ một vai tr rất quan trọng
trong việc chi phối nghĩa của câu Từ đó, việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đ chuyển trọng
tâm từ nghiên cứu từ loại sang nghiên cứu câu.
Các trường phái ngữ pháp truyền thống, tạo sinh, miêu tả hay chức năng đều nghiên cứu
câu và các thành phần của câu. Với những cấu trúc đa dạng và phức tạp, câu trong tiếng Việt
luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Các nghiên cứu về CBB uất
hiện vào khoảng thập niên 30 của thế kỉ XX với các tác giả như Trần Trọng Kim, B i Kỷ, Phan
Khôi Có thể nói nghiên cứu câu tiếng Việt lúc này chịu ảnh hưởng các khuôn mẫu của ngữ
pháp châu Âu và cấu trúc câu tiếng Pháp rất nhiều Về sau, do tiếp thu được nhiều thành tựu
4
nghiên cứu ngôn ngữ học ở các nước, nên các nhà Việt ngữ học dần dần thay đổi quan điểm
nghiên cứu Họ nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt theo cách tiếp cận ngữ pháp truyền thống,
phân tích câu dựa trên kết cấu chủ-vị và đặt biệt chú trọng đến các trường hợp kết cấu chủ-vị
làm n ng cốt câu (CBB) Tiếng Việt phong phú và là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình nên có
một số câu không thể phân tích theo kết cấu chủ-vị Do đó, một số nhà Việt ngữ học chọn cách
trong câu tiếng Việt và tiếng Anh.
- Khảo sát cách chuyển dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt để khát quát hóa cách thức
chuyển dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt.
- Góp phần khẳng định sự ảnh hưởng của đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt
(ngôn ngữ đơn lập, không biến hình) và tiếng Anh (ngôn ngữ biến hình) đến sự khác biệt trong
kết cấu cú pháp của câu có chứa CBB trong hai ngôn ngữ
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
4.1. Ý nghĩa khoa học
Chúng tôi thực hiện luận án với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, phân tích câu
- đơn vị cú pháp quan trọng nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào.
5
Luận án này là một bước nghiên cứu nối tiếp các nghiên cứu về câu nhưng theo hướng
chuyên sâu hơn về CBB, so sánh và đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của CBB
trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, bổ sung thêm tư liệu cho việc học tập, biên soạn sách ngữ
pháp, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Anh mà trong đó câu là đơn vị bậc cao nhất.
Luận án chỉ ra sự khác biệt về loại hình được thể hiện trong cấu trúc ngữ pháp của câu
chứa CBB trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Phần khảo sát dịch thuật CBB Việt – Anh và Anh – Việt trong các tác phẩm văn học có
thể đóng góp thêm cho lý thuyết dịch thuật hiện đang được nhiều người quan tâm.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nhờ vào kết quả so sánh đối chiếu, người học tiếng thấy được những điểm tương đồng
và khác biệt trong cấu trúc câu có chứa CBB của tiếng Việt và tiếng Anh để có thể sử dụng CBB
một cách chính xác và hiệu quả khi giao tiếp.
Luận án được thực hiện nhằm giúp cho người học tiếng có được kiến thức vững chắc về
cấu trúc CBB mà người bản ngữ biết và sử dụng một cách tự nhiên, mặc định nhưng lại gây một
số khó khăn nhất định đối với người đang học ngôn ngữ này như một ngoại ngữ, và giúp họ
tránh được những lỗi sai khi sử dụng câu có từ hai kết cấu chủ-vị trở lên
Luận án góp phần mang lại những ứng dụng thực tiễn trong công tác giảng dạy, học tập,
6
-
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1998), Thành phần câu tiếng Việt,
Nhà uất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
-
Roderick A. Jacobs (1995), English Syntax – A grammar for English
Language Professionals, Oxford University Press.
Để khát quát hóa cách chuyển dịch cấu trúc cú pháp CBB và CBB làm thành phần câu
Việt-Anh và Anh-Việt, chúng tôi khảo sát và liệt kê các cách chuyển dịch trong các tác phẩm:
1/ Graham Greene (1980), The Quiet American, Penguin Books.
2/ Graham Greene (Vũ Quốc Uy dịch) (2007), Người Mỹ trầm lặng, Nhà xuất bản Lao
động.
3/ Stephenie Meyer (Tịnh Thủy dịch) (2006), Trăng non, Nhà xuất bản Trẻ.
4/ Stephenie Meyer (2006), New Moon, Little Brown Company.
5/ Nguyễn Thị Kiều Thu (2013). Đón nhận - Truyện ngắn đương đại Nam bộ (song
ngữ) Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
6/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2004), Tình yêu sau chiến tranh, Nhà xuất bản Hội
nhà văn
7/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2003), Love after War, Curbston Press.
Luận án đ tiến hành khảo sát câu tiếng Việt và tiếng Anh có chứa CBB trong 20 truyện
ngắn hay năm 2002 của báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật và 20 truyện ngắn hay 2002 của Mỹ (The best
American short stories 2002) trên tạp chí US and Canada Magazine. Mỗi truyện ngắn dài
khoảng từ 3 500 đến 4.000 từ để lấy nguồn ngữ liệu phân tích và miêu tả cấu trúc cú pháp và khả
năng hành chức của CBB.
Luận án không bàn về vấn đề các loại câu có chứa CBB, không phân biệt các loại câu và
Chúng ta có thể tạm chia các nghiên cứu về CBB như sau:
a/ Nhóm tác giả chỉ nghiên cứu CBB làm chủ ngữ, bổ ngữ, và định ngữ:
Khoảng từ thập niên 30 đến 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu hầu như chỉ chủ yếu
tập trung vào CBB làm chủ ngữ, làm bổ ngữ, hoặc định ngữ dựa trên quan điểm “cú bản vị”
hoặc “từ tổ” Họ không bàn về vấn đề CBB làm vị ngữ và trạng ngữ. Các tác giả tiêu biểu gồm:
Trần Trọng Kim [31], Phan Khôi [30], B i Đức Tịnh [46], Nguyễn Tài Cẩn [9], Trương Văn
Chình và Nguyễn Hiến Lê [10]
b/ Nhóm tác giả nghiên cứu CBB làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, và định ngữ
Từ thập niên 80 các nhà nghiên cứu Việt ngữ nghiên cứu CBB theo hai hướng tiếp cận:
ngữ pháp chức năng và ngữ pháp truyền thống.
Cao Xuân Hạo [19] là người đi đầu trong nghiên cứu và phân tích câu theo hướng tiếp
cận ngữ pháp chức năng ng đề cập đến CBB trong quyển Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (tập
1) : Câu trong tiếng Việt’
Các tác giả tiêu biểu nghiên cứu CBB làm chức năng chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ,
và định ngữ theo hướng tiếp cận ngữ pháp truyền thống Lưu Vân Lăng [32] phân tích câu theo
ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân’ Hoàng Trọng Phiến [38] gọi việc sử dụng CBB làm thành phần
câu là quá trình phức tạp hóa câu đơn’ và viết “quá trình phức tạp hóa câu đơn thường bao
gồm nhiều tầng, nhiều lớp.” [38, 186]. Diệp Quang Ban [6], xét CBB với phần có liên quan với
nó là quan hệ cú pháp – ngữ nghĩa bên trong một câu, chứ không phải quan hệ giữa hai câu.
Nguyễn Thiện Giáp [16] cho rằng câu đơn là câu chỉ gồm một kết cấu C-V câu phức là câu có 2
kết cấu C-V trở lên, trong đó chỉ 1 kết cấu C-V là nòng cốt còn những kết cấu C-V khác bị giáng
cấp, bị bao, làm bộ phận của kết cấu nòng cốt. Cùng nghiên cứu kết cấu chủ-vị như các nhà ngữ
học khác, tác giả Lê Xuân Thại [39] lập một hệ thống các kiểu cấu trúc chủ-vị tiếng Việt, trong
đó có một số cấu trúc có CBB làm chủ ngữ hoặc vị ngữ. Trong quyển Nghiên cứu ngữ pháp
tiếng Việt’ [40], Nguyễn Kim Thản cũng phân tích câu theo kết cấu chủ-vị và CBB làm thành
phần, ông cho rằng câu phức hợp có hai bộ phận trở lên, mỗi bộ phận đó vốn là một câu đơn
giản, nhưng nay tính độc lập của nó đ bị hạn chế hay mất đi và chỉ còn trở thành một vế của
câu, gọi là đoạn câu. So với các tác giả khác thì Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trình
bày cụ thể và chi tiết hơn về CBB làm thành phần câu trong quyển Thành phần câu tiếng Việt’
[44]. Các tác giả đ liệt kê trường hợp chủ ngữ là CBB khi vị ngữ là các vị từ biểu thị các hành
nghiên cứu Anh ngữ theo hướng tiếp cận ngữ pháp truyền thống có 3 quan điểm khác nhau:
a/ CBB có thể giữ chức năng trạng ngữ
Trong khi các nhà Anh ngữ khác cho rằng CBB chỉ có làm chủ ngữ, bổ ngữ, hay định
ngữ trong câu thì Jeffrey P. Kaplan [79] cho rằng các CBB có thể kết nối với các cú khác để tạo
thành câu phức và CBB có thể bổ nghĩa cho cụm chủ-vị, ngữ danh từ, ngữ tính từ, ngữ giới từ và
ngữ vị từ. Hai tác giả Ronald Carter và Michael Mc Carthy [92] cũng có quan điểm về CBB
giống như Jeffrey P. Kaplan. Họ cho rằng mệnh đề trạng ngữ (adverbial clauses) có liên từ cũng
là CBB.
b/ CBB theo cấu trúc WH-word-EVER + C + V là ‘No inal relati e clause’
Nominal relative clause’ là CBB làm định ngữ trong danh ngữ bắt đầu bằng các đại
từ ở dạng WH-word-EVER (ví dụ như: whoever, whatever, và whichever…)
Các tác giả theo quan điểm này gồm có Anne Seaton [63], Michael Swan [86], và
Collins Cobuild [67].
c/ CBB theo cấu trúc WH-word-EVER + C + V được xe như cú danh ngữ
(noun clause) làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ
Nhiều nhà nghiên cứu Anh ngữ theo hướng tiếp cận ngữ pháp truyền thống cho rằng
CBB có cấu trúc WH-word-EVER + C + V là cú danh ngữ và có thể giữ chức năng chủ ngữ
hoặc bổ ngữ trong câu.
Các tác giả theo quan điểm này gồm có Howard Jackson [75], Lynn M. Berk [83],
Rodney Huddleston [91], Betty Schrampfer Azar [66], Martin Hewings [85], A.J. Thomson và
A.V. Martinet [57], Roderick A. Jacobs [95]
9
Cho d ý kiến của họ c n đôi chỗ khác nhau, nhưng đóng góp của họ trong quá trình
nghiên cứu cú pháp tiếng Việt và tiếng Anh là rất lớn
Nói tóm lại, cấu trúc câu và các thành phần trong câu là mối quan tâm của nhiều nhà
ngôn ngữ học Tuy nhiên, theo như tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có nghiên cứu nào so sánh
đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh trên phương diện cấu trúc cú pháp và khảo sát
việc dịch thuật. Các nghiên cứu ngữ pháp trước đây chỉ đề cập đến CBB một cách ngắn gọn,
liên từ đứng trước CBB Một câu có thể có nhiều CBB CBB có tính độc lập tương đối, có
những CBB có thể tách thành câu đơn độc lập, nhưng có những CBB không thể tách thành câu
đơn độc lập, t y theo nghĩa của câu
*** Phương thức hình thành của cú không bị bao là phương thức nối
(conjoining). Hai hay nhiều cú không bị bao kết hợp với nhau, nằm ngoài nhau, mỗi cú không bị
bao có tính độc lập tương đối và có thể tách thành câu riêng Các cú không bị bao thường được
ghép với nhau bằng liên từ.
10
b/ Phân biệt cú bị bao à danh ngữ
Vì tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên việc phân biệt CBB và danh ngữ
rất phức tạp và cần thiết để tránh nhầm lẫn giữa CBB và danh ngữ có định ngữ là một vị từ
Danh ngữ
CBB
C (Danh từ) – V (Vị từ)
- Chủ ngữ là danh từ ác định hoặc danh
từ riêng
(Dt trung tâm – Định ngữ là ị từ)
- Danh từ trung tâm là danh từ không xác
định
- Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ là mối - Quan hệ giữa danh từ trung tâm và quan hệ
quan hệ qua lại, quy định lẫn nhau, để ác ác định Vị từ làm định ngữ mang tính
định chủ ngữ phải dựa trên vị ngữ và chủ thuyết minh, giúp chúng ta hạn định khái
ngữ quy định loại vị ngữ nào Vị ngữ tác niệm của danh từ trung tâm
động đến toàn câu và có ảnh hưởng đến
các thành phần khác trong câu
những thành phần câu mà các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm bất đồng
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ Bổ ngữ à thành phần cú pháp ổ nghĩa cho vị từ ”[18, 91]
V Panfilov định nghĩa “Bổ ngữ à thành phần trong chu cảnh tối ưu của động từ, không có
quan hệ vị ngữ với hạt nhân ” [56,371]
Về cấu tạo, bổ ngữ có thể là một từ, một ngữ, hay một CBB CBB có thể làm bổ ngữ
trực tiếp hoặc bổ ngữ gián tiếp.
11
1.2.6. Cú bị bao là
định ngữ
CBB có thể làm định ngữ của câu, định ngữ của danh từ hoặc danh ngữ.
CBB làm định ngữ trong danh ngữ tiếng Việt có thể bắt đầu bằng những kết từ như mà,
do, về, của Tuy nhiên, những từ này có thể được tỉnh lược t y theo nghĩa của câu Kết từ mà và
do được d ng để nhấn mạnh CBB và có thể tỉnh lược mà không làm thay đổi nghĩa của câu Có
một số trường hợp ta có thể d ng của, mà hay do đều được CBB làm định ngữ câu thường bắt
đầu với các phụ từ như: với, cứ, cứ như, theo, theo như
và được đánh dấu bằng từ thì.
1.2.7. Cú bị bao là trạng ngữ
Trạng ngữ có thể là một từ, một ngữ, hay một CBB. Khi trạng ngữ là một CBB thì chủ
ngữ của câu và chủ ngữ của CBB làm trạng ngữ có quan hệ chỉnh thể - bộ phận, diễn đạt một sự
việc, và giữa kết cấu chủ-vị nòng cốt và CBB làm trạng ngữ không nối bằng một liên từ mà cách
nhau bằng dấu phẩy.
1.3. Cú bị bao trong câu tiếng Anh
1.3.1. Định nghĩa à thuật ngữ
Trong tiếng Anh, cụm chủ-vị được bao chứa trong câu có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ, hay
định ngữ, đó là những CBB
Các nhà Anh ngữ học hầu như thống nhất với nhau trong quan điểm về CBB, và c ng
12
của vị từ có thể bị vị từ tác động một cách trực tiếp hay gián tiếp Nếu nó bị vị từ tác động trực
tiếp thì được gọi là bổ ngữ trực tiếp Nếu nó bị vị từ tác động gián tiếp thì được gọi là bổ ngữ
gián tiếp [70, 253]
CBB làm bổ ngữ trong câu tiếng Anh có thể bị bao như một thành tố của các tính từ hay
vị từ [95, 78]
CBB làm bổ ngữ có vị từ biến ngôi trong tiếng Anh được bắt đầu bằng Tác tử phụ ngữ
hóa (That, If, Whether), hoặc WH-introducers (What/Whatever, Which/Whichever,
Who/Whoever, Where/Wherever, When/Whenever, Why, How)
1.3.5. Cú bị bao là định ngữ
Trong tiếng Anh, CBB làm định ngữ cho danh ngữ được gọi là Relative Clause hay
Adjective Clause. Trong một số sách ngữ pháp tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt, các dịch giả
thường dùng thuật ngữ mệnh đề quan hệ’ hay mệnh đề tính ngữ’
Trong tiếng Anh có hai loại CBB làm định ngữ: CBB định ngữ hạn định (restrictive
relative clause) và CBB làm định ngữ không hạn định (non-restrictive relative clause). Theo
Jacobs, CBB định ngữ hạn định là CBB được d ng để ác định danh ngữ sở chỉ bằng cách cung
cấp thêm thông tin để thu hẹp sở chỉ và CBB định ngữ không hạn định là CBB cung cấp thông
tin phụ về một danh ngữ sở chỉ đ được ác định rồi vì vậy thông tin mới không cần thiết cho
việc ác định sở chỉ. [95, 304].
CBB làm định ngữ trong tiếng Anh bắt đầu bằng đại từ quan hệ hoặc trạng từ quan hệ:
Đại từ quan hệ: Who, Whom, Which, That, Whose
Trạng từ quan hệ: When, Where, Why
***Trong tiếng Anh, danh từ trung tâm của danh ngữ có chứa CBB làm định ngữ quyết định
đại từ quan hệ và trạng từ quan hệ nào được sử dụng
Trong khi các nhà Việt ngữ c n có nhiều ý kiến khác nhau về câu có chứa CBB thì các nhà
nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh lại thống nhất trong cách gọi của họ, câu có chứa CBB được gọi
là Câu phức (Complex sentence).
Các cấu trúc câu
a/ (CBB) – V (Vt LÀ – B)
b/ C (CBB) - V (Vt gây khiến - B)
c/ C (CBB) - V (Vt chuyển động)
d/ C (CBB) - V (Vt chuyển tác – B)
e/ C (CBB) - V (Vt xuất hiện / tiêu biến)
f/ C (CBB) - V (tính từ / tính ngữ)
Vị ngữ
C – V (CBB)
Bổ ngữ
a/ C – V [Vt LÀ – B(CBB)]
b/ C – V [Vt tình thái – B(CBB)]
c/ C – V [Vt nói năng – B(CBB)]
d/ C – V [Vị từ Tri giác / nhận thức – B(CBB)]
e/ C – V [Vt khiển động – B (danh ngữ/CBB) – B (CBB)]
f/ C – V [Vt chuyển tác – B (CBB)]
Định ngữ
a/ C [Dt/Dn trung tâm - Đ(CBB)] – V
b/ C – V [Vt- B [Dt/Dn trung tâm - Đ(CBB)] ]
c/ Đó / Đây – LÀ – Dt/Dn trung tâm - Đ(CBB)
d/ Đ(CBB) - C - V
Trạng ngữ
f/ C – V [Vị từ đơn chuyển – (giới từ) – B(CBB) trực tiếp].
g/ C – V [Vị từ song chuyển – B(CBB) gián tiếp –
B(CBB) trực tiếp].
h/ IT – Vị từ BE - Tính từ / Danh từ - B(CBB)
i/ IT – Vị từ gây cảm úc – B(CBB) gián tiếp –
B(CBB) trực tiếp
Định ngữ
a/ C [Dt/Dn trung tâm – Đ(CBB)] – V
b/ C – V - B [Dt/Dn trung tâm – Đ(CBB)]
c/ T [Dt/Dn trung tâm - Đ (CBB)] - C – V
hoặc C – V - T[Dt/Dn trung tâm - Đ (CBB)]
d/ It - Be – B[Dt/Dn trung tâm - Đ (CBB)]
e/ It – Be – B[(CBB) – Đ(CBB)]
f/ C-V, Đ(CBB)
2.3. Đối chiếu cấu trúc nội tại của CBB tiếng Việt à tiếng Anh
Jeffrey P Kaplan khẳng định CBB có cấu trúc giống như câu độc lập bình thường
(“Embedded clauses have the same form as ordinary non-embedded sentences”) [78, 267]
2.3.1. Sự tương đồng
2.3.1.1. Trong tiếng Việt và tiếng Anh, tất cả các CBB đều có kết cấu chủ-vị làm n ng
cốt của CBB và các cấu trúc của câu đơn độc lập
Bảng so sánh:
Cấu trúc nội tại CBB tiếng Việt (tV)
Cấu trúc nội tại CBB tiếng Anh (tA)
15
Những CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Anh diễn đạt ý trần thuật bắt buộc phải có
tác tử phụ ngữ hóa that đặt trước CBB Đây cũng là điểm khác biệt cần nhấn mạnh cho những
người học tiếng
Không thể viết:
* Professor Pike is attending the conference is an honour.
mà phải viết:
- That Professor Pike / is attending the conference // is an honour.
thì mới đúng cấu trúc cú pháp Trong khi đó CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Việt không cần
có tác tử phụ ngữ hóa
- Bụi cát / cứ xoáy theo từng cơn gió mạnh // àm người tôi thấm đẫm mồ hôi.
(11, 7)
2.3.2.2. Trong trường hợp CBB làm chủ ngữ hay bổ ngữ diễn đạt nội dung câu hỏi và có
chứa từ nghi vấn, tất cả các từ nghi vấn WH- question words trong tiếng Anh đều được đặt trước
CBB
Trong tiếng Việt các từ nghi vấn có thể đặt đầu hoặc cuối CBB ở dạng câu nghi vấn gián
tiếp
2.4. Đối chiếu CBB là
2.4.1. CBB là
thành phần trong câu tiếng Việt à tiếng Anh
chủ ngữ
2.4.1.1. Sự tương đồng
CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Việt và tiếng Anh có một số cấu trúc cú pháp câu
giống nhau hoàn toàn
16
a/ Cấu trúc C(CBB) - V[Vt LÀ - B(danh ngữ)] tiếng Việt và cấu trúc C(CBB) –
Tác tử phụ ngữ hóa That và Tiểu tố dụng pháp IT chỉ có trong câu tiếng Anh Tiếng Việt
không có dạng từ loại này Đây cũng là điểm khác nhau về loại hình ngôn ngữ Tiếng Việt là
ngôn ngữ đơn lập nên hình thái từ, đặc biệt là vị từ, không biến đổi khi được sử dụng trong câu
Mối quan hệ giữa các từ trong câu không chỉ ra chức năng cú pháp của từ Quan hệ ngữ pháp và
ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị bằng trât tự từ và hư từ Trong khi đó tiếng Anh là ngôn ngữ
chuyển dạng, thuộc các ngôn ngữ không đơn lập Những đặc điểm cú pháp không bao giờ biểu
hiện độc lập mà luôn có mối liên hệ chặt chẽ với những đặc điểm về từ pháp ự thay đổi của từ
pháp ảnh hưởng đến cấu trúc cú pháp Biến đổi của động từ theo chủ ngữ là bắt buộc Trong câu
không thể có hai động từ c ng được chia theo thì, thể, cách, ngôi, và số của chủ ngữ nên phải
đặt thêm Tác tử phụ ngữ hóa That trước CBB làm chủ ngữ và Tiểu tố dụng pháp IT được d ng
như một chủ ngữ phụ thêm vào (E traposition) Đây cũng là tính thiên chủ ngữ của tiếng Anh
2.4.2. CBB là
ị ngữ
Do tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên trong câu tiếng Việt, vị ngữ có thể là một
từ, một cụm từ, hay một CBB Vị ngữ thường bao gồm vị từ và bổ ngữ, bổ ngữ loại nào là do vị
từ quy định Vị ngữ là vị từ nội động, không cần có bổ ngữ Vị ngữ có vị từ ngoại động, cần phải
có một hoặc hai bổ ngữ Vị ngữ c n có thể là danh từ hay tính từ Vị ngữ là trung tâm của tổ
chức câu
17
Xét câu ‘Anh ấy // tay / làm, hàm / nhai ’ CBB tay / làm’ và ‘hàm / nhai’ làm vị ngữ
của câu, ngoài ra tay / làm, hàm / nhai’ c n là thành ngữ
Trong khi đó, tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, nên trong câu tiếng Anh, vị ngữ
(predicate) luôn bắt đầu bằng một vị từ được chia theo thì và thể của câu, chia theo ngôi và số
của chủ ngữ Chỉ trừ những câu cảm thán hay hô ngữ đặc biệt, các câu tiếng Anh đều phải có vị
ngữ bắt đầu bằng một vị từ được chia Hay nói cách khác, trong câu tiếng Anh vị ngữ không thể
là một CBB
- Peter convinced them (that) they should not start a business.
Nhưng khi biến đổi câu CBB làm bổ ngữ được chuyển đổi thành CBB làm chủ
ngữ thì tác tử phụ ngữ hóa that không thể tỉnh lược mà bắt buộc phải được đặt trước CBB
- IT was clear (that ) he / had made a mistake.
→ That he / had made a mistake // was clear. (18, 113)
18
*** Trong khi đó, trong tiếng Việt, khi biến đổi câu, CBB làm bổ ngữ của câu (1)
được chuyển thành CBB làm chủ ngữ trong câu (2) CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Việt
không cần có tác tử phụ ngữ hóa
c/ Tiểu tố dụng pháp (Filler) IT
Trong câu đẳng thức, CBB làm chủ ngữ của vị từ LÀ trong tiếng Việt và vị từ BE
trong tiếng Anh có thể hoán đổi vị trí với bổ ngữ mà không làm thay đổi nghĩa, nhưng thay đổi
cấu trúc cú pháp của câu CBB làm chủ ngữ của câu (1) đổi thành bổ ngữ của câu (2) và bổ ngữ
của câu (1) đổi thành chủ ngữ của câu (2)
***Điểm khác nhau là trong câu tiếng Anh cần phải có tiểu tố dụng pháp IT
2.4.4. So sánh à đối chiếu CBB là
định ngữ
2.4.4.1. Sự tương đồng
a/ CBB làm định ngữ luôn được đặt sau danh từ trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt
và tiếng Anh và có c ng chức năng là bổ nghĩa cho danh từ trung tâm
b/ Trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, danh ngữ có chứa CBB làm định ngữ có thể
giữ chức năng chủ ngữ hoặc bổ ngữ theo cấu trúc C [Dt trung tâm - Đ(CBB)] – V và C - V - B
[Dt trung tâm - Đ(CBB)].
c/ Cấu trúc CBB làm định ngữ trong danh ngữ tiếng Việt và tiếng Anh giống nhau
khi kết từ mà, do, cuả (tiếng Việt) và đại từ quan hệ (tiếng Anh) được tỉnh lược.
d/ Danh ngữ có chứa CBB làm định ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh đều có cấu
cốt câu bằng dấu phẩy, và có thể đặt trước, đặt sau, hoặc giữa nòng cốt câu tùy theo cách diễn
đạt.
Trong khi đó, cú trạng ngữ trong câu tiếng Anh luôn bắt đầu bằng một liên từ
(conjunction), và có thể lược bỏ mà không làm ảnh hưởng đến cấu trúc câu CBB không bắt đầu
bằng một liên từ, do đó CBB chỉ có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ, hay định ngữ Nếu lược bỏ CBB
thì câu bao chứa nó không c n đúng cấu trúc ngữ pháp Hay nói cách khác CBB không thể làm
trạng ngữ trong câu tiếng Anh
Trong câu tiếng Anh cũng có cấu trúc dạng câu giống như CBB làm trạng ngữ trong câu
tiếng Việt, nhưng không phải là CBB làm trạng ngữ mà chỉ là một ngữ (phrase), vị từ không
được chia theo thì, thể của câu và ngôi, số của chủ ngữ mà được viết ở dạng hiện tại phân từ
(present participle) khi diễn đạt ý chủ động (active voice) và viết ở dạng quá khứ phân từ (past
participle) khi diễn đạt ý bị động (passive), chủ ngữ của câu và danh từ chính của ngữ cũng có
quan hệ chỉnh thể - bộ phận
2.5. Tiểu kết
CBB làm chủ ngữ có thường đi với vị ngữ có vị từ LÀ, vị từ gây khiến, chuyển động,
chuyển tác, uất hiện, tiêu biến, tính từ / tính ngữ, hay danh từ / danh ngữ
Câu có CBB làm vị ngữ thuộc kiểu câu chứa quan hệ chỉnh thể - bộ phận, chủ ngữ chỉ
chỉnh thể CBB làm vị ngữ cũng có thể là một thành ngữ
CBB có thể làm bổ ngữ trực tiếp và bổ ngữ gián tiếp trong câu t y theo vị từ của n ng
cốt câu
CBB định ngữ cho danh từ hoặc danh ngữ không thuộc bậc câu, nên không được em là
một thành phần câu
Khi trạng ngữ là CBB thì chủ ngữ của câu và chủ ngữ của CBB làm trạng ngữ có quan
hệ chỉnh thể - bộ phận, diễn đạt một sự việc, và không có liên từ
CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Anh bắt đầu bằng tác tử phụ ngữ hóa hoặc WHintroducers. Vị từ chính trong câu có CBB làm chủ ngữ phải chia theo số ít CBB thường làm
chủ ngữ của các vị từ: BE, vị từ chuyển tác, vị từ không chuyển tác, vị từ liên kết
CBB làm bổ ngữ trong câu tiếng Anh cũng bắt đầu bằng tác tử phụ ngữ hóa hoặc WHintroducers. Vị từ chính của câu quy định CBB có thể làm bổ ngữ trực tiếp hay bổ ngữ gián tiếp.
CBB làm bổ ngữ cũng có thể bị bao như một thành tố của các tính từ CBB có thể làm bổ ngữ
của vị từ BE, vị từ nói năng, vị từ tri giác hay nhận thức, vị từ đơn chuyển, vị từ song chuyển vị
từ phức đoạn, vị từ gây cảm úc Các cấu trúc với đại từ IT làm chủ ngữ rỗng hoặc bổ ngữ rỗng
1/ C(CBB)
2/ C1 – V1 + C2 – V2
3/ C-V chính
4/ Danh ngữ
- Dt/Dn trung tâm - Đ(CBB)
- Dt/Dn trung tâm – ngữ giới từ
-Dt/Dn trung tâm – ngữ hiện tại phân từ
- Dt/Dn trung tâm – ngữ quá khứ phân từ
- Danh ngữ: Tính từ - Dt/Dn trung tâm
5/ Đại từ IT
tA1
tV2
1/ C-V (Vt – B)
2/ C(CBB)
3/ danh ngữ - Đ(CBB)
C(CBB)
2. CBB làm vị ngữ
tV1
C – V(CBB)
tA2
C – V (ngữ vị từ)
C – V; C-V (Hoặc C – V. C – V)
C(ở dạng sở hữu cách) – V
3 CBB làm bổ ngữ
tV1
tV1
1/ Đ(CBB)
2/ Đ(CBB)
3/ Đ(CBB)
4/ Danh ngữ có Đ(CBB)
5/ Danh ngữ có Đ(CBB)
tA2
1/ Đ(CBB)
2/ Danh ngữ
3/ Ngữ giới từ
4/ CBB
5/ Danh ngữ có sở hữu cách
tA1
1/ Danh ngữ [Dt trung tâm - Đ(CBB)]
2/ Danh ngữ [Dt trung tâm - Đ(CBB)]
3/ It – BE – danh ngữ/trạng ngữ- Đ(CBB)
4/ Định ngữ câu
tV2
1/ Danh ngữ [Dt trung tâm - Đ(CBB)]
2/ CBB
3/ C – V
4/ Đó là điều - CBB
5 CBB làm trạng ngữ
tV1
T(CBB)
Quá trình phân tích cho thấy cấu trúc nội tại của CBB tiếng Việt và CBB tiếng Anh có
những điểm tương đồng nhất định Những điểm khác biệt là do hai ngôn ngữ khác nhau về loại
hình, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập không biến hình và tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình nên
CBB có chứa những từ chức năng mà CBB tiếng Việt không có Tác tử phụ ngữ hóa That trong
CBB làm chủ ngữ và bổ ngữ, tiểu tố dụng pháp It khi biến đổi cấu trúc câu có chứa CBB, đại từ
quan hệ và trạng từ quan hệ trong CBB làm định ngữ là những điểm khác biệt cơ bản và quan
trọng trong CBB của hai ngôn ngữ
CBB trong câu tiếng Việt có thể giữ chức năng chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ, và
trạng ngữ trong câu Trong khi đó, CBB trong câu tiếng Anh chỉ có thể giữ chức năng chủ ngữ,
bổ ngữ, và định ngữ Điều này cũng là do sự khác nhau về loại hình
CBB tiếng Việt thường được chuyển thành danh ngữ để giúp cho cách diễn đạt câu
phong phú và đa dạng hơn
CBB tiếng Anh có thể thay đổi chức năng trong câu t y theo cấu trúc câu
Trong luận án chúng tôi đ liệt kê các cấu trúc câu có chứa CBB trong tiếng Việt và tiếng
Anh, qua đó cho thấy rằng CBB có thể giữ chức năng chủ ngữ hay bổ ngữ trong câu là do vị từ
của câu quy định Đồng thời, chúng tôi đưa ra các cách chuyển dịch CBB tương ứng từ tiếng
Việt sang tiếng Anh và từ tiếng Anh sang tiếng Việt, khái quát hóa các cấu trúc nên có thể giúp
ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực dịch thuật, và ứng dụng vào thực tiễn dạy và học tiếng
Khi chuyển dịch CBB từ tiếng Việt sang tiếng Anh, vị từ trong câu tiếng Anh là yếu tố quyết
định cách chuyển dịch và cách thay đổi cấu trúc, quy định việc câu có chứa CBB hay không
Luận án là sự kế thừa và tiếp bước các nghiên cứu cấu trúc ngữ pháp và CBB của các
nhà Việt ngữ học và Anh ngữ học nhưng mở rộng hơn ở lĩnh vực so sánh đối chiếu và dịch
thuật
Luận án có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu cung cấp kiến thức về CBB trong câu
tiếng Việt và tiếng Anh, không chỉ cần thiết cho người Việt học tiếng Anh mà cả người bản ngữ
tiếng Anh học tiếng Việt Học tiếng Anh là ph hợp với u thế phát triển của hội và khoa học
kỹ thuật hiện nay, nên những công trình nghiên cứu cú pháp và so sánh đối chiếu tiếng Việt và
tiếng Anh giúp ích rất nhiều để việc học tiếng hiệu quả và ít tốn thời gian
Luận án một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của kết cấu chủ-vị trong phân tích câu,
cho d hiện nay có khuynh hướng phân tích câu theo ngữ pháp chức năng với đề thuyết làm