Đối chiếu cấu trúc ngữ nghĩa tục ngữ tiếng hán hiện đại và tiếng việt - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và dẫn chứng đưa ra trong luận án là hoàn toàn trung thực và
không sao chép từ bất kì một công trình nào.
Tác giả luận án


MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC........................................................................................................................i
DẪN NHẬP..................................................................................................................... 1
1. Đối tượng nghiên cứu và lí do chọn đề tài ............................................................ 1
2. Lòch sử vấn đề ...................................................................................................... 3
3. Nhiệm vụ luận án................................................................................................ 17
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu .................................................... 18
5. Những đóng góp của luận án .............................................................................. 20
6. Bố cục luận án .................................................................................................... 21
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Các quan niệm về tục ngữ ............................................................................... 24
1.2. Tục ngữ và một số khái niệm hữu quan........................................................... 30
1.2.1. Tục ngữ – thành ngữ ............................................................................... 30
1.2.2. Tục ngữ – ngạn ngữ ................................................................................ 38
1.2.3. Khái niệm “yết hậu ngữ”, “quán dụng ngữ” trong tiếng Hán................ 44
1.3. Một số đặc điểm của tục ngữ........................................................................... 55
1.3.1. Tính lòch sử.............................................................................................. 55
1.3.2. Tính dân tộc ............................................................................................ 56
1.3.3. Tính biến thể........................................................................................... 59
1.4. Tiểu kết ............................................................................................................ 61
Chương 2:
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CÚ PHÁP

3.2.4. Nhóm tục ngữ âm Hán Việt .................................................................. 175
3.3. Tiểu kết .......................................................................................................... 183
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 185
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 190
DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN.............200
PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Tục ngữ âm Hán Việt .............................................................................. 1
Phụ lục 2: Tục ngữ Hán và Việt - nghóa biểu trưng giống nhau, hình ảnh biểu
trưng giống nhau........................................................................................................... 10
Phụ lục 3: Tục ngữ Hán và Việt - nghóa biểu trưng giống nhau, hình ảnh biểu
trưng khác nhau ............................................................................................................ 20


DẪN NHẬP
1. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay việc nghiên cứu tục ngữ trong giới ngôn ngữ học của hai nước Việt
Nam và Trung Quốc rất được coi trọng. Số lượng học giả cũng như những thành
quả trong việc nghiên cứu tục ngữ ngày càng nhiều. Hệ quả của điều này là sự
xuất hiện rất đa dạng các chuyên khảo cũng như các từ điển về tục ngữ. Về các
từ điển tục ngữ Hán có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như “Hán ngữ tục
ngữ đại từ điển” do Ôn Đoan Chính chủ biên [132], “Tục ngữ từ điển” của Từ
Tông Tài, Ứng Tuấn Linh [142], v.v. Ở Việt Nam có “Tục ngữ, ca dao, dân ca
Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan [89], “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân
Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri [27], “Từ điển thành ngữ – tục ngữ Việt
Nam” của Nguyễn Lân [69], “Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam”
của Việt Chương [16], v.v.
So với sự xuất hiện rất đa dạng, phong phú các từ điển tục ngữ, những công
trình chuyên về nghiên cứu tục ngữ nói chung cũng như các công trình đối chiếu
tục ngữ Hán - Việt, Việt - Hán còn rất ít. Ngoài một số bài viết và luận án tiến só

là ngôn ngữ học. Tục ngữ không chỉ được tìm hiểu ở phương diện giá trò phản
ánh đời sống, nhận thức; ở những đúc kết kinh nghiệm về tự nhiên, về xã hội mà
còn được khai thác ở nhiều góc độ khác.
Đứng từ phương diện ngôn ngữ học, luận án này xác đònh đối tượng nghiên
cứu là phương diện ngôn ngữ của tục ngữ và những vấn đề liên quan mật thiết


3

với phương diện này. Những vấn đề cơ bản về tục ngữ như cấu trúc cú pháp, các
mô hình ngữ nghóa, nghóa biểu trưng trong tục ngữ được đặc biệt chú ý. Vì nhiều
lí do, luận án chỉ tập trung tìm hiểu những phương diện trên thể hiện trong tục
ngữ Hán và tục ngữ Việt.
Thông qua luận án này, chúng tôi mong muốn được góp một phần sức lực
của mình vào việc so sánh đối chiếu, tìm ra những nét tương đồng, dò biệt giữa
tục ngữ hai nước Việt – Trung. Chúng tôi hy vọng đây sẽ là một tài liệu tham
khảo tin cậây, có giá trò cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu tục ngữ Hán.
Những nội dung của luận án cũng sẽ góp phần nhất đònh vào việc gìn giữ sự
trong sáng của tiếng Việt.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Trung Quốc
Theo chuyên khảo nghiên cứu tục ngữ tiếng Hán ở thế kỉ XX [135], từ “tục
ngữ” xuất hiện sớm nhất trong “Sử kí” của Tư Mã Thiên. Nếu từ “tục ngữ” trong
“Sử kí” là từ thông thường, chỉ cách nói lưu truyền trong dân gian, thì từ “tục
ngữ” trong “Thuyết uyển” của Lưu Hướng đã mang tính thuật ngữ, chỉ những
ngữ cố đònh lưu truyền trong dân gian. Vào thời Tiên Tần và thời nhà Hán, tục
ngữ và ngạn ngữ thuộc về cùng một khái niệm, cho nên sau này còn có tên gọi
là “tục ngạn”. Nếu tính từ thế kỉ XVIII, có thể nói là việc sưu tầm và chú thích
tục ngữ ở Trung Quốc cũng khá rầm rộ và đạt được những kết quả nhất đònh.
Những đầu sách tiêu biểu là “Thông tục biên”, “Hằng ngôn lục”, “Cổâ dao

cú pháp tục ngữ cũng có các kiểu câu đơn, câu ghép và một số cấu trúc đặc thù.


5

Trong các tài liệu chúng tôi khảo sát không thấy có ý kiến khác biệt, không thấy
khuynh hướng nghiên cứu khác về cấu trúc cú pháp tục ngữ, các nhà nghiên cứu
hoặc không phân tích sâu, hoặc đều phân tích chúng theo cấu trúc cú pháp
truyền thống.
2.1.2. Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghóa
Các nhà Hán học nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững ngữ nghóa
tục ngữ vì nó liên quan trực tiếp đến việc lí giải và vận dụng tục ngữ một cách
chính xác. Ngoài ra họ còn đề cập cụ thể đến những vấn đề như: nghóa mặt chữ
và nghóa thực tế của tục ngữ; tính đơn nghóa và tính đa nghóa của tục ngữ; tục
ngữ đồng nghóa và tục ngữ phản nghóa.
Theo Ôn Đoan Chính [134], nghóa mặt chữ (字面意义 tự diện ý nghóa) của
tục ngữ là nghóa được suy ra trực tiếp từ những từ và quan hệ ngữ pháp bao hàm
trong tục ngữ. Nghóa thực tế (实际意义 thực tế ý nghóa)của tục ngữ chỉ nghóa
được sử dụng trong thực tế của tục ngữ. Sau khi phân tích mối quan hệ giữa
nghóa mặt chữ và nghóa thực tế, tác giả phân chúng thành ba nhóm sau:
(1) Nghóa mặt chữ và nghóa thực tế giống nhau, nghóa mặt chữ là nghóa đen.
(2) Nghóa mặt chữ và nghóa thực tế không giống nhau. Nghóa mặt chữ không
có tác dụng biểu ý, nghóa thực tế trong câu mới là nghóa được sử dụng.
(3) Có hai nghóa thực tế, một nghóa giống nghóa mặt chữ, còn một nghóa là
nghóa phái sinh.
Về tính đơn nghóa và đa nghóa của tục ngữ, tác giả Ôn cho rằng tục ngữ đơn
nghóa là một câu tục ngữ chỉ truyền thụ tri thức ở một lónh vực nào đó, những tri
thức đó được xác nhận và chỉ có một cách giải thích. Tục ngữ đa nghóa là tục ngữ
có từ hai ý nghóa trở lên. Trong tục ngữ không hiếm hiện tượng “nhất ngữ đa



chích cẩm” của Phạm Quang Sán (1918), “Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn
thư” của Nguyễn Văn Lễ (1931), v.v. Những sách này chủ yếu dừng lại ở mức
thu thập, biên soạn, cùng lắm là có thêm phần chú giải tục ngữ. Tuy nhiên,
những tư liệu thu thập tục ngữ đó rất có giá trò về phương diện bảo tồn phong tục
tập quán, nói rộng hơn là bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong lời tựa của “Nam âm sự loại”: “Nước
Nam ta phương ngôn tục ngữ cùng là lời ca, câu dở, câu hay cũng đều truyền cả.
Câu hay để cho người bắt chước, câu dở để cho người răn chừa, không mất tiền
mua, đáng trăm quan quý” [dẫn theo 74, tr. 509].
Năm 1975, miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất. Trang sử mới của
nước nhà tạo cơ hội tốt cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học tự nhiên
cũng như xã hội. Nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu tục ngữ và một
số công trình chuyên khảo về tục ngữ được ra đời. Những chuyên khảo này
không đơn thuần chỉ là sưu tầm và chú giải tục ngữ, mà còn tìm hiểu tục ngữ từ
nhiều khía cạnh, trong đó cấu trúc và ngữ nghóa của tục ngữ được các tác giả đi
sâu khai thác, nghiên cứu.
Chúng ta có thể kể đến những công trình nghiên cứu về tục ngữ như: “Tục
ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri [27];
“Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc & thi pháp” của Nguyễn Thái Hòa [59], “Tìm hiểu
thi pháp tục ngữ Việt Nam” của tác giả Phan Thò Đào [35] và hàng loạt các bài
nghiên cứu tục ngữ đăng trong các tạp chí: Ngôn ngữ, Văn hoá dân gian, Văn học
cùng một số luận án tiến só nghiên cứu về tục ngữ trong mấy năm gần đây.
Ở Việt Nam, có thể thấy cách tiếp cận nghiên cứu tục ngữ theo các khuynh
hướng sau:


8

2.2.1. Tiếp cận cấu trúc cú pháp tục ngữ theo quan điểm ngữ pháp chức năng

học, Nghóa học và Dụng học. Đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức,
mục đích và phương tiện.
Cách tiếp cận cấu trúc cú pháp tục ngữ Việt theo quan điểm ngữ pháp chức
năng có nhiều thuận lợi và cũng có những cơ sở thuyết phục (như các tác giả đã
chứng minh), nhất là đối với những kiểu chuỗi câu rút gọn thường xuất hiện trong
tục ngữ như: Chó treo mèo đậy; Nhất vợ, nhì trời; Bố gậy tre, mẹ gậy vông, v.v.
2.2.2. Tiếp cận cú pháp tục ngữ từ góc độ cấu trúc lôgích - ngữ nghóa
Đi theo hướng khảo sát, phân tích tục ngữ từ góc độ lôgích, Nguyễn Đức
Dân [25] gợi mở hướng nghiên cứu cấu trúc tục ngữ theo quan điểm lô gích –
ngữ nghóa. Tác giả đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho thấy rằng tục ngữ có
những cấu trúc đặc thù ít thấy ở câu thông thường. Bằng những cấu trúc lô gích ngữ nghóa khái quát, tác giả chứng minh rằng một số câu tục ngữ tuy dùng những
phương thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau nhưng lại có cấu trúc lô gích như nhau.
Giải mã nghóa tục ngữ theo kiểu này tương đối chặt chẽ và chuẩn xác.
Chúng ta có thể hiểu rằng cấu trúc lô gích là bất biến ngữ nghóa của hai hay
nhiều câu tục ngữ. Đặc trưng của mối quan hệ giữa các quan hệ và thuộc tính
của chúng đã tạo ra nghóa cơ bản của tục ngữ. Thực tế cho thấy một số câu tục
ngữ là những biến thể ngôn ngữ của một bất biến ngữ nghóa, bất biến ngữ nghóa
chính là nghóa khái quát hay nghóa biểu trưng của tục ngữ.
Gần đây, Nguyễn Q Thành trong luận án tiến só Cấu trúc cú pháp – ngữ
nghóa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân tộc khác [95]


10

tập trung nghiên cứu cấu trúc cú pháp tục ngữ xuất phát từ đặc điểm nội dung
khái quát nhất của tục ngữ để tìm hiểu các cấu trúc đặc thù một cách có hệ
thống. Từ việc phân tích nội dung, hình thức của từng câu tục ngữ Việt, tiếp thu
quan điểm của cấu trúc lôgích – ngữ nghóa, tác giả rút ra ba cặp mệnh đề ngữ
nghóa khái quát nhất phản ánh nhận thức chung của dân gian về thế giới. Đó là:
(1) Cái này thì có/ không có đặc điểm này; (2) Cái này thì tương đương/ không

những mô hình khái quát, tường tận đến cả những mô hình mang tính chất cá
biệt. Tục ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân, để thống
kê đầy đủ kho tàng tục ngữ dân tộc và qui nạp theo từng mô hình thứ, bậc là một
việc làm hết sức công phu và đòi hỏi nhiều thời gian mới có thể chu đáo được.
2.2.4. Tiếp cận nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghóa
Tục ngữ đặc biệt phong phú trong lónh vực đúc kết kinh nghiệm sống, kinh
nghiệm sản xuất. Nhiều câu tục ngữ có tính khái quát cao, mang đậm nét triết lí,
thậm chí có những câu tục ngữ còn được coi như chân lí, là kim chỉ nam soi rọi
và dẫn dắt con người trong lónh vực đối nhân xử thế. Chu Xuân Diên trong cuốn
“Tục ngữ Việt Nam” [27, tr.149] khẳng đònh: “Mỗi câu tục ngữ là nội dung của
một kinh nghiệm nhất đònh”. Song không phải trong bất cứ trường hợp nào, nội
dung kinh nghiệm của một câu tục ngữ cũng được hiểu một cách bất biến. Trong
quá trình vận dụng, những nội dung mà tục ngữ biểu đạt thường được mở rộng
“khiến cho ý nghóa của kinh nghiệm ấy có khả năng bao hàm được cả nhận thức
về bản chất và tính qui luật của nhiều hiện tượng trong thế giới khách quan” [27,
tr.142]. “Nội dung nhất đònh” mà tác giả đề cập đến có thể hiểu đó chính là


12

nghóa đen của tục ngữ, còn “kinh nghiệm có khả năng bao hàm được cả nhận
thức về bản chất và tính qui luật của nhiều hiện tượng trong thế giới khách
quan” có thể hiểu đó là nghóa bóng của tục ngữ. Tác giả kết luận: “Trong vốn
tục ngữ của người Việt, bên cạnh những câu có một nghóa – nghóa đen, còn có
rất nhiều câu có hai nghóa – nghóa đen và nghóa bóng” [27, tr.142].
Từ góc độ ngữ nghóa học, Hoàng Văn Hành [50, tr.59] nhận đònh rằng trong
mỗi câu tục ngữ không chỉ có cấu trúc ngữ pháp, mà còn có cấu trúc ngữ nghóa.
Cấu trúc này bao gồm cả những yếu tố thuộc về nội dung miêu tả hiện thực
(chức năng đònh danh) cũng như dụng ý thông báo (chức năng thông tin). Theo
tác giả, cấu trúc ngữ nghóa của tục ngữ giống với cấu trúc ngữ nghóa của mọi câu

mỗi câu tục ngữ bao giờ cũng bao hàm hai nghóa: nghóa đen và nghóa bóng. Cái
cụ thể riêng lẻ sẽ tạo thành nghóa đen, cái trừu tượng, phổ biến tạo thành nghóa
bóng” [102, tr.5].
Cùng quan điểm với Trần Mạnh Thường, Hoàng Tiến Tựu và Bùi Mạnh Nhò
nhấn mạnh đến tính đa nghóa của tục ngữ. Hoàng Tiến Tựu, trong “Văn học dân
gian Việt Nam” [104, tr.132], viết: “Có những câu tục ngữ chỉ có một nghóa, [...]
nhưng bộ phận tục ngữ đa nghóa chiếm tỉ lệ khá lớn, chất lượng khá cao và là bộ
phận tiêu biểu nhất của thể loại này”. Theo ông, có loại tục ngữ được dùng với
cả hai nghóa song song (nghóa đen – nghóa trực tiếp và nghóa bóng – nghóa gián
tiếp). Một số không nhiều câu tục ngữ có thể lúc đầu chỉ mang nghóa đen, nhưng
về sau lại chủ yếu được dùng với nghóa bóng. Ông cho rằng loại tục ngữ nói về
các hiện tượng và qui luật tự nhiên có tính khái quát cao, phần lớn đều có thể


14

được dùng theo nghóa bóng để nói về những hiện tượng và qui luật xã hội, đến
đây tác giả cũng có những gợi ý về nghóa ngữ dụng của tục ngữ “[...] Nói chung
tính chất ngụ ý không nằm trong dụng ý sáng tác ban đầu của tác giả dân gian,
mà nảy sinh về sau trong cách hiểu của người sử dụng”, “Nội dung ý nghóa của
mỗi câu tục ngữ không chỉ lệ thuộc vào cách hiểu của những người sáng tác ban
đầu, mà còn lệ thuộc rất nhiều vào quan niệm và cách dùng của những người sử
dụng về sau”, nhưng ông cũng chú thích thêm rằng “hiện tượng này chỉ có thể
diễn ra đối với những câu có tiềm ẩn khả năng mở rộng nghóa”. “Tiềm ẩn khả
năng mở rộng nghóa” mà ông nói ở đây chính là nói đến nghóa khái quát (nghóa
bóng) của tục ngữ, có thể được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh cụ thể khác nhau.
Chia sẻ với quan điểm của Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhò [86, tr.243] đưa ra ý
kiến của mình: “Nghóa bóng đã tạo cho tục ngữ khả năng vận dụng năng động
vào các trường hợp, và cứ mỗi lần được sử dụng ở những văn cảnh khác nhau thì
nội dung, ý nghóa, kinh nghiệm, những lớp nghóa nằm bên trong và bên ngoài từ

tạo nghóa không ngừng. Ông kết luận: “Không nên nói tục ngữ có nhiều nghóa,
lại càng không nên nói tục ngữ đa nghóa [...]. Tục ngữ trên văn bản có từ một
đến hai nghóa, nhưng xét trong môi trường ứng dụng, tức là trong môi trường lưu
truyền và tồn tại đích thực thì với mỗi lần phát ngôn chỉ có một nghóa (có thể là
nghóa đen hay nghóa bóng) – tức là nghóa đang được ứng dụng theo mục đích
phát ngôn”. Về việc tính một nghóa của tục ngữ gắn với từng hoàn cảnh phát
ngôn cụ thể như quan điểm của Nguyễn Xuân Đức không phải là không có lí.
Bùi Mạnh Nhò [86, tr.246] đã từng khẳng đònh nhiều hình ảnh trong tục ngữ là


16

những quan sát khoa học, nhưng những hình ảnh này còn mở ra ý nghóa về sự
tương xứng, phù hợp giữa hiện tượng với hoàn cảnh, môi trường và ý nghóa này sẽ
được người sử dụng tục ngữ dùng để nói về nhiều trường hợp trong các văn cảnh
khác nhau. Cái thực cụ thể ban đầu đã uyển chuyển đi tới những cái thực tương
đồng khác. Hoàng Tiến Tựu [104, tr.133] cũng đã chỉ ra: Hầu hết những câu tục
ngữ nhiều nghóa đều có phần “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời). Mà cái phần “ý ở
ngoài lời” lại là phần chính thức của những câu tục ngữ ấy. “Ý nghóa mở phù
hợp với hoàn cảnh” của Bùi Mạnh Nhò, hoặc “ý ở ngoài lời” của Hoàng Tiến
Tựu xét cho cùng cũng chính là nghóa ngữ dụng mà Nguyễn Xuân Đức đề cập. Ở
đây có thể hiểu rằng các nhà nghiên cứu đã tiếp cận tục ngữ từ các góc độ, các
bình diện khác nhau.
Nguyễn Văn Nở với luận án tiến só Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam [88] đã
tiếp cận nghóa tục ngữ từ góc độ nghóa biểu trưng. Tác giả đi sâu nghiên cứu về
nghóa và các biện pháp tạo nghóa biểu trưng thường dùng trong tục ngữ qua các
chất liệu dùng làm tín hiệu biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam. Với hướng
nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành khảo sát một cách có hệ thống những loại
hình ảnh thường được dùng làm tín hiệu biểu trưng trong tục ngữ.
Đóng góp mang ý nghóa thực tiễn của luận án tập trung ở phần khảo sát biểu

(i) Khảo sát cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt trên cơ
sở cấu trúc cú pháp của tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt, trong đó nhấn mạnh


18

đến một số cấu trúc cú pháp đặc thù của tục ngữ.
(ii) Đối chiếu cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt để tìm
những nét tương đồng dò biệt.
(iii) Khảo sát ngữ nghóa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ tiếng Việt trên cơ
sở nghóa biểu trưng của tục ngữ. Luận án đặt trọng tâm vào các kiểu nghóa biểu
trưng của tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt.
(iv) Đối chiếu ngữ nghóa giữa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt để tìm
những nét tương đồng, dò biệt thông qua nghóa biểu trưng; từ đó có thể thấy được
bức tranh văn hóa của hai dân tộc thể hiện qua tục ngữ.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Với đối tượng và nhiệm vụ được xác đònh như trên, luận án chủ yếu sử dụng
các phương pháp sau:
4.1.1. Phương pháp thống kê
Thông qua phương pháp thống kê, luận án khảo sát nguồn dữ liệu tục ngữ
Hán và tục ngữ Việt để tìm hiểu cấu trúc khái quát và ý nghóa biểu trưng đặc thù
của tục ngữ từng dân tộc; thống kê các dạng thức, mô hình cấu trúc cũng như các
nhóm nghóa của tục ngữ hai nước. Phương pháp này nhằm nâng cao tính khách
quan trong việc miêu tả để đưa ra những kết luận mang tính khoa học đáng tin
cậy.
Luận án có đưa ra một số bảng, biểu thống kê số lượng, tỉ lệ về cấu trúc
cũng như các loại hình ảnh biểu trưng khi đối chiếu cấu trúc – ngữ nghóa tục ngữ
Hán và tục ngữ Việt.


án chủ yếu dựa vào Từ điển tục ngữ (tiếng Hán) của Từ Tông Tài, Ứng Tuấn
Linh [142] với 10.300 câu tục ngữ Hán và Tổng tập văn học dân gian người Việt
(tập 1, 2: chuyên về tục ngữ) của tác giả Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) [68] với
10. 625 câu tục ngữ Việt.
Đây là hai công trình sưu tầm tục ngữ tiếng Hán và tục ngữ tiếng Việt xuất
bản trong thời gian gần đây nhất và chúng có số lượng khá lớn: trên mười nghìn
câu tục ngữ. Chúng tôi nghó, việc thống kê, phân tích trên số liệu như vậy sẽ có
những thuận lợi nhất đònh và kết quả đạt được sẽ có tính khách quan và độ tin
cậy cao hơn.
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
5.1. Đóng góp lý luận
Luận án đưa ra cái nhìn tổng quan về việc nghiên cứu tục ngữ và những vấn
đề hữu quan.
Khác với hướng tiếp cận của các công trình nghiên cứu về tục ngữ trước
đây – hoặc nghiên cứu cấu trúc cú pháp từ góc độ ngữ pháp chức năng/ đềthuyết (Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đức Dương, Hoàng Diệu Minh), hoặc từ góc độ
cấu trúc lôgích - ngữ nghóa (Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quý Thành), hoặc từ các
khuôn mẫu cấu trúc (Nguyễn Thái Hòa) – luận án này nghiên cứu cấu trúc cú
pháp tục ngữ từ quan điểm của ngữ pháp truyền thống (cấu trúc C – V). Ngoài ra
luận án cũng khảo sát một số cấu trúc đặc thù (cấu trúc điệp và đối, cấu trúc vần)
của tục ngữ Hán và tục ngữ Việt.
Luận án chọn khảo sát, thống kê một số hình ảnh thường được dùng làm chất
liệu biểu trưng trong tục ngữ về bốn phương diện: động vật (thú), thực vật, món


21

ăn, đồ dùng. Qua đó có thể thấy được bức tranh đậm nét bản sắc văn hóa của
mỗi dân tộc ẩn chứa trong tục ngữ.
Từ phương diện ý nghóa biểu trưng, thông qua các ví dụ cụ thể, luận án đã so
sánh ngữ nghóa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt. Cách làm này có thể cho ta dễ

khái niệm hữu quan của các nhà Hán học và Việt học. Ngoài ra còn nêu ra một
số đặc điểm của tục ngữ. Đó là tính lòch sử, tính dân tộc, tính biến thể.
Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục
ngữ Việt
Trước khi tiến hành so sánh cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán và tục ngữ Việt,
để có cái nhìn khái quát về cấu trúc cú pháp hai ngôn ngữ, luận án giới thiệu
một cách sơ lược cấu trúc cú pháp của tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt. Tiếp
theo, luận án lần lượt trình bày cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán và tục ngữ Việt rồi
mới tiến hành đối chiếu.
Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghóa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt
Chương này được triển khai theo hai phần. Phần một (3.1) giới thiệu các
kiểu loại ngữ nghóa tục ngữ. Luận án đi sâu phân tích nghóa biểu trưng của tục
ngữ, chỉ ra mối quan hệ giữa ngữ nghóa và hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ nói
chung, trong tục ngữ Hán, Việt nói riêng. Phần hai (3.2) đối chiếu ngữ nghóa tục
ngữ Hán và tục ngữ Việt trên cơ sở phân tích hình ảnh biểu trưng của tục ngữ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status