ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HOA
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC CỤM ĐỘNG TỪ TRONG
TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÂU Á HỌC
HÀ NỘI - 4/2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Ý nghĩa của luận văn 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
5. Bố cục của luận văn 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
1.1. Các quan hệ ngữ pháp trong ngôn ngữ 6
1.1.1. Khái niệm 6
1.1.2. Các kiểu quan hệ ngữ pháp trong ngôn ngữ 9
1.1.2.1. Quan hệ đẳng lập 9
1.1.2.2. Quan hệ chính – phụ 11
1.1.2.3. Quan hệ chủ - vị 14
1.2. Khái niệm đoản ngữ 15
1.3. Khái niệm cụm động từ trong tiếng Hàn và tiếng Việt 19
1.3.1. Cụm động từ trong tiếng Hàn 21
1.3.2. Cụm động từ trong tiếng Việt 23
1.4. Nghiên cứu đối chiếu trong ngôn ngữ và nghiên cứu đối chiếu tiếng
Hàn – tiếng Việt 24
1.4.1. Nghiên cứu đối chiếu trong ngôn ngữ 24
1.4.2. Nghiên cứu đối chiếu tiếng Hàn và tiếng Việt 26
CHƢƠNG 2: CẤU TẠO CỤM ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG HÀN
VÀ TIẾNG VIỆT 30
2.1. Cụm động từ tiếng Hàn 30
2.1.1. Trật tự chung và việc xác định trung tâm, thành tố phụ trong cụm
động từ tiếng Hàn 32
2.1.2. Trung tâm cụm động từ tiếng Hàn 33
2.1.3. Thành tố phụ của cụm động từ tiếng Hàn 34
2.1.3.1. Thành tố phụ là từ 34
2.1.3.2. Thành tố phụ là phụ tố 39
2.2. Cụm động từ tiếng Việt 51
vào năm 1992 thì tiếng Hàn bắt đầu đƣợc đƣa vào giảng dạy chính thức tại
các trƣờng Đại học của Việt Nam. Các trung tâm nghiên cứu Hàn Quốc tại
Việt Nam cũng bắt đầu đƣợc manh nha hình thành. Tiêu biểu là sự thành lập
khoa Đông Phƣơng học với các chuyên ngành đào tạo trong đó có ngành Hàn
Quốc học của trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội (1995,
1993 đào tạo thử nghiệm), trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh (1993), trƣờng Đại học Đà Lạt (2004), trƣờng Đại
học Đà Nẵng (2007), trƣờng Đại học Huế (2008),… và các trung tâm nghiên
cứu văn hóa Hàn Quốc tại Hà Nội, tại Đà Lạt, tại thành phố Hồ Chí Minh
cũng góp phần minh chứng cho sự phát triển ngành Hàn Quốc học nói chung,
ngành tiếng Hàn nói riêng ở Việt Nam.
Ngày nay, cùng với xu hƣớng giao lƣu và hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh
vực thì nghiên cứu so sánh đối chiếu các ngôn ngữ của các quốc gia khác
nhau đang trở thành một vấn đề cần thiết. “Trong thời đại của cách mạng
Khoa học kỹ thuật, thời đại của các dân tộc trên thế giới nói bằng các thứ
tiếng khác nhau đi vào cuộc giao lƣu tiếp xúc ngày càng nhiều với những hình
thức phong phú, đa dạng thì rõ ràng việc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
là cực kỳ cấp bách” (18; 20). Trong khi, các công trình nghiên cứu đối chiếu
tiếng Việt với các ngôn ngữ khác đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể thì
việc nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt và tiếng Hàn lại còn khá khiêm tốn. Xuất
phát từ sự cần thiết nêu trên, việc nghiên cứu so sánh đối chiếu tiếng Hàn với
tiếng Việt nói chung, so sánh đối chiếu cụm động từ trong tiếng Hàn và tiếng
Việt nói riêng sẽ có ý nghĩa rất lớn.
Đối với những ngƣời học tập, nghiên cứu về Việt Nam và Hàn Quốc thì
việc hiểu đƣợc một số điểm giống, khác nhau cơ bản giữa cụm động từ giữa
tiếng Hàn – tiếng Việt sẽ là một thuận lợi. Nhìn nhận những điểm giống và
khác giữa hai ngôn ngữ một cách có hệ thống sẽ giúp chúng ta có đƣợc cái
nhìn toàn diện hơn. Theo đó, việc sử dụng tiếng nƣớc ngoài cũng sẽ dễ dàng
hơn.
mà ngôn ngữ của dân tộc đó có những nét đặc thù riêng. Nghiên cứu cấu trúc
ngữ pháp là một nội dung quan trọng bậc nhất khi nghiên cứu mọi ngôn ngữ.
Việc nghiên cứu ngữ pháp là cơ sở tốt để tiếp cận những ngôn ngữ khác,
trong đó có tiếng Hàn và tiếng Việt.
Trật tự từ là vấn đề quan trọng của cấu trúc ngữ pháp và là một trong
những phƣơng thức ngữ pháp đã đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên việc đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Hàn – Việt trong lĩnh
vực này còn chƣa đƣợc đề cập đến nhiều, và chƣa mang tính chất hệ thống.
Bởi vậy nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết, kết quả của nghiên cứu sẽ
giúp làm sáng tỏ những đặc điểm loại hình của tiếng Hàn và tiếng Việt, hai
ngôn ngữ mang tính phân tích ở những mức độ khác nhau.
2.2. Về mặt thực tiễn
Thông qua việc đối chiếu hai ngôn ngữ về trật tự từ, chủ yếu trên bình
diện cấu trúc và một phần trên bình diện ngữ nghĩa của các thành tố trong
động ngữ, chúng tôi mong muốn góp phần vào việc đào tạo tiếng Hàn cũng
nhƣ đào tạo tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là trật tự từ trong cụm động từ của
hai ngôn ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt.
Trong khi nghiên cứu, chúng tôi sẽ mô tả và xây dựng mô hình cụm
động từ của mỗi ngôn ngữ, đồng thời tiến hành so sánh, đối chiếu những mô
hình cấu trúc đó, các thành tố cấu tạo nên mô hình đó, tìm hiểu sự biến đổi
cấu trúc sẽ dẫn đến sự biến đổi về ý nghĩa nhƣ thế nào và cuối cùng sẽ đƣa ra
những nhận xét trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mà chúng tôi đạt đƣợc.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn thuộc loại nghiên cứu miêu tả và so sánh đối chiếu, do vậy,
luận văn sử dụng các phƣơng pháp chủ yếu dƣới đây:
- Phƣơng pháp phân tích thành tố: Để phân tích cấu tạo của cụm động từ
trong hai ngôn ngữ.
các đơn vị khác. Theo Leonard Bloomfield, nhà ngôn ngữ học ngƣời Mỹ, câu
là một hình thức ngôn ngữ độc lập, không bị bao gồm vì bất cứ một kết cấu
ngữ pháp nào trong một hình thức ngôn ngữ lớn hơn. Câu là đơn vị lớn nhất
của miêu tả ngữ pháp (13; 278). Câu “về phƣơng diện cấu trúc, là cái phạm vi
lớn nhất của những mối quan hệ ngữ pháp chính danh. Tất cả quan hệ ngữ
pháp có thể có đƣợc đều chỉ có trong phạm vi câu. Trong những ngôn từ hay
văn bản gồm hai câu trở lên, giữa câu này với câu kia có thể có nhiều mối
quan hệ về đề tài, về ý tứ, nhƣng không thể có những mối quan hệ ngữ pháp”
(8; 12). Nhiều nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về quan hệ ngữ pháp cũng
quan niệm đó là “quan hệ hình tuyến giữa các từ tạo ra những tổ hợp từ” (5;
253) hoặc là “quan hệ giữa các thành tố của cụm từ và quan hệ giữa các thành
phần câu” (20; 199). Chúng còn đƣợc gọi là quan hệ cú pháp hay quan hệ
cú pháp học và đƣợc quan niệm gồm ba kiểu: quan hệ đẳng lập, quan hệ chính
phụ, quan hệ chủ-vị.
Các nhà nghiên cứu cho rằng quan hệ ngữ pháp trong từ đƣợc gọi là
“quan hệ từ pháp”. Quan hệ giữa các từ hoặc giữa các cụm từ trong câu đƣợc
gọi là “quan hệ cú pháp”. (23; 90).
“Ngữ pháp” ở đây đƣợc hiểu là toàn bộ các quy tắc biến đổi và kết hợp
từ để tạo ra câu nói và ngữ pháp học có nhiệm vụ nghiên cứu chức năng của
các từ trong cấu trúc của câu.
1.1.1. Khái niệm
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phƣơng tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng ngƣời. Ngôn
ngữ đồng thời cũng là phƣơng tiện phát triển tƣ duy, truyền đạt truyền thống
văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Toàn bộ hoạt động của hệ
thống ngôn ngữ đƣợc thể hiện trên hai trục: trục tuyến tính (hay trục ngang)
và trục liên tƣởng (hay trục dọc). Hơn nữa trong ngôn ngữ, mỗi đơn vị đều là
tổng hòa của các mối quan hệ của nó đối với những đơn vị khác.
Nhƣ vậy, “quan hệ ngữ pháp là quan hệ hình tuyến giữa các từ tạo ra
và “높아요” (nop’ayo-cao) để xác định chức năng chủ ngữ của từ “나무”
(namu-cây). Tuy nhiên chức năng chủ ngữ, ngoài trật tự cú pháp đó, còn đƣợc
biểu thị bằng tiểu từ chức năng “가”(ka).
[1.2] 그가 이 나무를 심어요.
(Kuka I namurul simoyo).
[Nó (ka) – này – cây(rul) – trồng]
(Nó trồng cây này)
Từ “나무” (namu-cây) có quan hệ với từ “심어요” (simoyo-trồng) để xác
định chức năng bổ ngữ, do nó có vị trí đặt trƣớc động từ giữ vai trò trung tâm
trong vị ngữ, nó lại còn đƣợc xác định nhờ có tiểu từ chức năng “를” (rul).
Nhƣ vậy, mỗi vị trí cú pháp trong tiếng Hàn không những đƣợc xác định
bằng trật tự nhƣ trong tiếng Việt, mà còn đƣợc quy định bởi những tiểu từ
chức năng nhƣ tiểu từ chủ ngữ (이-i/가-ka), tiểu từ bổ ngữ (을-ul/를-rul)…
Những tiểu từ nhƣ thế luôn có vị trí đứng ở cuối của từ giữ vai trò trung tâm.
Một vấn đề đặt ra là cần tìm những dấu hiệu hình thức cho phép nhận
biết các mối quan hệ ngữ pháp trong câu. Khi hai từ trong câu đƣợc coi là có
quan hệ ngữ pháp với nhau nếu tổ hợp mà chúng tạo nên có những đặc điểm
sau:
- Có thể đƣợc sử dụng độc lập vào các ngữ cảnh khác nhau.
Ví dụ:
+ Ghế này rất đẹp.
+ Nó đóng ghế này.
+ Ghế này, nó đóng hôm qua.
+ Gỗ của ghế này rất tốt.
Tổ hợp “ghế này” là một tổ hợp có khả năng đƣợc vận dụng độc lập,
không bị gắn chặt ở một vị trí cố định trong một kết cấu nhất định nào.
- Có thể đƣợc coi là dạng rút gọn của một cấu trúc phức tạp hơn.
Ví dụ:
+ Những chiếc ghế bằng gỗ mới mang đến này
- Tre giữ làng, giữ nƣớc, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín.
b) Quan hệ lựa chọn
Mỗi thành tố trong tổ hợp kiểu này nêu ra một khả năng có thể có trong
hiện thực. Trong tiếng Việt, các thành tố có quan hệ lựa chọn bắt buộc phải
nối kết với nhau bằng các liên từ “hay”, “hoặc”, “hay là”, “hoặc là"…
Ví dụ:
- Tôi hoặc anh sẽ phải đi công tác.
- Nếu làm thì tất cả chúng ta hoặc là không ai cả.
c) Quan hệ giải thích
Mỗi thành tố trong kiểu tổ hợp này là một tên gọi khác nhau của cùng
một sự vật; thành tố đứng sau giải thích cho thành tố đứng trƣớc. Trong tiếng
Việt, các thành tố có quan hệ giải thích có thể nối kết trực tiếp với nhau hoặc
nối kết bằng hệ từ “là”.
Ví dụ:
- Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ ngƣời già, ngƣời trẻ
- Những quyển sách, quyển vở này là đồ quyên góp cho trẻ em vùng
cao.
d) Quan hệ qua lại
Tổ hợp kiểu này chỉ có hai thành tố. Chúng có quan hệ logic chặt chẽ
với nhau và đƣợc nối kết bằng các cặp liên từ “tuy…nhƣng…”, “vì…nên…”,
“nếu…thì…”….
Ví dụ:
- Nó xấu ngƣời nhƣng đẹp nết.
- Nắng nhiều nên đồng ruồng khô cạn.
1.1.2.2. Quan hệ chính – phụ
Quan hệ chính – phụ (hay còn gọi là quan hệ hạn định, quan hệ phụ
thuộc, quan hệ một chiều) là quan hệ phụ thuộc một chiều giữa một thành tố
chính với một thành tố phụ, trong đó chức vụ cú pháp của thành tố chính chỉ
đƣợc xác định khi đặt toàn bộ tổ hợp chính – phụ vào một kết cấu lớn hơn,
a) Quan hệ giữa thực từ với hư từ.
Ví dụ: rất đẹp, đẹp lắm…
Thực từ là từ thuộc các loại động từ, tính từ, danh từ nhƣ “sách”, “đi”,
“đẹp”
Hƣ từ là những từ biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp và làm dấu cho các
quan hệ ngữ pháp của các thực từ trong câu, không tiêu biểu cho sự vật, hành
động hoặc không có đối tƣợng nhƣ “nếu”, “bèn”, “vậy”, “đã”, “sẽ”, “đang”
và chỉ biểu thị những mối quan hệ giữa các thực từ trong câu. Hƣ từ đứng
trƣớc hay đứng sau thực từ cũng đều đƣợc xem là thành tố phụ. Các hƣ từ làm
thành tố phụ cho danh từ, số từ đƣợc gọi là định ngữ. Còn các hƣ từ làm thành
tố phụ cho động từ, tính từ đƣợc gọi là trạng ngữ.
Có các loại hƣ từ sau: Hƣ từ hình thái: là các hƣ từ biểu hiện các ý nghĩa
hình thái đi kèm các thực từ hay đi kèm theo các câu:
- Chỉ mệnh lệnh: Hãy, đừng, chớ (Ví dụ: Hãy giữ kỷ luật./ Đừng bơi
quá xa./ Chớ lấy của ngƣời).
- Chỉ thời gian: Đã, sẽ, đang, vừa, tới (Ví dụ: Tôi vừa ăn cơm rồi./ Xe
đang đi trên đƣờng./ Tôi sẽ rút kinh nghiệm làm việc).
- Chỉ sự phủ định hay khẳng định: Không, chƣa, chẳng, có (Ví dụ: Tôi
chƣa xem phim này./ Họ có vài mảnh đất ở ngoại thành./ Một cánh én chẳng
làm nên mùa xuân).
- Chỉ mức độ: Rất, hơi, quá, lắm (Ví dụ: Canh hơi mặn./ Con bé thích
món đồ chơi đó lắm./ Hắn hành động rất kỳ cục).
- Chỉ sự tiếp diễn đồng nhất: Vẫn, cứ đều, cũng, còn (Ví dụ: Giá xăng
vẫn tăng trong tháng sau./ Tôi còn phải đi mấy lần nữa./ Nó cũng có một
chiếc giống nhƣ thế).
- Chỉ ý nghĩa số lƣợng: Những, các, mọi, mỗi (Ví dụ: Những chai
rƣợu này là hàng giả./ Mỗi ngƣời có sở thích khác nhau).
- Chỉ ý nghĩa xác định hay không xác định: Con, cái, chiếc (Ví dụ: Cái
này mua từ bao giờ?/ Tôi có vài chiếc bút bi).
Chức vụ chủ ngữ của “chúng tôi”, “hoa” và chức vụ vị ngữ của “du học
sinh Việt Nam”, “héo” đƣợc xác lập ngay trong bản thân tổ hợp mà chúng tạo
nên.
Các cơ sở phân loại quan hệ chủ - vị và tổ hợp chủ - vị nhƣ sau:
a) Căn cứ vào bản chất từ loại của vị ngữ, có thể phân biệt trường hợp
vị ngữ là động từ với trường hợp vị ngữ là danh từ.
Ví dụ:
- Tôi là sinh viên.
- Sinh viên đang làm thí nghiệm.
b) Căn cứ vào vị trí các thành tố có thể phân biệt trường hợp chủ ngữ
đứng trước với trường hợp chủ ngữ đứng sau vị ngữ.
Ví dụ:
- Hắn đã trộm xe máy của tôi. => chủ ngữ đứng trƣớc vị ngữ
- Lom khom dƣới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
=> Chủ ngữ đứng sau vị ngữ.
c) Căn cứ vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố có thể phân biệt
trường hợp có ý nghĩa chủ động với trường hợp có ý nghĩa bị động.
Ví dụ:
- Bác ba Phi chặt con cá ra làm 3 khúc. => mang ý nghĩa chủ động
- Con cá bị bác ba Phi chặt ra làm 3 khúc => mang ý nghĩa bị động
1.2. Khái niệm đoản ngữ
“Đoản ngữ” là một trong những đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc phức tạp,
tần số sử dụng cao, đặc biệt là đoản ngữ đẳng lập, kết cấu nội tại của chúng có
tính cân xứng. Trong tiếng Việt, thuật ngữ này lần đầu tiên đã đƣợc Nguyễn
Tài Cẩn sử dụng để miêu tả cấu trúc của danh ngữ tiếng Việt. Ông cho rằng
đoản ngữ là một loại tổ hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ bao gồm
một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ. (2; 148).
Ví dụ: “Sách hay”. Đây là trƣờng hợp có một trung tâm đứng làm nòng cốt và
Bài
(Anh ta) còn đang
uống
rƣợu
Trong hai ví dụ trên “học” và “uống” là những động từ làm trung tâm
của đoản ngữ, “vẫn”, “ chƣa”, “còn”, “đang” là các thành tố phụ trƣớc, “bài”
và “rƣợu” là các thành tố phụ sau.
Khi xem xét từ loại trong tiếng Hàn, nhà nghiên cứu Ahn Kyong Hwan
đã phân loại đoản ngữ tiếng Hàn thành 4 loại: danh ngữ, động ngữ, tính ngữ,
giới ngữ. Trong các loại đoản ngữ này, các từ trung tâm tƣơng ứng là danh từ,
động từ, tính từ, giới từ. Cũng theo tác giả này, tiếng Việt là một ngôn ngữ
đơn lập, từ không biến hình còn tiếng Hàn là một ngôn ngữ chắp dính, có biến
hình. Trong đoản ngữ nói riêng, trong câu nói chung, từ thƣờng biến đổi hình
thái. Có thể khái quát các dạng thức của chúng trong sơ đồ sau:
Danh từ = căn tố + phụ tố chỉ số nhiều + tiểu từ cách
[1.3] 학생들이 = 학생 + 들 + 이
(Haksengtuli = hakseng + tul + i)
(Các/ những bạn học sinh = học sinh + các/những + tiểu từ chủ ngữ “i”)
Hoặc đối với trƣờng hợp danh từ chỉ số ít:
Danh từ = căn tố + tiểu từ cách
[1.4] 핚국어가 = 핚국어 + 가
(Hankukoka = hankuko + ka)
(Tiếng Hàn = tiếng Hàn + tiểu từ chủ ngữ “ka”)
Động từ = căn tố + phụ tố chỉ kính trọng + phụ tố chỉ thời gian + phụ tố
vị ngữ tính
[1.5]
읽으셨습니다 =
읽+
으시+
었 +
습니다
(yeppusiotsupnita =
yeppu +
si +
iot +
supnita)
(đã đẹp=
đẹp +
phụ tố chỉ kính trọng +
đã +
phụ tố vị ngữ tính)
Hoặc: Tính từ = căn tố + phụ tố vị ngữ tính
[1.8]
좋아요 =
좋 +
아요
(chotayo =
chot +
ayo)
(tốt =
tốt +
phụ tố vị ngữ tính)
Nhƣ vậy, những so sánh trên có thể cho thấy thành tố trung tâm của
danh ngữ, động ngữ, tính ngữ đứng ở giữa đoản ngữ trong tiếng Việt. Trong
tiếng Hàn, thành tố trung tâm của ba loại đoản ngữ trên đứng ở cuối đoản
ngữ. Có thể tóm tắt sơ lƣợc bằng sơ đồ sau:
Đoản ngữ tiếng Việt:
Thành tố phụ trƣớc + Thành tố trung tâm + Thành tố phụ sau
Cái bàn này
đặc biệt là nhờ vị trí luôn luôn đứng cuối câu của nó. Còn trong các ngôn ngữ
không biến hình mà đại diện là tiếng Việt thì “tiêu chí nhận diện động từ là
khả năng làm trung tâm một loại cụm từ chính - phụ gọi là cụm động từ” (5;
245).
Tiếng Việt:
(Tôi) muốn học tiếng Hàn.
Tiếng Hàn:
[1.9] (제가) 핚국어를 공부하기 원합니다.
(Chê ka) hankukolul kongpuhaki wonhapnita.
(Tôi) tiếng Hàn học muốn.
[(Tôi) muốn học tiếng Hàn].
Trong ví dụ trên của tiếng Việt, “muốn học tiếng Hàn” là một cụm động
từgồm động từ “muốn” là thành tố chính – thành tố trung tâm, còn “học tiếng
Hàn” là thành tố phụ. Ngay trong bản thân thành tố phụ ấy cũng là một cụm
động từ với động từ “học” là thành tố chính, “tiếng Hàn” là thành tố phụ.
Xét trong tiếng Hàn chúng ta cũng nhận thấy cấu trúc tƣơng tự nhƣ vậy.
Ở cụm động từ “핚국어를 공부하기 원합니다” (“hankukolul kongpuhaki
wonhapnita” “muốn học tiếng Hàn”) quan hệ kết hợp các từ nhƣ sau:
핚국어를 공부하기 원합니다.
hankukolul kongpuhaki wonhapnita.
Tiếng Hàn học muốn.
[Muốn học tiếng Hàn].
Nhƣ vậy, động từ 원합니다 “wonhapnita” (“muốn”) là thành tố chính,
핚국어를 공부하기 “hankukolul kongpuhaki” (“học tiếng Hàn”) là thành tố
phụ. Và thành tố phụ đó cũng là một cụm động từ với 공부하기 “kongpuhaki”
(“học”) là thành tố chính, còn 핚국어를 “hankukolul” (“tiếng Hàn”) là thành tố
phụ.
Tiếng Việt:
(Tôi) đã mặc cái áo đó.