Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý - tình cảm trong tiếng Nga và Tiếng Việt - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
ĐỐI CHIẾU NHÓM THÀNH NGỮ CHỈ
TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG
TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 13
1.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Nga 14
1.2.1 Quan điểm về thành ngữ của Charles Bally 14
1.2.2 Quan điểm về thành ngữ của B.B.Виноградов 15
1.2.3 Quan điểm về thành ngữ của Н. М.Шанский 16
1.2.3.1 Thành ngữ dung hợp (TNDH) hay còn gọi là thành ngữ kết
dính (Фразеологическое сращение) 17
1.2.3.2 Thành ngữ thống nhất (TNTN) hay còn gọi là thành ngữ tổng
hợp (Фразеологическоe единство) 19
1.2.3.3 Thành ngữ kết hợp (TNKH) (Фразеологическоe сочетание) . 20
1.2.3.4 Thành ngữ tổ hợp (TNTH) (Фразеологическоe выражение) 21
1.2.4 Nhận diện và phân biệt thành ngữ với từ và cụm từ trong tiếng Nga . 22
1.3 Các trạng thái tâm lí tình cảm và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình
cảm 25
1.3.1 Phân biệt các trạng thái tâm lý tình cảm 25
1.3.2 Phân loại thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm 28
1.3.2.1 Nhóm thành ngữ chỉ sự xúc động 28
1.3.2.2 Nhóm thành ngữ chỉ tâm trạng 29
1.3.2.2 Nhóm thành ngữ chỉ tình cảm 30
4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 34
CHƢƠNG 2: CẤU TRÚC THÀNH NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÝ TÌNH CẢM
TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 35
2.1 Đặc điểm cấu tạo thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Nga 35
2.1.1 Đặc điểm về số lƣợng thành tố cấu tạo 35
2.1.2 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của các thành ngữ biểu thị tâm lí tình
cảm tiếng Nga 39
2.2 Cấu trúc thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm trong tiếng Việt 50
2.2.1 Đặc điểm về số lƣợng thành tố cấu tạo 50
2.2.2 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của các thành ngữ biểu thị tâm lí tình
cảm tiếng Việt 52


1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống một ngôn ngữ, thành ngữ đồng hành cùng với từ, ngữ
và các đơn vị ngôn ngữ khác tạo thành sự đa dạng cũng nhƣ đặc trƣng
riêng cho ngôn ngữ đó. Có thể nói, thành ngữ là một bộ phận độc đáo của
mỗi ngôn ngữ, bởi nó phản ánh đặc trƣng văn hóa dân tộc của mỗi ngôn
ngữ, trong đó có những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của dân tộc bản
ngữ. Chính vì lý do này mà thành ngữ luôn thu hút đƣợc sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu.
Trong cuộc sống hiện đại, những giá trị này vẫn còn đƣợc lƣu giữ lại
trƣớc nhất và đầy đủ nhất trong ngôn ngữ, trong đó thành ngữ nói chung,
thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng là sự phản ánh sâu sắc
và giầu hình ảnh chiều sâu của tƣ duy cũng nhƣ những tƣ tƣởng tôn giáo, lễ
giáo; những quan niệm về văn hóa và phong tục truyền thống; thậm chí là cả
những thói quen thƣờng nhật… của ngƣời bản ngữ.
Việt Nam và Liên bang Nga có mối quan hệ hữu nghị sâu sắc. Liên
bang Nga là nƣớc anh em đã giúp đỡ Việt Nam vƣợt qua rất nhiều khó khăn
trong cả thời chiến tranh chống Mĩ và thời bình xây dựng lại đất nƣớc. Tiếng

Việc nghiên cứu về tâm lý tình cảm đƣợc thể hiện trong thành ngữ chỉ
mới đƣợc chú ý khoảng mƣơi năm trƣớc đây. Tuy vấn đề này đã đƣợc đề cập
đến ít nhiều trong các tác phẩm của các tác giả trên, hoặc đƣợc trình bày rải
rác ở trong một số các bài báo chuyên đề chứ chƣa có một tác phẩm chuyên
khảo nào dành cho vấn đề này. Đã có một số tác giả tiến hành đối chiếu thành
ngữ tâm lý tình cảm giữa hai thứ tiếng trong luận văn thạc sĩ nhƣ Lâm Thị
Hòa Bình với luận văn Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng
Anh và tiếng Việt (2000) hay tác giả Vi Trƣờng Phúc với luận văn Đặc điểm
của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán, có đối chiếu với tiếng
Việt (2005) hoặc Nguyễn Văn Trào với bài báo Thành ngữ biểu thị tình cảm

3
trong tiếng Anh , có đối chiếu với tiếng Việt (trên ngữ liệu các thành ngữ có
chứa bộ phận cơ thể ngƣời) (2006).
Tác giả Nguyễn Đức Tồn, trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn Специфика
лексико - семантического поля названий частей человеческого тела
(1988) đã đề cập đến đặc trƣng tƣ duy dân tộc của ngƣời Nga và ngƣời Việt
thông qua các trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể ngƣời, nhƣng
không dành cho việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm của
hai dân tộc.
Nguyễn Văn Hòa với luận án Tiến sĩ tiếng Nga Русские фразеологии,
обозначаюшие внутреннее состояние человека, и способы их передачи
во Въетнамском языке (2008) đã nghiên cứu thành ngữ Nga biểu thị trạng
thái nội tâm của con ngƣời chủ yếu thông qua biểu trƣng душa (tâm hồn) và
cердце (trái tim) và những phƣơng thức chuyển dịch những thành ngữ này
sang tiếng Việt. Nhƣ vậy cho đến nay việc đối chiếu thành ngữ Nga - Việt về
mặt cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện các trạng thái tâm lí tình cảm vẫn đang
còn là một địa hạt bỏ ngỏ.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu và phân loại toàn bộ thành ngữ chỉ các

tích thành tố trực tiếp chỉ rõ cấu tạo bên trong của thành ngữ theo tầng bậc và
khả năng kết hợp của các thành tố trong thành ngữ của cả hai ngôn ngữ.
Luận văn sử dụng các tài liệu chính sau đây:
- Về tiếng Nga: Р. И. Яранцев, Словарь - справочник по Русской
фразеологии для иностранцев và А. И. Молотков (1986)
Фразеологический словаръ Рус. языка
- Về tiếng Việt: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân,
1997), Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lƣơng Văn Đang, 1993),vv
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Thành ngữ biểu thị các trạng thái tâm lý tình cảm là những thành ngữ
diễn tả “sự hoạt động của nội tâm”, việc thể hiện cảm xúc của mình qua thành

5
ngữ là biểu hiện sự tự nhận thức và khả năng liên hội bản thân với giới tự
nhiên. Qua việc đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng
Việt, luận văn hi vọng sẽ góp phần giúp nhìn nhận đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về
thành ngữ - một đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa và giá trị sử dụng đặc biệt trong
hoạt động giao tiếp. Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn mong
muốn góp thêm một phần nhỏ trong việc làm sáng tỏ những đặc trƣng văn
hoá – dân tộc của thành ngữ, cung cấp những thông tin về các yếu tố văn hóa,
dân tộc và tâm lý xã hội của dân tộc Nga trong sự so sánh đối chiếu với dân
tộc Việt. Các kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho việc dạy và học tiếng Nga
nói chung và thành ngữ tiếng Nga nói riêng đạt đƣợc hiệu quả cao hơn, đồng
thời cũng giúp ích cho quá trình biên dịch và phiên dịch thành ngữ từ tiếng
Nga sang tiếng Việt và ngƣợc lại.

7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng:
- Chƣơng 1: Một số cơ sở lý luận về thành ngữ và thành ngữ chỉ
tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt

coi là mang tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là hoàn toàn mới,
khác với tổng số ý nghĩa của các từ thành phần tạo thành. Tuy nhiên, theo
một số nhà ngôn ngữ học khác thì khái niệm trên chƣa thực sự rõ ràng. Vì
vậy, các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng yếu tố tƣơng đƣơng (giữa hai ngôn
ngữ) để định nghĩa tính thành ngữ. Một tổ hợp đƣợc coi là có tính thành
ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ mà khi dịch toàn bộ tổ hợp thì ngƣời ta
phải dịch từ ấy bằng một yếu tố - yếu tố đó chỉ tƣơng đƣơng với từ ấy chỉ
khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong

7
một trật từ nhất định). Thêm vào đó, từ này có thể đƣợc gặp cả khi không
có các yếu tố còn lại và khi ấy nó đƣợc dịch bằng một yếu tố khác. Hay
thƣờng gặp nhất là cách hiểu nhƣ sau:
Giả sử có một kết cấu X gồm các yếu tố a, b, c… hợp thành X =
a+b+c. Nếu ý nghĩa của X không thể giải thích đƣợc bằng ý nghĩa của từng
yếu tố a, b, c thì kết cấu X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ (4;154).
Đây là những kết luận đƣợc rút ra trong quá trình nghiên cứu các cụm
từ cố định và từ ghép vì chúng đều có cấu trúc ổn định và chặt chẽ, đều có
tính thành ngữ và đều là những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ. Điều này cho
thấy rõ ràng rằng tính thành ngữ có các mức độ cao thấp khác nhau trong các
tổ hợp cấu trúc khác nhau vì cách tổ chức nội dung và hình thức của chúng
theo những con đƣờng và phƣơng cách khác nhau (4;154).
Vì vậy một đơn vị ngôn ngữ - hiện diện với tƣ cách là đơn vị của hệ
thống ngôn ngữ, tồn tại dƣới dạng làm sẵn, đƣợc cấu tạo với số lƣợng thành
tố ổn định, không thay đổi và có ý nghĩa nhƣ một chỉnh thể tƣơng ứng với
một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó – là đơn vị ngôn ngữ mang tính thành
ngữ. Tất cả những đơn vị có đầy đủ những đặc điểm nhƣ trên sẽ mang tính
thành ngữ - một tính chất cú pháp, ngữ nghĩa chung giống nhau cho một loạt
các đơn vị ngôn ngữ.
Còn thành ngữ lại là tên gọi của một tổ hợp từ thuộc đơn vị từ vựng.

ngữ nhƣ thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, ngữ tự do và từ ghép. Đó là những
đơn vị ngôn ngữ hay những tổ hợp từ đáp ứng đầy đủ ba điều kiện cần và đủ
cho một đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ: là một tổ hợp từ, có nghĩa
hình tƣợng, có cấu trúc cố định ở một mức độ nào đó. Vậy làm sao có thể
nhận diện đƣợc những đơn vị ngôn ngữ trên một cách rõ ràng? Những điểm
giống nhau và khác nhau giữa chúng là gì? Đây là câu hỏi đã đƣợc rất nhiều
nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu và giải đáp.

9
1.1.1 Phân biệt thành ngữ với từ ghép
Nói chung, giới hạn sẽ gặp ở bậc thấp nhất của thành ngữ là từ ghép.
Giới hạn cao nhất của thành ngữ là câu. Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị
giáp ranh, nằm giữa hai đơn vị này. Trƣớc đây, trong việc phân biệt giữa từ
ghép và thành ngữ đã tồn tại nhiều quan niệm rất khác nhau. Trƣớc hết,
thành ngữ và từ ghép đều là những đơn vị từ vựng có sẵn và có chức năng
định danh. Hai đơn vị ngôn ngữ này trong tiếng Việt đều thuộc cụm từ cố
định nhƣng chúng vẫn đƣợc phân biệt nhau ở thành tố cấu tạo, ý nghĩa và
cấu trúc (4;154).
Từ ghép đƣợc cấu tạo dựa trên phƣơng thức tổ hợp hoặc ghép các tiếng
lại mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có mối quan hệ về nghĩa với nhau
(4;145). Đây là đơn vị tiếng Việt có ít nhất từ hai thành tố cấu tạo trở lên biểu
hiện khái niệm chung về sự vật, hoạt động, tính chất hoặc trạng thái. Nghĩa
của từ ghép diễn đạt một khái niệm một cách hoàn chỉnh. Trong quá trình
phát triển, do nhu cầu giao tiếp, từ ghép đƣợc sử dụng một cách phổ biến và
thông dụng với một kết cấu vững chắc và ý nghĩa phong phú. Tuy nhiên cũng
có nhiều trƣờng hợp thành tố cấu tạo (hoặc hình vị cấu tạo nên từ ghép) lại là
những yếu tố không có nghĩa hoặc không rõ ràng về nghĩa. Trong trƣờng hợp
các thành tố cấu tạo nên từ ghép có nghĩa thì nghĩa của từ ghép có thể là nghĩa
tổng hợp từ các khái niệm biểu trƣng của các thành tố (nhà cửa, đƣờng sắt, xe
đạp ) còn trong trƣờng hợp một hay đa số các thành tố cấu tạo đều không rõ

(lối đi) và sắt (một chất liệu, một loại kim loại) để chỉ một khái niệm “đƣờng
xe lửa chạy”. Còn thành ngữ “hét ra lửa” không chỉ hành động “hét” cũng
không nói đến “lửa” mà muốn nói đến tình hống hách, cậy quyền, ỷ thế. Hai
yếu tố “hét” và “lửa” kết hợp với nhau tạo thành nghĩa khái quát, nghĩa thực
sự của thành ngữ. Nếu tách rời hay thay thế hai yếu tố này, ý nghĩa của thành
ngữ sẽ bị phá vỡ và biến đổi. Vì vậy, theo Nguyễn Văn Mệnh (1986) có thể
nói “về hình thức, mối quan hệ ngữ pháp trong thành ngữ phức tạp hơn, nhiều
bậc hơn so với mối quan hệ ngữ pháp trong từ ghép”.

11
1.1.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
Không chỉ đều là cụm từ, đƣợc tạo lập bằng sự tổ hợp của các từ mà
cụm từ tự do và thành ngữ còn giống nhau về hình thức ngữ pháp dẫn đến
quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố cấu tạo cũng giống nhau. Tuy vậy, giữa
cụm từ tự do và thành ngữ còn có nhiều mặt khác biệt rất quan trọng.
Cụm từ tự do (CTTD) đƣợc hình thành lâm thời trong hoàn cảnh giao
tiếp, nhất là trong những hoàn cảnh giao tiếp phục vụ một mục đích biểu đạt
nhất định khi ngƣời nói muốn diễn đạt một ý hơn mức bình thƣờng. Nó có thể
đƣợc hình thành do các từ kết hợp lại rồi có thể tan vỡ vì nó không tồn tại
dƣới dạng một đơn vị làm sẵn. CTTD chỉ là sự lấp đầy từ vào một mô hình
ngữ pháp cho trƣớc mà thôi. Trong khi đó, thành ngữ lại là một đơn vị của hệ
thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dƣới dạng làm sẵn. Vì vậy nên các thành
tố cấu tạo thành ngữ có số lƣợng ổn định, không thay đổi, còn số lƣợng thành
tố cấu tạo CTTD lại có thể thay đổi tùy ý, tùy thuộc vào mục đích mà ngƣời
nói muốn diễn đạt. Ví dụ thành ngữ: tham nhƣ mõ, ăn tƣơi nuốt sống…. và
CTTD: ăn cơm ăn cháo (từ CTTD này ta có thể thêm vào các thành tố khác để
nhấn mạnh hơn nhƣ: ăn cơm khê ăn cháo nát hoặc ăn cơm thiu ăn cháo vữa,
v.v…tùy vào mục đích diễn đạt).
Về mặt ý nghĩa, CTTD là phép cộng đơn thuần của các nghĩa từ thành
tố nhƣng nó đƣợc hiểu trong một cảnh huống, một phát ngôn nhất định. Còn

dung hiển thị của quán ngữ đƣợc ngƣời ta thƣờng xuyên nhắc đến cho nên
hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi ngƣời ta
quen dùng quán ngữ nhƣ một đơn vị có sẵn (4;161).
Ví dụ: lên lớp, lên tiếng, lên mặt….
Quán ngữ là những cụm từ đƣợc sử dụng lặp đi lặp lại trong các loại
diễn ngôn (discourse) thuộc các phong cách khác nhau. Chức năng của chúng
là để đƣa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết diễn ngôn.

13
1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Có thể nói, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ đã đƣợc rất nhiều nhà
ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm và đề cập đến từ rất sớm. Ngƣời đầu tiên
đặt vấn đề phân biệt hai đơn vị này là Dƣơng Quảng Hàm (Việt Nam văn học
sử yếu - 1943): “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc
khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để
ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè”.
Trong cuốn “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956), Vũ Ngọc Phan lại
không tán thành sự phân biệt đó. Theo ông, “định nghĩa nhƣ vậy không đƣợc
rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục
ngữ. Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một
kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành
ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà ngƣời dùng đã
quen dùng nhƣng tự riêng nó không diễn đạt đƣợc một ý trọn vẹn. Về hình
thức ngữ pháp, thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chƣa phải là một câu hoàn
chỉnh, còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh”.
Hoàng Văn Hành và một số tác giả ở Viện Ngôn ngữ học đã nhận xét
nhƣ sau: “ Thành ngữ tuy có nhiều nét tƣơng đồng với tục ngữ (nhƣ tính bền
vững về mặt cấu tạo, tính bóng bẩy về nghĩa… ) nhƣng lại khác với tục ngữ
về bản chất. Sự khác biệt ấy ở chỗ: Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt,
biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu ngôn

1.2.1 Quan điểm về thành ngữ của Charles Bally
Là ngƣời đầu tiên đặt nền móng nghiên cứu về cụm từ cố định ( cụm từ
cố định nói chung và thành ngữ nói riêng), Charles Bally đã phân thành ngữ
tiếng Nga thành ba loại:
 Những nhóm kết hợp thông dụng (les groupements usuels)
 Những nhóm thành ngữ (les série phraséologiques)
 Những thành ngữ tổng hợp (les unité phraséologiques)

15
Cơ sở phân loại theo quan điểm của ông trong cuốn “Précis de
stylistique” là nằm ở tính chất kết hợp giữa các từ cấu tạo cụm từ cố định.
Nếu tổ hợp các từ kết hợp với nhau một cách hạn chế thì thuộc nhóm kết hợp
thông dụng; hai khái niệm hợp nhất thuộc nhóm thành ngữ và nhóm thành
ngữ tổng hợp thì biểu thị một chỉnh thể không thể tách rời.
Đây là ba loại thành ngữ về cơ bản đƣợc Charles Bally phân loại và là
những tiền đề quan trọng cho các nhà ngôn ngữ học khác kế thừa và phát
triển. Một trong những quan điểm khác vô cùng quan trọng của ông khi nói về
đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ là: “Chỉ có những đặc điểm bên trong mới
là những đặc điểm có giá trị thực sự” (34;98).
1.2.2 Quan điểm về thành ngữ của B.B.Виноградов
Là ngƣời kế thừa những thành quả nghiên cứu của C. Bally,
Виноградов đã đóng góp công lao to lớn trong việc phát triển công trình
nghiên cứu về thành ngữ của bậc tiền bối. Ông đặc biệt chú ý đến tính cố
định về mặt từ vựng – ngữ nghĩa của cụm từ, coi đó là bản chất của đơn vị
thành ngữ và trên cơ sở đó để phân loại một cách sáng tạo những đơn vị thành
ngữ không phân chia đƣợc về ngữ nghĩa thành hai nhóm:
 Nhóm thành ngữ dung hợp hay còn gọi là thành ngữ kết dính
(Фразеологическое cращение)
 Nhóm thành ngữ thống nhất (Фразеологическое единство)
Bên cạnh đó, xét thành phần cấu trúc thành ngữ trong tiếng Nga,

B.B. Виноградов - thành những loại sau:
 Nhóm thành ngữ dung hợp (kết dính)
 Nhóm thành ngữ thống nhất
 Nhóm thành ngữ kết hợp

17
 Nhóm thành ngữ tổ hợp
Dựa trên bốn nhóm thành ngữ đƣợc phân loại, ta thấy rằng quan điểm
của B.B.B đã đƣợc Шанский phát triển hoàn chỉnh. Ngoài ba nhóm giống với
sự phân loại của B.B.Виноградов thì đóng góp của H.M.Шанский chính là
bổ sung thêm nhóm thành ngữ tổ hợp (Фр. выражение) trong việc phân loại
thành ngữ.
Theo quan điểm của H.M.Шанский, bốn nhóm thành ngữ trên phải
đƣợc phân loại dựa trên tính hòa kết ngữ nghĩa của thành ngữ; hay hiểu một
cách đơn giản hơn là mối tƣơng quan giữa nghĩa chung của thành ngữ với
nghĩa riêng của từng thành tố cấu tạo nên thành ngữ.
Thành ngữ, theo quan điểm của H.M.Шанский là những đơn vị không
đƣợc tạo ra trong lời nói, mà chúng đƣợc tái hiện nhƣ những đơn vị hoàn
chỉnh có sẵn. Đó là những đơn vị ngôn ngữ đƣợc tái hiện bao gồm hai hoặc
nhiều thành tố có tính vị từ, có trọng âm, hoàn chỉnh về ý nghĩa và cố định về
thành phần và cấu trúc. Có thể nói, khái niệm trên của ông đƣợc coi là khái
niệm đầy đủ và hoàn chỉnh nhất về thành ngữ. Cho đến nay, quan điểm và
cách phân loại thành ngữ tiếng Nga và cách phân loại thành ngữ của
B.B.Bиноградов và sau đó đƣợc H.M.Шанский phát triển có thể đƣợc trình
bày nhƣ sau:
1.2.3.1 Thành ngữ dung hợp (TNDH) hay còn gọi là thành ngữ kết dính
(Фразеологическое сращение)
Thành ngữ dung hợp là kết hợp từ không thể chia cắt đƣợc, không bị
phá vỡ, ý nghĩa chung của nó hoàn toàn không phải đƣợc rút ra từ ý nghĩa
của các cấu tử. Trên quan điểm tiếng Nga hiện đại, ý nghĩa của chúng không

Bên cạnh đặc điểm trên, TNDH gồm có những dạng thức ngữ pháp cổ
không giống nhƣ dạng thức của ngữ pháp tiếng Nga hiện đại. Xét các TNDH:

19
“спустя рукава” “сломя голову”: chúng có dạng thức trạng động từ không
giống nhƣ dạng thức của thành ngữ hiện đại có hậu tố -в và -вший, hoặc
thành ngữ ныне отпущаеши (so sánh với отпускаешъ) hoặc thành ngữ
темна вода во облацeх (không thể hiểu nổi) so sánh với в облаках …vv
Thứ ba là TNDH không có mối quan hệ cú pháp rõ ràng giữa các
thành tố theo đúng quy tắc ngữ pháp của thành ngữ hiện đại. Ví dụ:
Была не была Sống hoặc chết, liều, một liều ba bảy
cũng liều
Чем свет Sáng tờ mờ, tinh mơ mờ đất
Шутка сказатъ Đùa thôi
Так себе Tàm tạm
Вон плохо Tồi tệ hết sức
1.2.3.2 Thành ngữ thống nhất (TNTN) hay còn gọi là thành ngữ tổng hợp
(Фразеологическоe единство)
TNTN là những kết hợp không thể chia cắt đƣợc và không bị phá vỡ về
mặt ý nghĩa. Ý nghĩa chung của chúng là nghĩa bóng, ẩn dụ đối với tổng ý
nghĩa từ vựng của các từ thành tố tạo ra chúng.
Theo B.B.Bиноградов thì tính sản sinh, tính nguyên cớ của ý nghĩa
TNTN gắn liền với nhận thức mối quan hệ ý nghĩa của tổng thể với ý nghĩa
của các yếu tố tạo thành.
Nhƣ vậy, TNTN chỉ khác TNDH ở một điểm, đó là về mặt ý nghĩa thì ý
nghĩa của thành ngữ là ý nghĩa có lý do đƣợc tạo nên bởi các ý nghĩa riêng
biệt của các từ thành phần của thành ngữ. Ý nghĩa của TNTN chính vì thế về
mặt nào đó có thể đƣợc hiểu qua ý nghĩa khái quát của từng từ cấu tạo. Các
từ tham gia vào TNTN đều với nghĩa đen của mình, nhƣng thành ngữ lại
mang hàm ý và thƣờng biểu hiện ý nghĩa bằng hình ảnh, cách nói bóng gió.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status