Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa lily nhập nội tại trung tâm giống cây trồng tỉnh phú thọ - Pdf 33

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay khi cuộc sống người dân được nâng cao thì nhu cầu về đời sống
tinh thần ngày càng đa dạng và phong phú. Song song với các hoạt động văn hóa
tinh thần khác thì thú chơi hoa cây cảnh đang được phát triển mạnh mẽ tại Việt
Nam hiện nay, đặc biệt là nhu cầu thưởng thức hoa tươi ngày càng lớn.
Thị trường hoa tươi ở Việt Nam trong thời gian gần đây phát triển rất mạnh
mẽ cả về số lượng lẫn chủng loại. Trên thị trường hoa Việt Nam ngày càng xuất
hiện nhiều loại hoa cao cấp như hoa Phong lan, Địa lan, Hồng môn, Lily…
Lily là loại hoa cao cấp rất được ưa chuộng ở Việt Nam nói riêng và trên thế
giới nói chung. Trên thị trường Việt Nam hiện nay đang có rất nhiều giống Lily
được yêu thích, trong đó đã có những giống có mặt ở Việt Nam từ lâu như
Sorbonne, Tirber màu hồng, Yelloween màu vàng… và cũng có những giống mới
du nhập vào nước ta như Quita, Avenino, Orange Tycool màu da cam, Acapucol
màu đỏ rực, Rivolation… tất cả làm nên một thị trường hoa thật đa dạng và phong
phú tại Việt Nam.
Trước nhu cầu về hoa Lily ngày càng lớn, mở ra triển vọng mới cho nghành
trồng hoa Lily ở Việt Nam. Tuy vậy cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa chủ động
trong việc sản xuất củ giống, các giống Lily được trồng ở Việt Nam chủ yếu được
nhập từ Hà Lan, Đài Loan hoặc Trung Quốc. Bên cạnh đó ngoài một số vùng có
truyền thống trồng hoa như Đà Lạt, Sa pa,… thì hoa Lily chưa được đưa vào sản
xuất rộng rãi. Có nhiều nguyên nhân của việc ngành trồng hoa Lily ở Việt Nam
chưa phát triển, trồng hoa Lily đòi hỏi đầu tư ban đầu về vốn và công nghệ cao, ảnh
hưởng của thời tiết lớn nên độ rủi ro cao. Mặt khác do Lily có nguồn gốc ôn đới
nên trồng ở khí hậu cận nhiệt đới ở Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ tình hình trên, đồng thời để có cơ sở khoa học trong việc phát triển sản
xuất hoa Lily ở Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề: " Nghiên
cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa Lily nhập nội tại
trung tâm giống cây trồng tỉnh Phú Thọ".

1


lớp hành (Lilidae), bộ hành (Liliales), họ hành (Liliaceae), chi (Lilium).
1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa Lily trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa Lily trên thế giới
1.2.1.1. Tình hình sản xuất hoa Lily trên thế giới
Theo Hoàng Ngọc Thuận sản xuất hoa cắt và trồng chậu đang nhanh chóng
lan rộng trên toàn thế giới, theo thống kê mới đây có 115 quốc gia trồng hoa trên
toàn thế giới. Diện tích hoa cắt cành và giá trị sản lượng trên thế giới đang tăng
nhanh, dựa trên 17 nước sản xuất hoa quan trọng nhất với diện tích ước lượng hiện
nay vào khoảng 60.000 ha.
Hoa Lily cắt cành được phát triển rất nhanh trong những năm gần đây, đặc
biệt là ở Châu Âu. Diện tích sản xuất củ hoa Lily giống trên thế giới khoảng 4500
2


ha, trong đó riêng Hà Lan là 3700 ha. Hà Lan là nước có công nghệ tạo giống và
trồng hoa Lily tiên tiến nhất hiện nay.
Ngoài công tác nhân giống, Hà Lan còn rất thành công trong việc điều khiển sinh
trưởng, đầu tư cơ giới hóa trong việc trồng và chăm sóc để làm tăng chất lượng hoa
và làm giảm giá thành sản xuất.
Ngoài Hà Lan, việc sản xuất hoa Lily cũng đang được phát triển rất mạnh ở
Trung Quốc mặc dù trình độ và kỹ thuật còn lạc hậu hơn Hà Lan, Nhật Bản và
nhiều nước tiên tiên khác. Tuy là một nước có diện tích sản xuất hoa Lily tương đối
lớn nhưng Trung Quốc vẫn chưa chủ động được khâu giống, các giống được trồng
ở Trung Quốc hầu hết được nhập từ Hà Lan.
Về mặt tiêu thụ củ giống, Nhật Bản là nước mua nhiều củ giống Lily. Mỗi
năm Nhật Bản mua khoảng 690 triệu củ giống, sau đó là Italia, Mỹ, Đức, Trung
Quốc, Hàn Quốc… Mức tiêu thụ hoa cắt của Nhật rất cao và trở thành nước nhập
khẩu hoa lớn nhất thế giới, mỗi năm nhập khoảng 500 triệu USD.
Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước trồng Lily với diện tích lớn như Hàn
Quốc, Kenia, Đức…

Các tác giả Cẩu Văn Đạt, Triệu Tường Vân, Vương Thu Đông… đều cho
rằng mật độ trồng hoa Lily tùy theo giống và độ lớn của củ giống. Độ lớn của củ
giống ngoài việc liên quan đến mật độ trồng, nó còn có ý nghĩa quyết định đến số
lượng nụ hoa/ cành và chất lượng hoa.
Theo tác giả Triệu Tường Vân, sự lựa chọn kích thước củ cũng phụ thuộc vào yêu
cầu về số lượng hoa, qui tắc chung là củ càng nhỏ thì càng ít nụ hoa hơn và các bộ
phận của cây thấp hơn, khi đó cây hoa sẽ nhẹ hơn. Tuy vậy trồng củ kích thước lớn
sự sinh trưởng của cây giai đoạn đầu sẽ quá mức, dẫn đến hiện tượng cháy lá, nụ
hoa bị mù thui làm giảm chất lượng cành hoa. Cơ chế trên được tác giả giải thích là
củ có kích thước lớn, các chất dinh dưỡng tiềm tàng trong củ để cung cấp cho sự
sinh trưởng của cây ở giai đoạn đầu càng nhiều. Chính vì thế, sau khi xử lý và đưa
ra trồng củ có kích thước càng to thì tốc độ sinh trưởng của cây càng nhanh, lá
thoát hơi nước nhiều, bộ rễ lúc này vẫn chưa đủ để hút nước bù lại lượng mất đi
dẫn đến tế bào ở lá bị thiếu canxi, bị tổn thương và chết.
Lily là một loại hoa có giá trị rất cao nếu như thu hoạch vào đúng các dịp lễ
tết, chỉ cần hoa nở chậm hơn ngày lễ tết vài ngày thì giá trị kinh tế bị giảm rất
nhiều, chính vì thế đã có nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu các biện pháp để
điều khiển sinh trưởng cho hoa Lily.
1.2.2Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam
Theo Overakker và Sibma thì diện tích trồng hoa ở các địa phương của Việt
Nam năm 2008 là 2300 ha trong đó nhiều nhất là Hà Nội là là khoảng 1200 ha, Hải
Phòng là 500 ha còn lại là các tỉnh khác.
Trong đó Lily mới được trồng để kinh doanh ở một số tỉnh, thành phố có nghề
trồng hoa phát triển là Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, SaPa,… tuy nhiên so với
các chủng loại khác thì loại hoa này còn chiếm tỷ lệ khá nhỏ.
Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng Lily nhiều nhất so với các địa
phương khác trên cả nước (chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa) còn
Hà Nội, SaPa, Hải Phòng, Sơn La, Yên Bái, Bắc Ninh, Quảng Ninh… chỉ mới
được trồng 2 – 3 năm gần đây với diện tích còn rất nhỏ và mang tính chất thử
nghiệm. Tình hình phát triển hoa Lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, một phần do thiên

nội dung về biện pháp kỹ thuật canh tác hầu như chưa được nghiên cứu nhiều.

5


CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
-Địa điểm nghiên cứu tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp
miền
núi phía Bắc - xã Phú Hộ - thị Xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ.
-Vị trí địa lý: 21¬027 vĩ độ Bắc và 105014 kinh độ Đông
-Phía bắc và phía Đông giáp huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ
-Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ
-Phía Tây giáp xã Hà Lộc và xã Hà Thạch
2.1.2. Địa hình
Khu vực nghiên cứu có địa hình kiểu đồi bát úp trung du, có độ dốc từ 8- 100
xen kẽ các thửa ruộng.
2.1.3. Khí hậu thuỷ văn
-Theo số liệu thống kê của trạm khí tượng thuỷ văn Phú Thọ tại xã Phú Hộ
năm 2007.
-Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,6C
-Độ ẩm trung bình năm khoảng 84,1%
-Lượng mưa trung bình năm khoảng 1503,1mm tuy nhiên lượng mưa phân bố
không đều ở các tháng trong năm lượng mưa cao nhất thường tập trung vào tháng
7, tháng 8, tháng 9; lượng mưa thấp nhất thường tập trung vào tháng 12, tháng 1 và
tháng 2.
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.1. Điều kiện kinh tế
- Theo báo cáo nghị Quyết Đại hội Đảng bộ và Hội đồng nhân dân xã khoá

chủ yếu trong phát triển sản xuất hoa Lily tại thành phố Việt Trì – Phú Thọ.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 3 đối tượng hoa Lily nhập nội được trồng tại Trại Nậu Phó,
xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, thời gian nghiên cứu từ 22/12/2008 đến
ngày 22/4/2009.
3.4. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống hoa Lily nhập nội:
Sorbone, Yelloween, Tirber.
- Độ bền hoa cắt
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong phát triển sản xuất hoa Lily.
Các chỉ tiêu theo dõi gồm:
3.4.1. Chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển
- Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao: Dùng thước đo từ mặt đất đến đỉnh
sinh trưởng của cây, lấy chiều cao ở các lần đo. Cách tính như sau:
Tổng chiều cao cây
Chiều cao cây TB =
Tổng số cây theo dõi
- Theo dõi đường kính thân: Cách đo dùng thước Palme đo đường kính cây ở vị trí
nhất định ( cách mặt đất khoảng 5 cm). Theo dõi suốt quá trình sinh trưởng rồi lấy
số đo ở các lần theo dõi. Cách tính:
Tổng số đo các cây theo dõi (cm)
Đường kính trung bình của thân (cm) =
Tổng số cây theo dõi
- Theo dõi số lá trên cây:
- Theo dõi đường kính nụ và chiều dài nụ trong suốt quá trình sinh trưởng, phát
triển, đường kính và chiều dài nụ trước khi nở tiến hành đo trên các nụ ở 10 cây
trong cùng một thời điểm rồi lấy giá trị trung bình (cm).
Cách tính:
7


hành thực hiện chuyên đề nghiên cứu này.
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầu đủ với 3 lần nhắc lại, mỗi giống
là một công thức thí nghiệm. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m 2, mật độ trồng là
30 củ / m2, mỗi giống là 300 củ.
- Phương pháp điều tra theo dõi.
Theo dõi các chỉ tiêu ngoài đồng ruộng: Đánh dấu ngẫu nhiên 30 cây/ 1ô thí
nghiệm, định kỳ theo dõi 7 ngày/ lần. Điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo
góc, mỗi điểm lấy 6 cây.
3.6. Xử lý số liệu
- Thu thập và xử lý số liệu theo phương pháp thí nghiệm đồng ruộng.
- Thiết lập biểu đồ và đồ thị trên máy vi tính bằng phần mềm Excel và phần mềm
IRRISTAT 4.0.

9


CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Sinh trưởng và phát triển của các giống hoa Lily nhập nội trồng ở Trung
tâm giống cây trồng tỉnh Phú Thọ.
4.1.1. Tỷ lệ mọc mầm
Bảng 1: Thời gian mọc mầm ( số ngày sau trồng)
Giống
Sorbone
Yelloween
Tiber
[[[[[[[[[[[[ơ

Bắt đầu mọc


4.1.2. Chỉ tiêu chiều cao cây
Bảng 2: chiều cao cây các giống hoa Lily
TUẦN SAU TRỒNG
GIỐNG
4

5

6

Sorbonne

14.33 23.13 28.7
3

Yelloween

15.0
2

Tirber

13.98 20.6
8

7

8



0.1

CV %

11


Hình 1: Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống Lily

Chiều cao cây là chỉ tiêu rất quan trọng để dánh giá khả năng sinh trưởng của
cây cũng như chất lượng và phẩm chất hoa. Đối với hoa Lily cắt cành chiều cao cây
yêu cầu phải cao hơn so với Lily dùng để trồng chậu.
Đối với các giống hoa Lily than gia thí nghiệm, chiều cao cây của các giống có
sự sai khác nhau khá rõ rệt, trong các giống tham gia thí nghiệm thì giống
Yelloween có chiều cao lớn nhất. Với chiều cao như vậy thì Yelloween có chiều
cao cắt cành rất tốt. Tiếp theo là Sorbonne có chiều cao cây là 62.45 cm, chiều cao
cây nhỏ nhất là Tirber có chiều cao là 55.01 cm. Tốc độ tăng trưởng chiều cao của
các cây trong cùng một giống là khá đồng đều. Tất cả các giống khi bắt đầu ra nụ
đều sinh trưởng chiều cao chậm lại.
Nhìn vào bảng kết quả trên ta thấy sai số thí nghiệm chỉ là 0.1% điều này có ý
nghĩa là kết quả thí nghiệm rất chính xác.

12


4.1.3. Chỉ tiêu số lá
Bảng 3: Số lá các giống hoa Lily
Tuần sau trồng



16.77

27.78

35.94

39.7

50.3

Tiber

12.89

19.93

25.58

29.6

35.6

40.0

LSD 5%

0.01

Hình 2: Tốc độ ra lá của các giống Lily



Bảng 4: Đường kính thân các giống hoa Lily
Đường kính thân
Giống
4

5

6

7

8

9

10

25.19

25.6

26.32

26.58

26.66

26.98


Sorbonne

25.03

LSD 5%

0.017

CV%

0.6
16


Hình 3: Sự sinh trưởng thân của các giống Lily

4.1.5. Số nụ hoa trên cành và phân loại cành hoa Lily
Bảng 5: Số nụ hoa trên cành và phân loại cành hoa Lily
Giống

Số nụ/ cành

cành loại 1(%)

cành loại 2(%)

Sorbonne

4.21

17


Số nụ hoa trên cành là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng và
phát triển của các giống hoa Lily. Đặc biệt số nụ/ cành ( còn gọi là số tai) là cơ sở
cơ bản để đánh giá giá trị thương mại của cành hoa Lily. Ở đây chúng tôi phân ra
làm hai cấp cành, cành loại 1 là các cành có từ 4 nụ trở lên, cành cấp 2 là cành có
từ 1 - 3 nụ. Dựa vào bảng 5 ta thấy các giống tham gia thí nghiệm đều có số nụ khá
nhiều, số nụ đa phần lớn hơn 4, nhiều nhất là giống Yelloween và Sorbonne có tới
4.22 nụ, giống có số nụ ít nhất là giống Tiber có số nụ là 4.12 nụ. Theo nhiều
nghiên cứu thì số nụ trên cây có liên quan mật thiết đến đường kính củ giống, củ
giống càng lớn thì số nụ hoa càng nhiều. Theo như khuyến cáo của công ty VWS
( Hà Lan) và một số nghiên cứu khác thì với giống Lily thơm như Sorbonne,
Tirber, Yelloween,… thì với chu vi của củ giống là 16 - 18 thì số nụ hoa trên cây >
4. Như vậy các giống đã nghiên cứu đã phát huy được khả năng của giống chứng tỏ
các giống này sinh trưởng tốt ở Phú Hộ - Phú Thọ. Số cành hoa loại 1 cao ( đều
trên 70%) chứng tỏ các giống đều sinh trưởng tốt và đồng đều. Số nụ trên cành là
cơ sở để hình thành nên năng suất nụ cao, là tiền đề tạo nên hiệu quả kinh tế cho
các giống Lily.

18


4.1.6. Chỉ tiêu kích thước nụ và đường kính hoa
Bảng 6: Kích thước nụ trước nở và kích thước hoa
Đường kính nụ
(cm)

Chiều cao nụ
(cm)

0.95

0.37

0.23

CV%

1.4

1.5

0.5

Giống

Hình 5: Kích thước nụ trước nở và đường kính hoa các giống Lily
[[[

19


Qua bảng 6 và hình 5 ta thấy chiều cao nụ và đường kính nụ là các chỉ tiêu
liên quan trực tiếp đến đường kính hoa. Nếu chiều cao nụ và đường kính nụ nhỏ thì
dẫn đến đường kính hoa nhỏ và ngược lại, nếu chiều cao nụ và đường kính nụ lớn
thì đường kính hoa lớn. Đặc biệt là chỉ tiêu chiều cao nụ ảnh hưởng rõ nhất đến chỉ
tiêu đường kính hoa. Hai giống Sorbonne và Tiber có chiều cao nụ nhỏ hơn
Yelloween nên đường kính hoa của 2 giống này nhỏ hơn so với Yelloween có
đường kính hoa là 19.71 cm. Chỉ tiêu đường kính nụ thể hiện phần nào đặc tính của
giống, giống Yelloween có đường kính nụ nhỏ nhất mặc dù không phải là giống có


30

30

100

4.21

126.3

Yelloween

30

30

100

4.22

126.6

Tiber

30

30

100


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status