PHÂN TÍCH NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC ĐẦUTIÊN VĂN LANG SO SÁNH VỚI ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN Ở NHẬT BẢN - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
---------------

BÀI GIỮA KỲ
MÔN: TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ TRUNG ĐẠI
ĐỀ BÀI :
PHÂN TÍCH NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC ĐẦU
TIÊN VĂN LANG
SO SÁNH VỚI ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN Ở
NHẬT BẢN


Sau hàng chục vạn năm gian khổ lao động và sáng tạo, từ những
công cụ bằng đá cũ thô sơ tiến đến sự phát minh ra kĩ thuật luyện kim và
nghề nông trồng lúa nước dùng cày có sức kéo là trâu bò; đời sống vật
chất và tinh thần của người nguyên thủy Việt Nam ngày càng được nâng
cao, từng bước làm thay đổi bộ mặt xã hội, đưa đến hình thành một lãnh
thổ chung, một nền văn hóa, văn minh chung và một tổ chức chính trị, xã
hội chung, đó là quốc gia và nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, đánh dấu một
bước chuyển biến cơ bản trong lịch sử xã hội Việt Nam, mở ra một thời
đại mới, thời đại dựng nước.
Sau đây là một số tiền đề cho sự ra đời của nhà nước Văn Lang.
1. Niên đại và địa bàn cư trú của người Việt cổ thời Hùng Vương
Dựa vào các nguồn tư liệu mới phát hiện và kết quả nghiên cứu,
nhiều nhà khảo cổ học và sử học cho rằng thời kì dựng nước đầu tiên của
dân tộc Việt Nam - thời Hùng Vương đã trải qua 4 giai đoạn phát triển nối
tiếp nhau liên tục và ngày càng cao trên cơ sở kế thừa thành quả giai đoạn
trước. Bốn giai đoạn đó phản ánh quá trình hình thành và phát triển của
nhà nước và quốc gia Văn Lang - Âu Lạc.

sắt bằng phương pháp, từ cách luyện ra sắt xốp, rèn sắt đến phương pháp
đúc.
Sự phát triển của trình độ kĩ thuật luyện kim nói riêng và nghề
luyện kim nói chung thời Hùng Vương không những đã làm thay đổi về
chất và nâng cao hiệu quả của công cụ sản xuất, thúc đẩy sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế mà còn tạo nên bước chuyển biến quan trọng
trong quan hệ sản xuất - xã hội, đưa đến sự phân công lao động trong xã
hội.
Kinh tế phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thêm
nguồn của cải xã hội. Sản phẩm thừa xuất hiện ngày càng nhiều hơn, đã
tạo nên cơ sở cho sự phân hóa xã hội, phân hóa kẻ giàu, người nghèo.
Như vậy những tiền đề đầu tiên cho sự hình thành quốc gia và nhà nước
thời Hùng Vương vào giai đoạn cuối Đông Sơn đã xuất hiện ngày càng
nhiều hơn, đã tạo nên cơ sở cho sự phân hóa xã hội, phân hóa kẻ giàu,


người nghèo. Như vậy những tiền đề đầu tiên cho sự hình thành quốc gia
và nhà nước thời Hùng Vương vào giai đoạn cuối Đông Sơn đã xuất hiện.
3. Sự ra đời của nhà nước Văn Lang
* Sự giải thể của công xã thị tộc và sự ra đời của công xã nông
thôn.
* Nhà nước Văn Lang ra đời.
Trên đây là những tiền đề cho sự ra đời Nhà nước đầu tiên của dân
tộc Việt Nam - nhà nước Văn Lang.
So với nhà nước Văn lang, nhà nước Nhật Bản có rất nhiều điểm
khác biệt.
Nhật Bản ở phía Đông Á, là một dãy đảo gần 4000 đảo lớn nhỏ nằm
giữa Biển Bắc Thái Bình Dương và biển Nhật Bản, phía Đông bán đảo
Triều Tiên.
Từ sớm trên quần đảo Nhật Bản đã có người cư trú. Những dân cư

Nara ngày nay). Tên của thời kỳ này lấy từ những ngôi mộ (kofun) được
xây dựng cho các nhà lãnh đạo chính trị của thời kỳ đó. Nước Nhật
Yamato trải rộng từ Kyushu đến Kinai, nhưng lúc đó chưa bao gồm
Kanto. Tohoku và Hakkaido.
Từ thế kỷ IV, chữ Hán được truyền vào Nhật Bản và trở thành quốc
tự của nước này, nhờ đó văn học Nhật Bản được hình thành và phát triển.
Đến thế kỉ V thì Nho giáo và sau đó, vào thế kỉ VI Phật giáo cũng đã
được truyền bá vào Nhật Bản.
Vì những lí do trên, xã hội nước Yamatô có rất nhiều biến chuyển,
hình thành nên nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau. Đứng đầu giai cấp
thống trị là Thiên hoàng có quyền lực rất lớn, chiếm đoạt những vùng đất
đai rộng lớn, thu thuế các công xã nông nghiệp, bóc lột nô lệ.
Triều đình Yamatô còn cho mời nhiều người ta, Triều Tiên sang ở
hẳn bên Nhật Bản để làm môn sư truyền bá nhiều phương diện kỹ thuật và
văn hóa như: kĩ thật canh tác nông nghiệp, các nghề thủ công nuôi tằm,
nấu rượu, dệt đúc gang, làm đồ gốm, kĩ thuật kiến trcú v.v… Từ thế kỉ IV,
chữ Hán được truyền vào Nhật Bản và trở thành quốc tự của nước này,
nhờ đó văn học Nhật Bản được hình thành và phát triển. Đến thế kỉ V tghì


Nho giáo và sau đó, vào thế kỉ VI Phật giáo cũng đã được truyền bá vào
Nhật Bản.
Vì những lsi do trên, xã hội nước Yamatô có rất nhiều biến chuyển,
hình thành nên nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau.
Đương đầu giai cấp thống trị là Thiêng hoàng có quyền lực rất lớn,
chiếm đoạt những vùng đất đai rộng lớn, thu thuế các công xã nông
nghiệp, bóc lột nô lệ.
Thiên hoàng tập hợp chung quanh mình các hào tộc, cũng là những
tộc họ với Thiên hoàng, để chia nhau quyền hành trong triều đình. Ngoài
quí tộc, dân tự do, trong xã hội Yamatô còn có tầng lớp nô lệ. Nhưng

Các sử gia Nhật Bản thường gọi các liên minh bộ lạc đó là những quốc
gia bộ lạc (Bunraku Kokka).
Kinh tế Nhật Bản và Văn Lang đều bắt nguồn từ nên nông nghiệp
lúa nước.
Nhưng nếu như Nhật Bản lấy sự liên minh giữa các bộ lạc khai thác
nô lệ làm cơ sở cho sự ra đời bộ máy chính quyền thì nhà nước Văn Lang
hình thành và phát triển dựa trên sự phát triển về kinh tế. Vua là người
đứng đầu, dìu dắt và bảo vệ nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ
nước


MỤC LỤC




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status