CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên
1.1.1. Vị trí địa lí
Đồng Hỷ là huyện miền núi của Thái Nguyên. Huyện lỵ đặt tại thị trấn Chùa
Hang cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 3km về phía Tây Bắc. Toàn
Huyện có 17 xã và 3 thị trấn. Địa phận huyện Đồng Hỷ chạy dài 21°32 đến
21°51 độ vĩ bắc, 105°46’ đến 106°04’ độ kinh đông. Phía bắc giáp huyện Võ
Nhai và tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái
Nguyên, phía đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và
thành phố Thái Nguyên.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
. Huyện Đồng Hỷ có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế nông
nghiệp đặc biệt là trồng cây công nghiệp.
Nhìn chung nhờ vị trí và điều kiện tự nhiên trên nên Đồng Hỷ có những
điều kiện cơ bản để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhất là nền kinh tế nông nghiệp
nhiệt đới, bên cạnh đó còn đẩy mạnh sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng,
Từ đó tạo điều kiện đảm bảo đời sống vật chất cho nhân dân.
1.2. Người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
1.2.1.Tên gọi và nguồn gốc lịch sử.
Tộc danh tự nhận của họ là Sán Dìu (Sán Dao/Sán Dìu). Các cộng đồng láng
giềng gọi họ bằng nhiều tên khác nhau như: Sán Dìu,Trại Đất
1.2.1. Dân số và phân bố dân cư.
Tính năm 2011 dân số trên toàn huyện Đồng Hỷ là 110,170 người, trong đó
người Sán Dìu chiếm tới 16322 người, tập trung chủ yếu ở các xã:Nam Hòa( 5932
người) Tân Lợi ( 2838 người ) Linh Sơn ( 2828 người) Minh Lập (1376 người ).
Tiểu kết chương I
Đồng Hỷ là huyện thuộc trung du miền núi phía Bắc, nơi có điều kiện tự
nhiên khá thuận lợi để phát triển hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển một
được nhân dân nơi đây chú trọng.
2.2.1.1. Nguồn thức ăn khai thác trong tự nhiên.
Để bổ sung cho nguồn thức ăn hàng ngày thì người Sán Dìu cũng biết tận
dụng và khai thác nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên. Nguồn thức ăn này khá
phong phú tùy theo từng mùa, mỗi mùa lại có những loại rau, củ, quả khác nhau,
cách chế biến khác nhau, tạo nên những món ăn lạ, ngon và hấp dẫn.
Các loại rau củ thường được người dân hái như: củ mài, củ nâu, nấm, măng,
trám đen, trám trắng, mác mật, rau ngót rừng… đã tạo nên những món ăn ngon lạ
miệng trong khẩu phần ăn uống hàng ngày. Bên cạnh những hoạt động hái lượm thì
người đàn ông Sán Dìu cũng thường xuyên săn bắt muông thú, đánh bắt tôm cá ở
các mon sông, suối… được diễn ra quanh năm. Ngay cả hiện nay khi trồng trọt và
chăn nuôi phát triền thì việc tìm kiếm và tận dụng nguồn thức ăn thủy sản này cũng
không hề bị mất đi.
Như vậy những loại rau, củ, quả, động vật hoang dã và thủy sản
không chỉ góp phần làm cho nguồn thức ăn hàng ngày của người dân tộc Sán Dìu
được phong phú hơn mà còn phản ánh được mối quan hệ mật thiết của cư dân Sán
Dìu với môi trường tự nhiên trong việc tìm kiếm thức ăn. Ngày nay tuy những hoạt
động săn bắt, hái lượm đã giảm đi so với trước kia nhưng đâu đó nó vẫn hiện diện
trong cuộc sống hàng ngày của người dân tộc Sán Dìu ở nơi đây.
2.2.1.2. Nguồn thức ăn từ trồng trọt và chăn nuôi.
Cũng như cộng đồng các dân tộc anh em khác, người Sán Dìu cũng sử
dụng cây lúa là cây lương thực chính. Các giống lúa được người Sán Dìu ở nơi đây
trồng phổ biến như: cháo vô (sớm câu), ba giăng vô, tám thơm vô (tám thơm), tám
lùn vô (tám lùn), nếp hoa vàng, thai nô (nếp cái), nếp đen, nếp trắng…
Ngoài cây lúa người Sán Dìu còn trồng các loại cây lương thực khác
như: ngô, các loại khoai, sắn, củ từ… sản phẩm của các loại cây này được sử dụng
để làm thức ăn độn trong những ngày giáp hạt, những năm thiếu đói và để chăn
nuôi gia súc, gia cầm.
chứ không phải vì đói mà ăn cháo hoặc thay cơm. Trên bếp của mỗi nhà thường
xuyên có một nồi cháo loãng. Nước cháo cũng được coi như một thứ nước giải khát
của dân tộc Sán Dìu.
Trong ngày thường người Sán Dìu ăn ba bữa, hai bữa chính (trưa từ 11h 12h, chiều từ 18h - 19h) và một bữa phụ sáng. Bữa sáng thường ăn khoai, sắn hoặc
cháo loãng, bữa trưa và bữa chiều có cơm, cháo, rau, cà, tương… Thức ăn hàng
ngày của người Sán Dìu rất đạm bạc, món ăn chủ yếu vẫn là rau xanh, củ luộc hay
xào mỡ. Tùy từng mùa, mỗi mùa lại có những món rau ,củ riêng, vào mùa hè người
ta sử dụng nhiều loại rau như: mồng tơi, rau đay, mướp, rền, rau muống… Thu
đông có các loại rau cải, xà lách, xu hào… Ngoài ra để bổ trợ cho các loại rau ở
vườn nhà là vô số các loại rau hoang dại như: rau bợ, măng,… Mùa hè thời tiết
nóng bức người ta thường luộc hoặc nấu canh ăn lẫn với cà muối và chấm tương.
Mùa đông thời tiết lạnh nhu cầu của các món rán, rang, xào tăng. Các gia vị cay,
nóng của gừng, ớt…được sử dụng nhiều hơn. Trong khẩu phần ăn uống của người
Sán Dìu thức ăn từ nguồn động vật như: thịt, cá cũng có nhưng không phải là
thường xuyên.
Phương thức chế biến món ăn của người Sán Dìu chủ yếu là chế biến qua
lửa, không qua lửa. Nhưng thực tế đi sâu vào tìm hiểu ta sẽ thấy được sự khác
nhau, nét độc đáo và sáng tạo trong cách chế biến món ăn cũng như khẩu vị mang
nét đặc trưng của dân tộc mình.
Các món ăn được chế biến qua lửa: các món nướng (các loại thịt nướng, cá
nướng…), vùi (ngô, khoai, củ từ…), rán (khoai, thịt, nem…), xào, rang (thịt lơn,
thịt gà, rau…).
Các món được chế biến không qua lửa như: sang hoét (tiết sống), làm gỏi,
làm mẻ, làm chua, nôm, muối sổi…
Cách chế biến một số món ăn hàng ngày và truyền thống của người Sán Dìu
như:
• Cháo loãng: Thông thường đồng bào ăn cháo trong tất cả các bữa ăn,
uống cháo loãng như một thứ nước như giải khát làm mát cơ thể sau
rau thơm như: húng chó, mùi tàu, tía tô… Ngày nay món cá gỏi ít
được dùng bởi bà con ý thức được rằng ăn gỏi (ăn sống) là không
đảm bảo vệ sinh.
• Các loại dưa chua: Cải bẹ, cải bắp, là sắn, hành, cà… tất cả rửa sạch,
bỏ rễ, bỏ lá (nếu là hành), thái nhỏ (nếu là cải bẹ, cải bắp), bỏ cuống
(nếu là cà bát, cà pháo), cho vào vại, thêm muối trắng, nước lã đổ
vừa ngập, dùng tấm phên nén xuống sau đó trẹn hòn đá cuội trên mặt
rồi đậy kín, sau vài ngày là ăn được.
• Tiết canh (thuân): Phổ biến nhất là tiết canh lợn. Khi chọc tiết lợn,
họ hứng lấy tiết vào một chiếc bát to có pha sẵn tỷ lệ muối, khuấy
đều liên tục theo một chiều cho đến khi tiết nguội để khỏi đông lại.
Nhân tiết canh chủ yếu được làm từ xương sườn, cuống họng, phổi
băm, cơ hoành đem luộc hoặc thui qua lửa băm nhỏ, rang vàng. Khi
hãm người ta cho nhân vảo bát con sau đó múc tiết chế nước sôi để
nguội đánh đều đổ vào bát nhân sao cho khi thêm tiết vào sẽ đầy bát.
Ngoài tiết canh lợn, người Sán Dìu còn đánh tiết canh gà, vịt, ngan,
nhân thường là cổ cánh băm nhỏ, rang vàng. Cách chế biến như tiết
canh lợn.
• Cơm lam (chôc thòng phan): Lam là một động từ chỉ việc nướng
chín thức ăn trong ống nứa tươi. Vì vậy khi đi rừng, đi săn, làm
nương xa trong điều kiện không có dụng cụ nấu ăn, người Sán Dìu
không chỉ nấu cơm lam mà còn có thịt lam, cá lam, bí lam… Ống
nứa được chọn làm cơm lam thường là nứa phấn hoặc tre bánh tẻ
tươi để khi lam thì chỉ cháy ở phần ngoài và nước ngọt thấm vào
thức ăn, khi lam cơm người ta nướng phần ống có nút lá trước, vừa
nướng vừa xoay đến cuối ống cho cơm chín đều.
• Món canh hoa chuối (cheo lúi cang): Hoa chuối thái ngang, nhỏ, bóp
muối cho bớt vị chát, cho vào chảo mỡ đảo đều, thêm nước đun đến
thịt ba chỉ bỏ bì thái mỏng, băm nhỏ, ướp rượu, muối, gừng vừa đủ, cho thêm hồ
tiêu rồi nhồi chặt vào lòng non. Sau đó cho lên xào, ngày thì phơi nắng, tối thì sấy
trên gác bếp cho tới khi bì lạp xường khô mọng, trong suốt, nhìn thấy thịt đỏ au là
có thể ăn được. Thông thường lạp xường được rán hoặc hấp trước khi ăn, nhưng
cũng có thể đem thái mỏng ăn ngay. Lạp xường của người Sán Dìu có màu hồng,
dậy mùi thơm của rượu, vị cay của hồ tiêu và vị ngon của thịt ướp.
Khau Nhục: Được chế biến từ thịt lợn ba chỉ nhưng khau nhục (nhiều nơi
gọi là khao nhục) lại khiến người ăn không thấy ngấy, mỡ mà lại có mùi vị rất độc
đáo, bổ dưỡng... Khau nhục là một món ăn tiếp nhận kỹ thuật của người Hoa, chế
biến rất công phu, tuân theo quy trình, bí quyết riêng. Từ lâu, món ăn đã trở thành
một món đặc sản dùng trong cỗ bàn sang trọng, tiếp đón khách quý hoặc mỗi dịp lễ
Tết của người dân tộc Sán Dìu..
Các món ăn trong ngày lễ tết không thể thiếu các loại bánh:
Bánh chưng: Là loại bánh không thể thiếu trong dịp tết Nguyên Đán, với
người Sán Dìu ngoài tết Nguyên Đán họ còn làm trong dịp tết mồng năm tháng
năm, tết Thanh Minh. Bánh chưng của dân tộc Sán Dìu được gói giống như hình
trụ tròn, mỗi đầu bánh được gấp thành ba góc, buộc cuốn lạt giang tước mỏng từ
hai đầu góc giữa, đây cũng là một đặc điểm khác so với bánh chưng vuông hoặc trụ
tròn của dân tộc kinh. Bánh có nhân thịt mỡ và đỗ xanh. Nguyên liệu gồm có gạo
nếp loại ngon, đỗ xanh, thịt mỡ khổ, muối, lá dong, lá chíp, lạt giang. Gạo nếp giã
trắng, ngâm khoảng mười giờ liên tục, đãi sạch để dáo nước; đỗ xanh vỡ đôi, ngâm
nước làm tróc vỏ, đãi sạch, trộn muối trắng; thịt mỡ khổ thái chỉ bằng ngón tay út,
ướp muôi; lá dong được rửa sạch; lạt bánh là lạt giang. Bánh chưng được gói theo
thứ tự, lá dong loại to thì đặt một tàu, lá nhỏ thì đặt hai tàu, tiếp là chip xếp xen
vào, sau đó múc một bát rưỡi gạo dải một lượt theo chiều dài của lá, dải đỗ, đặt thỏi
thịt vào giữa theo chiều dài của bánh, phủ tiếp lượt đỗ lên láp kín thịt, rồi dải tiếp
một bát rưỡi gạo để lấp kín đỗ, sau đó gói thành hình trụ tròn dài như chiếc bánh
oản (có nơi gọi là xôi oản) được sử dụng làm vật phẩm cúng bái, trong các đám: ký
yên, dâng sao giải hạn, cấp sắc, ma chay…
Bánh dầy: của người Sán Dìu được làm từ gạo nếp nguyên chất giã bằng
cối đá. Trước khi giã bánh dày người ta thái chuối giã nhiều lần cho sạch lòng cối.
Sau đó, xôi trong chõ được xúc đổ vào cối, phải hai đến ba người cùng nhau giã,
khi giã nhuyễn người ta dùng mỡ gà hoặc mỡ lợn hơ nóng xoa tay vào chày để
chống dính. Bánh dầy của người Sán Dìu thường nhồi nhân đỗ xanh trộn đường
phên, hay nhân đỗ xanh xào mỡ. Bánh có hình tròn dẹt. Người Sán Dìu, lót lá chuối
vào mẹt, dần sang, rồi xếp từng lượt bánh vào. Mùa giã bánh dầy của người Sán
Dìu khoảng tháng 10 âm lịch, sau vụ thu hoạch lúa nếp mới.
Bánh chay (bánh chấy): Cách chế biến như bánh trôi, bột nếp sống nhào
nước lăn thành quả bột, cắt từng cục bột vê tròn dài bằng ngón tay cái, sau đó cắt
từng chiếc to bằng đầu ngón tay, dung hai lòng bàn tay lăn thành những miếng
bánh hình tròn để xuống nia. Sau đó, thả tất cả bánh vào nồi nước đang sôi đến khi
bánh chín, nổi trên mặt nước thì vớt ra bát rồi cho đường phên thái vụn hoặc đường
hoa mai, rồi lấy chính nước luộc bánh đó chan. Loại bánh này ít làm trong các ngày
thường để ăn mà chỉ làm khi cũng tổ tiên.
2.2.4. Gia vị, nước chấm.
Gia vị thường được người dân tộc Sán Dìu sử dụng trong bữa ăn như: vị chua,
cay, mặn, ngọt… Song song với nó là các loại rau gia vị thông dụng như: sông
(hành), hẹ, slọn thoi (tỏi), tía tô, lat chấy (ớt), rau răm, mùi tàu, koong (nghệ), lạt
koong (gừng), koong thòi (riềng)…
Tương là nước chấm thông dụng nhất của người Sán Dìu , và trong mỗi gia đình
hầu như không thể thiếu được chum tương.
2.2.5. Cách bảo quản thực phẩm truyền thống.
Trong ngày lễ tết số lượng thịt có nhiều hoặc những khi săn bắn, hái lượm dư
thừa, người Sán Dìu đã dùng nhiều cách bảo quản nguồn thực phẩm để ăn dần. Có
những cách bảo quản phổ biến như: Slại chao (làm khô) Dẹp phi nhộc (muối thịt
nhiên khá thuận lợi cho sinh hoạt sản xuất nông nghiệp. Trong huyện có nhiều
thành phần dân tộc sống xen cư tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc có thể học
hỏi các kinh nghiệm trong sản xuất kinh tế, trong văn hóa tinh thần từ đó làm
phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc.
Công cụ làm đất:
Cày : Người sán dìu có cày chìa vôi.
Bừa : có 3 loại bừa : bừa một ( tan phá) , bừa đôi ( sông phá), bừa bàn.
Cào bàn( thui pha) là một cong cụ rất tiện dụng trong việc vun trồng.
Để cắt, gặt lúa người Sán Dìu có vằng và hái ( vô lem) gần đây có thêm
liềm.
Công cụ làm cỏ và thu hoạch:
Đối với việc làm cỏ, vun gốc cho cây trồng và các loại hoa màu (ngô, khoai,
sắn, đậu...) được người Sán Dìu rất chú trọng, công cụ họ thường sử dụng để là cỏ
và vun gốc là cái cào hay liềm.
Cái cào: được người dân tự chế làm bằng gỗ có khoảng từ 4- 5 răng cưa. Chiếc
cào làm cỏ của người Sán Dìu gần giống như chiếc nạo cỏ của người kinh bây giờ
nhưng có kích thước nhỏ hơn.
Cái liềm: Phần lớn là dùng liềm lưỡi thẳng, một số ít biết sử dụng liềm lưỡi
cong. Lưỡi được cấu tạo bằng sắt có tra cán gỗ hoặc tre.
Công cụ chặt phát:
Người Sán Dìu ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên thường sử dụng dao khi đi lên rừng
để chặt phá cây, làm nương rẫy, khai hoang trồng các loại cây lương thực...
Dao được làm bằng sắt, cán dao được làm bằng gỗ, tre…
Công cụ gieo hạt:
Gậy chọc lỗ: Cũng như các dân tộc thiểu số khác, người Sán Dìu xưa khi làm
nương rẫy đã sử dụng gậy chọc lỗ làm công cụ để gieo trồng, đặc biệt là trồng lúa
nương, ngô... Gậy chọc lỗ được người Sán Dìu gọi là “cụn”: được làm bằng gỗ,
có. Gầu được phân ra làm hai loại là: gầu đôi và gầu đơn.
Gầu đôi được đang bằng tre, nứa và mây. Gầu có miệng loe, đáy bẹp và có
bốn chiếc thừng nối vào miệng và đáy ở hai phía. Khi tát nước, hai người
đứng bên. Mỗi người nắm một phía thừng, điều khiển chúng nhịp nhàng, lúc
khom người thả dây chùng để miệng gầu vục xuống một phía múc nước, lúc choãi
người ra sau, căng dây, nâng gầu lên, rồi hất dây ở đáy gầu để đổ nước sang phía
kia. Ngày xưa, gầu đan xong được gác lên gác bếp bắt bồ hóng cho bền,
cho khỏi mối mọt nên gầu thường có màu nâu sậm. Ngày nay, sau khi gác lên gác
bếp, còn có thể dùng sơn phủ lên cho bền và đẹp hơn. Dây gầu có thể là dây thừng
hay dây ni-lon. Do có hai đôi dây rất dài, gầu đôi có thể vục nước ở nơi sâu để đổ
lêncácruộngcao.
Gầu đơn cũng được đang bằng tre hay nứa, và có dạng chiếc máng đựng nước.
Máng này được gắn với một cán cầm bằng tre. Gầu và cán được một sợi dây thừng
treo trên một cái đế 3 chân cũng bằng tre. Khi tát nước, chỉ cần 1 người điều khiển
máng vục xuống múc nước ở một phía, rồi chao lên đổ nước sang phía bên kia. Gầu
đơn không thể đổ nước lên cao như gầu đôi.
2.3.2. Công cụ săn bắt và hái lượm.
Ngoài kinh tế sản xuất, kinh tế chiếm đoạt vẫn còn có vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế và sinh hoạt của người Sán Dìu. Mặc dù việc săn bắt, hái lượm là
công việc không thường xuyên nhưng đây cũng là biện pháp tích cực để bảo vệ gia
súc và mùa màng, đồng thời cũng là nguồn cung cấp thức ăn cho đời sống của
người dân nơi đây.
Để việc săn bắt, hái lượm đạt được kết quả thì gắn liền với nó là các công cụ hỗ
trợ như: súng kíp, lao... ngoài ra còn rất nhiều loại bẫy. Các công cụ này mang tính
chất thô sơ, tự chế, thường do những người đi săn bắt tự tạo trong quá trình săn bắt:
Nỏ: Loại đơn giản là một cánh cung nằm ngang trên một cái báng có rãnh. Cái
báng có thể làm bằng gỗ hay kim loại. Có một cơ chế máy móc đơn giản để khi nạp
mũi nỏ vào thì nó sẽ đứng yên tại vị trí ấy mà không cần giữ tay. Nỏ sẽ chỉ được
từ dây trần rất bền và dai ở dưới có khung tròn để néo các dây ở trên tạo thành cái
quang, đế tròn ở dưới được làm bằng dây khúc khắc vì loại dây này cũng rất bền và
dai. Quang có độ dài từ 80 – 100 cm. Ngoài đôi quang ra phải có đòn gánh, đòn
gánh được làm bằng tre, người ta thường chọn cây tre bánh tẻ vì khi đó tre có độ
bền và dẻo thích hợp cho viêc sử dụng. Tre được lấy từ rừng về trẻ đôi, gọt vót
khéo léo và uốn vào cây cho thẳng. Quang Gánh là công cụ được sử dụng khá phổ
biến đặc biệt là các chị, các mẹ. Đến giờ vẫn được sử dụng nhưng đã được thay đổi
đi nhiều.
Đòn sóc: cũng là một công cụ để vận chuyển thóc lúa, củi... của người dân Sán
Dìu. Đòn sóc được làm bằng gỗ, tre vót nhọn hai đầu, chiều dài khoảng từ 1m50 –
2m dùng để vận chuyển trực tiếp sản phẩm…
2.3.4. Phương tiện truyền thông âm thanh
Trống, Kẻng: Họ đã quen với những hình ảnh chiếc trống hay kẻng đặt ở
đầu làng hoặc nhà trưởng thôn, những tiếng trông dồn dập mỗi khi trong làng có
chuyện vui, buồn, cưới xin, tang ma, trong làng có cướp… nó như một nét văn hóa
độc đáo mà chúng ta dễ dàng có thể nhìn thấy ở các làng bản của các dân tộc khác.
Ngoài phương tiện báo hiệu người Sán Dìu còn có các phương tiện của thầy
cúng khi hành lễ gắn với đời sống văn hóa tinh thần của họ.
Não Bạt ( xẩm xuê ): Não bạt là một nhạc cụ của dân tộc thuộc bộ gõ. Được
làm bằng đồng thau, hình tròn. Kích thước: rộng 25 cm, nặng 0,5 kg/1 chiếc.
Sỏng Sảnh ( léng tao ): được làm bằng sắt gồm một tay cầm và một vòng
tròn chứa các đồng xu ở xung quanh. Có mười đồng xu được xâu quanh vòng tròn
ấy.
Tù Và :Được làm từ sừng trâu, sừng bò, ngà voi.Tù Và ngoài là dụng cụ để
báo hiệu ở làng quê, vùng nông thôn thì còn là một công cụ của thầy cúng khi hành
nghề.
Ngoài những công cụ này thầy cúng mỗi khi hành lễ phải mặc áo dài riêng .
Tiểu kết chương I
súp lơ, xà lách, khoai tây được đưa vào gieo cấy đại trà. Những giống lúa xưa như:
ba giăng, lúa sớm, lúa câu…được đồng bào cấy trồng từ lâu đến nay không còn
nữa, nguyên nhân là do năng suất kém.
3.1.2. Sự thay đổi trong cách chế biến món ăn.
Về cơ bản người Sán Dìu vẫn duy trì nhiều món ăn riêng biệt, độc đáo, đặc
biệt là món cháo loãng, nem chua… Song chúng ta thấy xuất hiện nhiều món ăn
mới trong bữa ăn ngày thường, ngày lễ tết hay dịp đình đám như: giò chả, thịt bò
hun khói… Những ứng xử trong ăn uống, những hủ tục trong đám cưới, đám ma đã
bị hủy bỏ. Việc cưới, việc tang, lễ hội được tỏ chức theo nếp sống mới tiết kiệm và
nghiêm trang.
3.2. Hệ thống công cụ mưu sinh.
Ngày xưa nếu như những chiếc xe Quyệt, những chiếc cào ba răng… là
những công cụ không thể thiếu trong hoạt động kinh tế nông nghiệp cũng như
trong sinh hoạt đời sống hàng ngày thì ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ
thuật đã dần thay thế cho những công cụ lỗi thời. Theo dòng thời gian chiếc xe quệt
được thay thế bằng xe cải tiến và bây giờ là máy kéo. Cày bừa bằng trâu bò cũng
dần được thay thế bằng máy cày. Một số công cụ mưu sinh khác như dao của người
Kinh… được sử dụng phổ biến. Những cái hái, thui pha, nạo cỏ đã không còn được
sử dụng mà thay vào đó là những chiếc liềm, máy gặt… Nhờ chính sách của Đảng
và nhà nước thì hệ thống thủy lợi cũng được hiện đại hóa.
3.3. Nguyên nhân của sự biến đổi trên
3.3.1. Sự ra đời của một số chính sách.
Một số chương trình, mục tiêu, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa của
Đảng và nhà nước đã tạo những bước phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa – xã
hội ở vùng nông thôn, miền núi và vùng dân tộc. Trong đó, các chính sách tác động
mạnh nhất là sự ra đời của: hợp tác xã nông nghiệp với quy mô rộng lớn từ bậc
thấp đến bậc cao; huy động một bộ phận dân cư miền xuôi, vùng đồng bằng lên
trung du, miền núi khai hoang phát triển kinh tế - văn hóa; chính sách đất đai;
cách thức ăn uống riêng, sở trường riêng, khẩu vị riêng. Những yếu tố đó tạo nên
những đặc trưng khác biệt giữa các nhóm tộc người và góp phần tạo nên bản sắc
văn hóa riêng của mỗi dân tộc. Vì vậy việc duy trì, bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa ẩm thực là rất cần thiết, nhất là trong thời kỳ mở của, giao lưu và hội nhập
hiện nay.
Cũng như những hoạt động văn hóa khác, sinh hoạt ăn uống truyền thống
của mọi dân tộc đều chứa đựng cái tích cực và cái tiêu cực, lạc hậu cổ hủ. Đó là
tính tất yếu của sự phát triển. Đương nhiên trong thời đại mới, muốn duy trì những
gì thuộc về thời đã qua thì người ta phải xem xét, chắt lọc lấy những cái hay, cái
tích cực. Đây là vấn đề rất phức tạp, cần phải có những con người, những tổ chức
hay những cơ quan chuyên môn nhìn nhận và đánh giá.
Việc bảo tồn văn hóa truyền thồng nói chung và bảo tồn văn hóa ẩm thực
nói riêng là trách nhiệm của các tổ chức, các cơ quan chức năng. Song sẽ không
thành công nếu việc làm đó không được nhân dân ủng hộ. Vì thế công việc của một
bộ phận các tổ chức, các cơ quan chức năng này phải tuyên truyền, giáo dục văn
hóa truyền thống cho cộng đồng, tạo nên ý thức giữ gìn di sản văn hóa cho mỗi
người. Từ đó người dân tự thấy việc bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống là
trách nhiệm của mình và tự nguyện duy trì và phát huy trong đời sống hàng ngày.
Ngày nay cùng với sự nhập ngoại ồ ạt của các loại văn hóa, thì vấn đề ăn
uống từ đồ ăn đến cách ăn đã “tây hóa” và “kinh hóa”. Ở thành thị, những món ăn
như bơ, sữa, lạp xường, xúc xích, bánh tây, kẹo tây, rượu tây đến cách dung thìa,
dùng dao đĩa… đã trở thành sinh hoạt ăn uống hàng ngày trong các gia đình. Họ đã
lãng quên dần những món ăn của dân tộc, đến chiếc đũa cả để xới cơm, ống tăm
tre, chiếc rế nồi nấu cơm…
Thế nhưng hiện nay ở các vùng nông thôn , vùng trung du miền núi thì văn
hóa truyền thống còn tồn tại khá bền vững, có lẽ đây là một trong những môi
trường tốt cho việc giáo dục ý thức, gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống trong
nhân dân được thông qua các cuộc thi “làng vui chơi, làng ca hát” như thi giã gạo,
KẾT LUẬN
Có thể nói văn hóa vật chất của người Sán Dìu đặc biệt là văn hóa ẩm thực là
một nét độc đáo trong văn hóa Việt Nam. Mặc dù theo thời gian có nhiều yếu tố
biến đổi nhưng nó vẫn khẳng định bản sắc của mình không lẫn với bất cứ một dân
tộc nào
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kĩ thuật mà đời sống của nhân dân
cũng thay đổi theo hướng tích cực, những công cụ sản xuất tiên tiến đã dần thay thế
cho những công cụ lạc hậu thô sơ. Bên cạnh đó nền kinh tế tự cung tự cấp dần được
phá vỡ thay vào đó là nên kinh tế hàng hóa, giao lưu bên ngoài.