Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
MỤC LỤC
Trang
Mục lục………………………………………………………………………. 1
Lời nói đầu…………………………………………………………………....3
CHƯƠNG 1: LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG……………………………………………………..…….4
1.1. Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp ………...4
1.1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường………………………………. 4
1.1.2 Lợi nhuận của doanh gnhiệp ………………………………………………..7
1.2 Xác định lợi nhuận của doanh nghiệp………………………………13
1.2.1 Các yếu tố cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp………………..……13
1.2.2 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp………………..….14
1.2.3 Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp…………………………………..….23
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp……………...29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI PHÚ ĐỨC…………………………………….………….34
2.1 Tổng quan về công ty TNHH thương mại Phú Đức………...………..34
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH thương
mại Phú Đức………………………………………………………..…………34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty……………………….…………………………34
2.1.3 Đặc điểm công ty…………………………………………..…………………36
2.2 Thực trạng lợi nhuận của công ty TNHH thương mại Phú Đức…....37
2.2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh……………………………………..…...37
2.2.2 Tình hình tài chính trong công ty TNHH thương mại Phú Đức….…….37
2.2.3 Tình hình thực hiện nghĩa vụ ngân sách Nhà nước năm 2008….……...49
2.3 Nhận xét về lợi nhuận của công ty TNHH thương mại Phú Đức…....52
2.3.1 Kết quả đạt được……………………………………….…………………….52
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân…………………………………………………….53
2.3.2.1 Hạn chế ………………………………………………..…………………...53
Bài viết này gồm ba phần chính:
Chương 1:
Lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương2:
Thực trạng về lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
TNHH Thương mại Phú Đức
Chương 3:
Giải pháp làm tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Công ty
TNHH thương mại Phú Đức
- 3-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
CHƯƠNG 1:
LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1.1. Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp.
Từ những năm 90 trở lại đây, có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác
nhau ra đời, do cơ chế luật pháp thông thoáng, tư duy con người thay đổi và
phát triển. Vậy doanh nghiệp là gì? Nó có phải đơn thuần chỉ là một cửa hàng
buôn bán lặt vặt ngoài phố, hay những nhà xưởng sản xuất xe đạp Thống nhất,
những bao phân lân để rồi khi không có tiền thì lấy chính sản phẩm đó trả thay
tiền lương?
Chúng ta sẽ đi tìm hiểu xem doanh nghiệp sẽ được hiểu như thế nào là
đúng nghĩa nhất.
1.1.1. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Theo “Luật Doanh nghiệp” ban hành ngày 12/6/1999 thì :
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện hoạt động kinh doanh”. Hoạt động kinh doanh ở đây được hiểu
hình doanh nghiệp rất phổ biến hiện nay ở Việt Nam. Ngoài ra còn có các mô
hình kinh doanh khác như: Công ty hợp doanh, hộ gia đình, ….
Ngoài việc phân chia theo hình thức góp vốn, ta có thể phân loại doanh
nghiệp theo chủ thể kinh doanh:
Kinh doanh cá thể (Sole Proprietorship), kinh doanh góp vốn
(Parnership), công ty (Corporation).
Kinh doanh cá thể là loại hình thành lập đơn giản nhất, không cần có
điều lệ chính thưc và ít chịu sự quản lý của Nhà nước. Loại hình kinh doanh
này không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp mà tất cả lợi nhuận được tính
vào thu nhập cá nhân. Đây là loại hình doanh nghiệp này không có tư cách
pháp nhân, chủ doanh nghiệp phải chịu tránh nhiệm vô hạn đối với các nghĩa
vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của
doanh nghiệp. Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào
người chủ sở hữu doanh nghiệp. Khả năng thu hút vốn của loại hinh doanh
nghiệp này bị hạn chế bởi nó phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng của người chủ
sở hữu.
Kinh doanh góp vốn là loại hình doanh nghiệp rất phát triển ở nước ta
hiện nay,do việc thành lập doanh nghiệp này hết sưc dễ dàng với chi phí thấp,
một số trường hợp cần giấy phép kinh doanh. Các thành viên chính thức có
trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ. Nếu như một thành viên không hoàn
thành trách nhiệm của mình thì phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn
trả. Tuổi thọ của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào các thành viên chính
- 5-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
thức, doanh nghiệp sẽ tan vỡ nếu một thành viên chết hoặc rút vốn. Việc huy
động vốn của loại hình doanh nghiệp này cũng phụ thuộc hoàn toàn vào khả
năng, uy tín của các thành viên chính thức, do vậy nó cũng khá hạn chế. Lãi
thu được từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập
cá nhân.
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
nhiêu là tuỳ thích. Bởi chúng chịu sự tác động của cơ chế quản lý của Nhà
nước.
Một số yếu tố nữa mà doanh nghiệp ngày càng thực sự phải đối đầu, đố
là sự thay đổi của khoa học công nghệ. Sự thay đổi khoa học công nghệ diễn
ra từng ngày, từng tháng đã mang lại rất nhiều thay đổi trong phương thức sản
xuất, tạo ra nhiều kỹ thuật mới dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài
chính của doanh nghiệp, bởi nó không chỉ đem lại những cơ may mà còn đem
đến rất nhiều những rủi ro lớn. Vì vậy, nhà quản lý luôn phải đối đầu với
những rủi ro có thể xảy ra, để có thể ứng phó kịp thời, đúng đắn. Doanh
nghiệp với sức ép từ phía thị trường, từ sự thay đổi tư duy con người, đã
chuyển dần từ phương thức sản xuất kinh doanh cổ điển là chỉ quan tâm đến
cái mà mình sản xuất, chuyển sang việc quan tâm cái mà thị trường cần. Việc
tính đến sự tác động của môi trường , sự thay đổi không ngừng trong cung
cách làm ăn của doanh nghiệp là để đạt được mục tiêu sự phát triển bền vững –
tối đa hoá lợi nhuận.
Nếu xa rời mục tiêu này, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại lâu được.
Việc tìm hiểu chỉ tiêu này, sẽ thấy được tầm quan trọng của nó.
1.1.2. Lợi nhuận của doanh nghiệp
* Khái niệm và nguồn gốc của lợi nhuận
Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu để đánh giá sự làm ăn có hiệu quả
hay không của doanh nghiệp.
Sự thay đổi liên tục trong phương thức sản xuất kinh doanh, những
chiến lược mới trong phương thức quản lý. Mục tiêu của nó là để cho doanh
nghiệp có thể tồn tại bền vững và từ đó là đem lại nhiều lợi nhuận hơn nữa.
Lợi nhuận : Chỉ tiêu mà mọi thời kỳ kinh tế, mọi thành phần kinh tế đều
quan tâm và lấy đó làm đích để hướng tới, từ đây cũng nảy sinh rất nhiều
những quan điểm khác nhau về lợi nhuận
- Các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Mark cho rằng, “cái phần trội lên
nằm trong giá bán so với chi phí là lợi nhuận”. Theo Adam Smith lợi nhuận là
tiền lương, lợi nhuận cũng như địa tô”
Từ hai quan điểm được phát biểu trên, chúng ta thấy rằng cả Adam
Smith và Ricardo đều đã lẫn lộn giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận.
Với tư duy duy vật biện chứng, K.Mard đã xây dựng thành công lý luận
về hàng hoá sức lao động_cơ sở để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, đi
đến kết luận:” Giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản
ứng trước, mang hình thái biến tướng là lợi nhuận”
- Kinh tế học hiện đại dựa trên quan điểm của các trường phái và sự
phân tích thực tế thì kết luận lợi nhuận của doanh nghiệp gồm: Thu nhập từ
- 8-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
các nguồn lực mà doanh nghiệp đã đầu tư trong kinh doanh, phần thưởng cho
sự mạo hiểm, sáng tạo đổi mới trong doanh nghiệp và thu nhập độc quyền.
Việc hiểu rõ bản chất của lợi nhuận là điều hết sức cần thiết, đặc biệt là
với các nhà quản trị doanh nghiệp , để từ đó họ có thể đánh giá hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp một cách hợp lý, đúng đắn, từ đó có thể đưa ra các
biện pháp khác nhau làm tăng cao lợi nhuận.
Phân phối lợi nhuận: Quá trình sản xuất , kinh doanh là quá trình tuần
hoàn liên tục, chu kỳ này nối tiếp chu kỳ khác. Để có thể tiếp tục vòng quay
này phải có vốn đầu tư vào, điều này không thể mãi đòi hỏi từ chủ sở hữu bởi
không ai có một nguồn lực vô hạn như vậy. Để có thể tái mở rộng sản xuất, lợi
nhuận chính là nguồn lực cần thiết và cần phải có. Người ta sẽ phân chia
khoản lợi nhuận đó như thế nào? Giữ lại toàn bộ để tiêu dùng? Đầu tư toàn
bộ vào tái sản xuất hay có những phương thức nào khác? Điều này hoàn toàn
phụ thuộc vào người chủ doanh nghiệp. Nhưng hiện nay có một phương pháp
chung mà các doanh nghiệp hay áp dụng để phân phối lợi nhuận.
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp một phần dùng để chia lãi cổ
phần, còn lãi là lợi nhuận không chia. Tỷ lệ phần lợi nhuận chia lãi và không
chia tuỳ thuộc vào chính sách của Nhà nước (Đối với doanh nghiệp Nhà nước)
đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người lao động do thay đổi công nghệ hay
chuyển sang công việc mới.
Trợ cấp cho người lao động theo nguyên nhân khách quan như: lao
động dôi ra do thay đổi công nghệ, do liên doanh, do thay đổi tổ chức trong
khi chưa bố trí công việc khác hoặc chưa kịp giải quyết cho thôi việc.
Mức trợ cấp cho thời gian mất việc làm Giám đốc và Chủ tịch Công
đoàn xét cụ thể theo pháp luật hiện hành.
+ Quỹ phúc lợi: Quỹ này dùng để xây dựng, sửa chữa, bổ xung các công
trìng phúc lợi chung trong nghành, hoặc với các đơn vị khác theo thoả thuận,
chi cho hoạt động phúc lợi xã hội, thể thao, văn hóa, phúc lợi công cộng của
toàn thể công nhân viên trong doanh nghiệp; đóng góp cho quỹ phũc lợi xã
hội( các hoạt động từ thiện, phúc lợi xã hội công cộng…);…
Ngoài ra, doanh nghiệp sử dụng quỹ này để chi trợ cấp khó khăn cho
người lao động của doanh nghiệp đã về hưu, mất sức hay lâm vào cảnh khó
khăn,không nơi nương tựa
Ngoài các loại quỹ trên người ta còn phân chi lợi nhuận để hình thành
nên quỹ khen thưởng.
+ Quỹ khen thưởng dùng để :
Thưởng cuối năm hoặc thường kỳ cho cán bộ công nhân viên trong
doanh nghiệp, mức thưởng do HĐQT, Giám đốc( nếu doanh nghiệp không có
HĐQT) quyết định sau khi có ý kiến tham gia của Công đoàn doanh nghiệp
trên cơ sở năng suất lao động, thành tích công tác và mức lương cơ bản của
mỗi cán bộ, CNV trong doanh nghiệp.
- 10-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
Thưởng đột xuất cho cá nhân, tập thể trong doanh nghiệp có sáng kiến
cải tiến kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh doanh.
Việc phân chia lợi nhuận ra thành các quỹ là việc làm cần thiết, nó có
thể giúp cho doanh nghiệp phản ứng một cách nhanh chóng đối với những rủi
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
chính để doanh nghiệp trang trải các khoản thua lỗ trước kia hay các khoản bị
phạt do chậm nộp thuế, do vi phạm hợp đồng.
Một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không đủ khả năng tái sản xuất giản
đơn( bù đắp hao phí trong quá trình sản xuất – kinh doanh) thì tình hình tài
chính của doanh nghiệp sẽ xấu đi và hạn chế dần khả năng thanh toán của
doanh nghiệp.
Ngược lại, doanh nghiệp làm ăn có lãi, thu được lợi nhuận cao thì không
những có khả năng thanh toán vững chắc mà còn có điều kiện không ngừng
đổi mới máy móc thiết bị, ứng dung khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất
kinh doanh giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường và có uy
tín.
* Đối với người lao động
Lợi nhuận là nguồn chính để doanh nghiệp trích lập quỹ: quỹ trợ cấp
mất việc làm, quỹ phúc lợi xã hội, quỹ khen thưởng, giải quyết nhu cầu xã hội
cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Nguồn để trích lập các quỹ
này càng lớn thì doanh nghiệp càng có điều kiện nâng cao tinh thần, vật chất
cho cán bộ công nhân viên, từ đó khích lệ họ hăng say trong công tác, nâng
cao tính chủ động, sáng tạo trong quá trình làm việc. Chính vì thế, việc sản
xuất có lãi ngày càng cao chẳng những là yêu cầu, là cơ sở của tái sản xuất mở
rộng mà còn là quyền lợi thiết thựccủa CBCNV trong doanh nghiệp.
Thực tế đã chứng minh: áp dụng tiền thưởng bằng lợi nhuận đã khuyến
khích công nhân hăng say lao động, giảm bớt ngày nghỉ việc , có trách nhiệm
đến cùng với sản phẩm, đặc biệt thúc đẩy năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật,
tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu để hạ giá thành sản phẩm.
* Đối với nền sản xuất xã hội.
Trước hết ta thấy, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước,
nhằm thoả mãn nhu cầu nền kinh tế quốc dân, là nguồn duy trì bộ máy hành
chính, là nguồn củng cố và tăng cường nguồn lực quốc phòng, cải tiến đời
1.2.1. Các yếu tố cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường năng động, để
tăng cường khả năng cạnh tranh, thu đựơc nhiều lợi nhuận, doanh nghiệp có
xu hướng đa dạng hoá hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình trên nhiều
lĩnh vực khác nhau. Do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ đơn thuần
thu được từ quá trình sản xuất – kinh doanh mà có thể còn thu đựơc từ kết quả
quá trình hoạt động tài chính hay là từ một hoạt động bất thường nào đó. Lợi
nhuận của doanh nghiệp là tổng hợp của các lợi nhuận đó.
Hoạt động kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ của các ngành sản xuất - kinh doanh chính và sản xuất – kinh
doanh phụ. Lợi nhuận thu được từ hoạt động trên gọi là lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất – kinh doanh.
- 13-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn
nhằm mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, kinh doanh
bất động sản, buôn bán ngoại tệ. Lãi thu được từ hoạt động trên gọi là lợi
nhuận thu đựơc từ hoạt động tài chính.
Những hoạt động trên đều đã được doanh nghiệp hoạch định từ trước,
có kế hoạch, có sự chuẩn bị các hoạt động theo ý muốn. Tuy nhiên, trong quá
trình hoạt động của doanh nghiệp, có rất nhiều hoạt động không được hoạch
định từ trước mà xảy ra bất ngờ như thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, giải
quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng kinh tế, xử lý tài sản thừa thiếu chưa rõ
nguyên nhân. Những hoạt động này cũng đem lại cho doanh nghiệp những
khoản thu nhập, khoản thu này sau khi đã trừ đi các chi phí cho những hoạt
động bất thường này gọi là lợi nhuận từ hoạt động bất thường.
Như vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất – kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt
nhập doanh
nghiệp
= -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
Trong phần nghiên cứu dưới đây, lợi nhuận đề cấp là lợi nhuận trước
thuế, gọi chung là lợi nhuận của doanh nghiệp. Như đã nói ở phần trên:
Trong đó:
Doanh thu từ hoạt động bất thường là khoản thu về việc thanh lý,
nhượng bán tài sản cố định, tiền thu từ vi phạm hợp đồng, thu các khoản nợ
khó đòi mà đã nghi là đã mất.
Chi phí hoạt động bất thường là những khoản chi như : chi phạt thuế, bị
phạt vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán tài sản cố định…
Thực ra đây là hợp đồng không thường xuyên và ít xảy ra trong doanh
nghiệp nên tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động này thường rất nhỏ và có thể dễ
dàng hoạch toán trong một chu kỳ kinh doanh.
Đối với những doanh nghiệp cho thuê tài chính, hay đối với các nhân hàng thì
lợi nhuận thu được từ hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn nhất. Doanh thu từ
hoạt đọng tài chính bao gồm: khoản thu từ việc mua bán trái phiếu, cổ phiếu,
thu nhập từ hoạt động liên doanh liên kết, thu nhập từ hoạt động cho thuê tài
sản, thu nhập từ hoạt động gửi tiền vào ngân hàng.
Chi phí cho hoạt động tài chính là các chi phí cho việc mua bán chứng
khoán, chi phí cho hoạt động liên doanh, hợp doanh, góp vốn cổ phần, chi phí
cho hoạt động thuê tài chính…
- 15-
Lợi nhuận
của doanh
nghiệp
=
Lợi nhuận
hoạt động kinh doanh sản phẩm dịch vụ kinh doanh
Tuy nhiên việc tính toán được doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phí
cho hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp rất khó thực hiện, việc tính toán
này chỉ mang tính tương đối.
Một sản phẩm được sản xuất ra, doanh nghiệp chưa thể coi là đã hoàn
thành công việc của mình, việc có bán được sản phẩm đó trên thị trường hay
không sẽ quyết định thắng lợi của doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp coi là hoạt động xuất bán sản phẩm. Cho đơn vị mua để nhận được số
tiền về sản phẩm đó. Quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được coi là
hoàn thành khi doanh nghiệp được chấp nhận trả tiền của bên mua hàng. Việc
hoàn thành quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng có nghĩa là doanh nghiệp có
doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Doanh thu của doanh nghiệp là số tiền mà khách
hàng chấp nhận trả. Tuy nhiên khi khách hàng chấp nhận trả tiền , thì khoản
tiền đó cúng chưa chắc chắn được coi hoàn toàn là doanh thu của doanh
nghiệp, đôi khi hàng hoá có thể bị trả lại do kém chất lượng, hay do một vài lý
do nào đó, khách hàng trả lại hàng , vì vậy doanh nghiệp phải giám giá hàng
bán, hoặc khấu cho khách.
Do vậy trong nghị định 59 CP có quy định : “ Doanh thu từ hoạt động
kinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thị
trường sau khi đã trừ đi khác khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán,
hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ), thu từ phần trợ giá của Nhà nước
khi thực hiện việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ theo yêu cuầ của Nhà nước”.
- 16-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
Các sản phẩm , hàng hoá, dịch vụ đem tặng, biếu, cho hoặc tiêu dùng
ngay trong nội bộ doanh nghiệp cũng phải được hạch toán để xác định doanh
thu.
Thời điểm để xác định doanh thu là khi người mua hàng đã chấp nhận
thanh toán, không phụ thuộc đã thu hay chưa. ở đây chiết khấu bán hàng là số
Tổng
doanh thu
-
Chiết khấu
bán hàng
-
Giảm giá
h ng bánà
-
Hàng bán
bị trả lại
-
Giảm giá
hàng bán
-
Thuế gián
thu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
- Thuế gián thu là khoản thuế thu hộ cho Nhà nước như Thuế TTĐB,
VAT…
Việc tính toán doanh thu cho hoạt động sản xuất kinh doanh tuy đã rất
phức tạp nhưng việc tính toán chí phí còn khó khăn hơn. Chi phí hiểu theo
nghĩa chung nhất là tất cả những gì làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Người ta có rất nhiều cách tiếp cận chi phí khác nhau,và từ đó cách phân loại
khoản chi của doanh nghiệp cũng khác nhau. Có thể phân loại chi phí thành
chi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ sản phẩm. Chi phí cho hoạt động sản xuất
thì chỉ có ở những doanh nghiệp sản, và nó thường chiếm một tỷ trọng lớn
nhất trong tổng các khoản chi phí của doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,
Để quản lý tốt chi phí, ngoài phân loại chi phí, các doanh nghiệp cần
phải xem xét cơ cấu chi phí sản xuất để định hướng thay đổi tỷ trọng mỗi loại
chi phí sản xuất.
Cơ cấu chi phí sản xuất là tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng số
chi phí sản xuất. Các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngành
khác nhau có chi phí sản xuất khác nhau. Cơ cấu chi phí sản xuất chịu tác
động của nhiều yếu tố như: loại hình và quy mô sản xuất của từng doanh
nghiệp, trình độ kỹ thuật, trang thiết bị, điều kiện tự nhiên, công tác tổ chức,
năng lức quản lý, trình độ tay nghề của công nhân...
Việc nhiên cứu cơ cấu chi phí có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó giúp
cho doanh nghiệp:
-Xác định tỷ trọng và xu hướng thay đổi của từng yếu tố chi phí sản xuất
-Kiểm tra gía thành sản phẩm và có biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
Đối với một doanh nghiệp sản xuất thì ngoài chi phí cho hoạt động sản
xuất ra các sản phẩm còn có:
Chi phí tiêu thụ sản phẩm
Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan trọng. Khối
lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ ảnh hưởng quyết định tới quy mô sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp
cũng phải bỏ các chi phí nhất định
Chi phí lưu thông sản phẩm bao gồm: Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản
phẩm; chi phí hỗ trợ Marketing và phát triển
Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm bao gồm: chi phí chọn lọc, đóng gói;
chi phí vận chuyển, bao bì, vận chuyển, bảo quản; chi phí thuê kho bến bãi
vv...
Chi phí hỗ trợ Marketing và phát triển bao gồm: chi phí điều tra nghiên
cứu thị trường; chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm; chi phí bảo hành sản
phẩm vv...tỷ trọng của chi phí này có xu hướng tăng trong điều kiện nền kinh
tế thị trường phát triển.
- 19-
hạ giá thành sản phẩm. Hạ giá thành sản phẩm là điều kiện cơ bản để doanh
nghiệp thực hiện tốt tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể hạ giá bán để tiêu
thụ sản phẩm và thu hồi vốn nhanh. Đồng thời, hạ giá thành là yếu tố để tăng
lợi nhuận.
Hạ giá thành sản phẩm trong kỳ được xác định cho những sản phẩm so
sánh được qua hai chỉ tiêu: mức giảm giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm.
- 20-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
Riêng đối với sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giá thành
thực tế với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượng sản
phẩm trong cùng một kỳ.
Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
doanh nghiệp:
- Sự tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ
- Tổ chức lao động khoa học và chiến lược sử dụng lao động
- Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính.
Ngoài cách phân loại trên, thường được các doanh nghiệp sản xuất ưa thích,
người ta còn có cách phân loại sau:
Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các chi phí có liên quan
đến quá trình hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là
một cách tiếp cận phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Dựa vào tính chất các yếu tố chi phí: chi phí hoạt động kinh doanh được
chia thành : Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực( gọi tắt là chi phí vật
tư). Chi phí vật tư phụ thuộc vào 2 yếu tố là mức tiêu hao vật tư và giá vật tư.
Chi phí khấu hao tài sản cố định(KHTSCĐ), lưu ý là chi phí KHTSCĐ được
xác định dựa vào nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao và tỷ lệ KHTSCĐ. Chi
phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương. Chi phí bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn. Chi phí dịch vụ mua ngoài. Thuế và
nhân viên bán hàng, tiếp thị, đóng gói, bảo quan, khấu khao TSCĐ, chi phí vật
liêu, bao bì, dụng cụ, đồ dụng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bảo hành,
quảng cáo.
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí quản lý kinh doanh,
quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan tới toàn bộ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho
ban giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi phí vật liệu để dùng
cho văn phòng, KHTSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế, lệ
phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp và
các chi phí khác chung cho toàn bộ doanh nghiệp như: lãi vay, dự phòng, phí
kiểm toán, tiếp tân, tiếp khách, công tác phí ...
- 22-
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
VŨ VĂN SỸ LỚP TC – K38
Phân loại các khoản mục chi phí trên được áp dụng cho các doanh
nghiệp sản xuất, việc tính toán đưa ra công thức trên có vẻ khá đơn giản tuy
nhiên thực tế thì khó khăn hơn. Cồn đối với các doanh nghiệp thương mại tính
toán chi phí được thực hiện đơn giản hơn. Giá vốn hàng bán trong các doanh
nghiệp thương mại được tính theo công thức sau:
Giá vốn hàng hoá = Giá mua vào + Chi phí vận chuyện
Còn các khoản mục chi phí khác thì hoàn toàn tương tự.
Các công thức trên để tính toán doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu
lợi nhuận trong kỳ hoạch toán, tuy nhiên nó không thể thực sự đánh giá được
doanh nghiệp có làm ăn hiệu quả hay không. Bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu tài
chính cuối cùng, nên nó chịu tác động rất nhiều của các nhân tố chủ quan,
khách quan khác. Để đánh giá chất lượng sản xuất – kinh doanh của doanh
nghiệp chỉ tiêu lợi nhuận và nhóm chỉ số khác nữa.
1.2.3. Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất- kinh
doanh và hiệu quả quản lý của doanh nghiệp. Nó báo gồm một nhóm chỉ tiêu
ROA =
Doanh lợi tài sản là tỷ số giữa thu nhập sau thuế trên tổng tài sản , phản
ánh khả năng sinh lãi của doanh nghiệp tính trên một đồng giá thị tài sản đầu
tư vào sản xuất kinh doanh. Qua chỉ tiêu này có thể đánh giá tình hình sử dụng
tài sản, vật tư, tiền tệ … của doanh nghiệp.Từ đó có bịên pháp thích ứng khai
thác khả năng sinh lời của tài sản, quản lý và sử dụng tài sản tiết kiệm. chỉ tiêu
này cần được so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành và so sánh giữa các thời kỳ
với nhau mới thấy được hiệu quả của quá trình sử dụng tài sản.
*Tỷ suất lợi nhuận giá thành
Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận so với
giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ
Công thức ;
t
Z
P
g
T
=
Trong đó:
T
g
; tỷ suất lợi nhuận giá thành
P; lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
Z
t
: giá trị toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiẹu thụ trong kỳ
Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận giá thành có thể thấy rõ hiệu quả
của chi phí bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ. Nó cho biết cứ 100
đồng chi phí sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- 24-