Ngoại ngữ chuyên ngành kỹ thuật công nghệ với việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ thập kỉ đầu thế kỉ XXI cơ sở lí luận và thực tiễn - Pdf 33

Ngoại ngữ chuyên ngành kỹ thuật - công nghệ với việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ
thập kỉ đầu thế kỉ XXI - Cơ sở lí luận và thực tiễn

Ngoại ngữ chuyên ngành kỹ
thuật - công nghệ với việc
đào tạo giáo viên phổ thông
ngoại ngữ thập kỉ đầu thế kỉ
XXI - Cơ sở lí luận và thực
tiễn
Bởi:
TS Đào Hồng Thu

Dạy và học ngoại ngữ thông qua hoạt động của học sinh trên cơ sở thực tế
xã hội
Để thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo phổ thông nói chung, phổ thông
ngoại ngữ nói riêng, theo chúng tôi, phải giải quyết đồng bộ rất nhiều mặt có liên quan
đến giáo dục.
Về phương diện đạo tạo, phương pháp giáo dục, công nghệ dạy và học, nghị quyết TW2
của Đảng nêu rõ : "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy và học, đảm
bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học".
Thành tựu to lớn và quan trọng nhất của tâm lí học thế kỉ XX được sử dụng làm cơ sở
để đổi mới phương pháp dạy và học là lí thuyết hoạt động của L.X.Vưgôtski (Nga) và
được Lêônchiev kế thừa và phát triển. Theo lí thuyết này, bằng hoạt động và thông qua
hoạt động, con người tự sinh thành ra mình, kiến tạo và phát triển nhân cách của mình.
Như vậy, mỗi người đều là một chủ thể có ý thức tự giác trong mọi hoạt động của chính
người đó. Bằng hoạt động và thông qua hoạt động của bản thân, con người chiếm lĩnh

1/7


giao lưu hội nhập quốc tế nên người giáo viên dạy ngoại ngữ phổ thông cũng cần nắm
được kiến thức về khoa học kĩ thuật hiện đại bằng tiếng Việt và cả bằng ngoại ngữ được
giảng dạy tại trường.
Trong thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, việc lĩnh hội và vận dụng các kiến thức về ngoại ngữ
chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ của giáo viên phổ thông ngoại ngữ có thể
ở mức độ các thuật ngữ khoa học cơ bản, khoa học kĩ thuật, công nghệ của một số lĩnh
vực phổ biến như điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ hóa học, công nghệ
môi trường, dệt may và các phương pháp trình bày nội dung thông tin của các ngành kỹ
thuật - công nghệ trên.
Với kiến thức về khoa học kĩ thuật và công nghệ của giáo viên, chúng tôi hy vọng chắc
chắn rằng các bài học ngoại ngữ (chính khóa và ngoại khóa) của học sinh sẽ hấp dẫn

2/7


Ngoại ngữ chuyên ngành kỹ thuật - công nghệ với việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ
thập kỉ đầu thế kỉ XXI - Cơ sở lí luận và thực tiễn

hơn, và hơn thế nữa, hoạt động lĩnh hội kiến thức khoa học kĩ thuật và công nghệ bằng
ngoại ngữ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người giáo viên hỗ trợ các học sinh cuối cấp
phổ thông trung học có xu hướng lựa chọn ngành nghề và thi vào các trường dạy nghề,
cao đẳng và đại học thuộc khối kĩ thuật và công nghệ. Chúng ta biết rõ rằng số thí sinh
lựa chọn và thi vào khối ngành kỹ thuật hàng năm không phải là ít, chỉ tính riêng trường
Đại học Bách Khoa Hà Nội hàng năm trung bình có từ 27,000 đến 33,000 thí sinh dự
thi.
Cuối cùng, người giáo viên dạy phổ thông ngoại ngữ cần nắm và đưa ra được các biện
pháp để động viên, khuyến khích học sinh tích cực, tự lực thực hiện hành động học của
mình, đặc biệt trong môi trường xã hội không có giao tiếp hàng ngày bằng ngôn ngữ
được học, cũng như đánh giá kết quả hành động dạy và học ngoại ngữ ở phổ thông hiện
nay.


chỉ trở thành một khoa học thực sự khi nó có một hệ thống khái niệm rõ ràng và một
phương pháp nghiên cứu có hiệu quả. Từ đây, chúng ta thấy rằng việc nhận thức bản
chất của ngôn ngữ và dạy - học ngoại ngữ như một khoa học đặt cơ sở vững chắc cho lí
luận, làm nền tảng cho phương hướng giải quyết toàn bộ các vấn đề về dạy và học ngoại
ngữ trong trường phổ thông hiện nay.
Hoạt động nhận thức trong đào tạo kiến thức chuyên ngành cho giáo viên phổ
thông ngoại ngữ.
Nét khu biệt giữa hoạt động nhận thức của nhà khoa học và của giáo viên phổ
thông ngoại ngữ.
Việc nghiên cứu hoặc học tập một môn khoa học nhất định sẽ đạt hiệu quả nếu sử dụng
chính phương pháp luận của khoa học đó. Ví dụ, có thể tổ chức quá trình học tập của
giáo sinh phổ thông ngoại ngữ tương tự như quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học
và công nghệ. Trên thực tế, giữa hai quá trình này có các nét khu biệt. Để thành công
trong việc cập nhật các kiến thức khoa học kĩ thuật và công nghệ cho giáo sinh phổ
thông ngoại ngữ, theo quan điểm của chúng tôi, cần xử lí các vấn đề có liên quan tới đặc
thù nghề nghiệp và điều kiện làm việc của họ.
• Nhà khoa học phải tìm ra cái mới, giải pháp mới mà trước đây loài người chưa
biết, còn giáo sinh ngoại ngữ cần tìm cho bản thân các kiến thức mới về ngoại
ngữ và phương pháp học tập, làm việc hiệu quả, chủ yếu là từ người hướng dẫn
học tập. Như vậy, việc khám phá của giáo sinh trong quá trình lĩnh hội kiến
thức và các phương pháp là cho chính bản thân mình. Ở đây, quan trọng là
cung cấp cho giáo sinh các kiến thức về khoa học chuyên ngành và phương
pháp nghiên cứu để họ có thể tự thực hiện hoạt động nhận thức trong các lĩnh
vực chuyên môn phục vụ hoạt động dạy - học trên thực tiễn sau này.
• Về thời gian, nhà khoa học có thể để nhiều tháng, năm, thậm chí cả cuộc đời
mình để khám phá một định luật, xây dựng một thuyết nào đó. Giáo sinh chỉ có
một lượng thời gian nhất định để thực hiện nhiệm vụ học tập chính khóa và
ngoại khóa. Thông thường, giáo sinh phổ thông ngoại ngữ chưa xác định cho
công việc của bản thân trên cơ sở thời gian như một nhà khoa học hoặc chuẩn

thể vận dụng ở đây lí thuyết về "vùng phát triển gần" của Vưgôtski. Theo
Vưgôtski, "vùng phát triển gần" là khoảng cách giữa trình độ hiện tại của người
học và trình độ phát triển cao hơn, cần vươn tới. Nếu có sự hướng dẫn cụ thể để
người học thu hẹp khoảng cách này thì đến một thời điểm nhất định người học
sẽ tự vượt qua khoảng trống đó để đạt trình độ cần vươn tới.
Như vậy, để giáo sinh phổ thông ngoại ngữ có thể cập nhật kiến thức của mình vào quá
trình dạy và học ngoại ngữ ở thời đại công nghiệp phát triển của thế kỉ XXI, chúng ta
cần chuẩn bị cho họ các điều kiện cần thiết để thực hiện thành công hoạt động học tập
và nghiên cứu sáng tạo.
Phương thức giải quyết vấn đề đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ từ góc độ của
khoa học kĩ thuật và công nghệ.
Chúng ta biết rằng hoạt động nhận thức của con người chỉ thực sự bắt đầu khi gặp phải
mâu thuẫn giữa trình độ đang có và nhiệm vụ cần giải quyết mà các kiến thức, kĩ năng
đang có là chưa đủ để giải quyết vấn đề. Để khắc phục mâu thuẫn, con người phải xây
dựng kiến thức mới, phương pháp mới, kĩ năng mới. Trên thực tế, dạy và học nói chung,
dạy và học ngoại ngữ nói riêng là hoạt động giải quyết vấn đề nhận thức của người dạy
và người học. Quá trình dạy và học ngoại ngữ là quá trình liên tục giải quyết các vấn đề
về dạy và học các môn học của chương trình đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học
về ngoại ngữ.
Để việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ có kiến thức phù hợp với xu thế phát
triển của xã hội và thời đại - kiến thức về khoa học kĩ thuật và công nghệ - đạt hiệu quả,
trong phần này, báo cáo đề cập đến mối liên hệ giữa tiến trình giải quyết vấn đề trong
khoa học, trong đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ và các phương thức giải quyết
vấn đề trong quá trình dạy và học mà giáo sinh cần nắm vững.
B.1. Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học bao gồm các bước chủ yếu sau:

5/7


Ngoại ngữ chuyên ngành kỹ thuật - công nghệ với việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ

B.3. Các phương thức giải quyết vấn đề cơ bản:
• Phương thức giải quyết vấn đề theo kiến thức đã biết (bằng phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh). Nếu áp dụng giải quyết vấn đề theo phương thức này
thì việc tiếp nhận ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ của
người học sẽ đạt kết quả khi:
- Sử dụng ngôn ngữ kĩ thuật để giải quyết các bài học có liên quan đến khoa học kĩ thuật
và công nghệ;
- Dịch thuật các văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ;
6/7


Ngoại ngữ chuyên ngành kỹ thuật - công nghệ với việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ
thập kỉ đầu thế kỉ XXI - Cơ sở lí luận và thực tiễn

- Tiếp nhận các thuật ngữ kĩ thuật;
- Định hướng nghiên cứu khoa học bằng ngôn ngữ phong cách khoa học.
• Phương thức nghiên cứu, sáng tạo từng phần: Phương thức này được sử dụng
khi nghiên cứu tài liệu mới, vấn đề mới. Ở đây, trực giác đóng vai trò quan
trọng. Vấn đề đặt ra là giáo sinh cần được rèn luyện trực giác khoa học để dự
đoán một câu trả lời, một giải pháp cho vấn đề đặt ra rồi tìm cách kiểm tra tính
đúng đắn của dự đoán đó bằng thực nghiệm. Phương thức này khả quan khi
được thực hiện để áp dụng các phương pháp sư phạm trong việc dạy ngoại ngữ
phổ thông, trong việc xây dựng và dự đoán hệ thống thuật ngữ kĩ thuật v.v.
• Phương thức sáng tạo tổng hợp: Kiến thức khoa học luôn được tiếp nhận và
khái quát theo một trật tự (lôgích) nhất định. Sáng tạo tổng hợp trong khoa học
giúp giáo viên phổ thông ngoại ngữ có thể dựa vào kiến thức đã có để tổ chức
hoạt động nghiên cứu và dạy - học có hiệu quả.
Thay cho lời kết, chúng tôi muốn khẳng định rằng việc đào tạo giáo viên phổ thông
ngoại ngữ của thập kỉ đầu thế kỉ XXI sẽ mang lại hiệu quả nếu được định hướng theo
tiến trình phát triển của một xã hội công nghiệp hiện đại và xu thế hội nhập quốc tế của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status