ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------
Đinh Thị Thu Thủy
NGHIÊN CỨU VIỆC THỰC HIỆN CHÍ NH SÁCH
BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐINH
CƢ KHI NHÀ NƢỚC
̣
THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DƢ̣ ÁNTRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO QUAN ĐIỂM
TIẾP CẬN HAI CHIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------
Đinh Thị Thu Thủy
NGHIÊN CỨU VIỆC THỰC HIỆN CHÍ NH SÁCH
BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐINH
CƢ KHI NHÀ NƢỚC
̣
THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DƢ̣ ÁNTRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO QUAN ĐIỂM
hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy , cô giáo Khoa
Điạ Lý - Trường Đại học Khoa ho ̣c tự nhiên - Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i , ban giải
phóng mặt bằng thị xã Sơn Tây, phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Sơn Tây,
các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các phường Trung Sơn Trầm và phường Viên
Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng
nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện
đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thu Thủy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...............................4
1.1. Khái niệm và đặc điểm của công tác thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ.........4
1.1.1.Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ..................................4
1.1.2. Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư .................................5
1.2. Cơ sở pháp lý của chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà
nƣớc thu hồi đất tại Việt Nam ..................................................................................6
1.2.1 Trước luật đất đai 1993 ......................................................................................6
1.2.2 Luật Đất đai 1993 ...............................................................................................9
1.2.3 Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai hiện hành ..................................................11
1.2.4 Cơ sở pháp lý của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội ................................................................18
1.3. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu.............................................................19
1.3.1. Quan điểm nghiên cứu........................................................................................19
3.2. Đánh giá chung việc thực hiện các chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ và tái
định cƣ dự án trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội ..........................80
3.3. Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách bồi thƣờng, hỗ
trợ và tái định cƣ ở thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội .......................................85
3.3.1. Các giải pháp chung ........................................................................................85
3.3.2. Các giải pháp cụ thể ........................................................................................88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................89
1. Kết luận ................................................................................................................89
2. Kiến nghị ..............................................................................................................90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................91
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bồi thường
BT
Bất động sản
BĐS
Hỗ trợ
HT
Hội đồng nhân dân
HĐND
dự án 1 .......................................................................................................................66
Bảng 3.3. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau khi thu hồi tại
dự án 2 .......................................................................................................................68
Bảng 3.4. Tình hình thu nhập của các hộ tại 2 dự án sau thu hồi đất ......................70
Bảng 3.5. Thu nhập bình quân của các hộ gia đình trong một tháng........................71
Bảng 3.6: Diện tích đất bị thu hồi của các hộ gia đình .............................................73
Bảng 3.7. Tài sản của các hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất ..........................75
Bảng 3.8. Ư kiến của người dân về chính sách bồi thường và hỗ trợ của dự án ......77
Bảng 3.9. Kiến nghị của hộ gia đình về nguyện vọng hỗ trợ ổn định đời sống, sản
xuất ............................................................................................................................78
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sơ đồ hành chính thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội ................................31
Hình 2.2. Biểu đồ cơ cấu kinh tế thị xã năm 2011 và 2014 ...........................................37
Hình 2.3: Biểu đồ cơ cấ u sử du ̣ng đất năm 2014 thị xã Sơn Tây .............................43
Hình 2.4: Hình ảnh Tiểu khu nhà ở Đồi Dền ............................................................47
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo trình độ văn hóa ..................65
Hình 3.2 Biểu đồ tình hình lao động của người dân trước và sau khi thu hồi đất tại
dự án 2 .......................................................................................................................69
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập và phát triển với nền kinh tế toàn cầu, đất nước ta
đang phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều dự án
đầu tư phát triển như: khu công nghiệp, khu thương mại, khu du lịch, các khu kinh
tế mở, khu dân cư, hệ thống đường giao thông,… đã và đang được triển khai xây
dựng một cách mạnh mẽ. Để thực hiện được các dự án trên thì mặt bằng đất đai là
một trong những nhân tố quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả trong công tác đầu
định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thị xã Sơn Tây,
thành phố Hà Nội theo quan điểm tiếp cận hai chiều”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu theo quan điểm tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên để đánh
giá tổng hợp những khó khăn, thuận lợi khi thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án đầu tư xây dựng nhà ở và
giao thông trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư để giải quyết những tồn tại, khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã
Sơn Tây.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống lại cơ sở chính sách, pháp luật đất đai, chính sách bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản có liên quan.
- Thu thập các số liệu, tài liệu về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư của dự án xây dựng tiểu khu nhà ở Đồi Dền và dự án xây dựng công trình
đường trục phát triển thị xã Sơn Tây lý trình Km 13+ 740,6 đến Km 14+ 704 tại
thị xã Sơn Tây.
- Điều tra, phỏng vấn các cán bộ quản lý dự án, cán bộ địa phương để hiểu
những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư cho dự án xây dựng tiểu khu nhà ở Đồi Dền và dự án xây
dựng công trình đường trục phát triển thị xã Sơn Tây lý trình Km 13+ 740,6 đến
Km 14+ 704 tại thị xã Sơn Tây.
- Điều tra, phỏng vấn người dân bị ảnh hưởng và đánh giá những tác động
của dự án đến người dân.
2
- Căn cứ kết quả nghiên cứu, khảo sát, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần
Bồi thường: Có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao động cho
một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác [13].
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:“Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho
người bị thu hồi đất”[20].
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc
Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm
mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”[20].
Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nói khác với nói ở trước đây để sinh
sống và làm ăn. TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà
nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di
chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập,
có sở vật chất, tinh thần tại đó. Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác
động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát
triển chung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
4
- Bồi thường bằng nhà ở.
- Bồi thường bằng giao đất ở mới.
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở [20].
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong
chính sách GPMB. Các dự án TĐC cũng được coi là các dự án phát triển và phải
được thực hiện như các dự án phát triển khác [22].
vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở
khu vực mới điều kiện sống thì bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển.
Từ các đặc điểm trên cho thấy công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất tại mỗi địa bàn khác nhau và những đặc điểm khác nhau. Từ
đó phải có những phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sao cho phù hợp và
thỏa đáng đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất [20].
1.2. Cơ sở pháp lý của chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà
nƣớc thu hồi đất tại Việt Nam
1.2.1 Trước luật đất đai 1993
Ngay khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), Đảng và Nhà nước đã
khẳng định con đường tất yếu của Cách Mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Để đáp ứng nhiệm vụ đất nước
trong giai đoạn cách mạng mới năm 1953, Nhà nước ta thực hiện cải cách ruộng đất
nhằm phân phối lại ruộng đất cho nhân dân với khẩu hiệu: “Người cày có ruộng” và
từ đó luật cải cách ruộng đất được ban hành. Đồng thời Nhà nước ta cũng khẳng
định đất đai được tồn tại dưới 3 hình thức đó là: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể
và sở hữu tư nhân.
Hiến pháp năm 1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại ba hình thức sở hữu đất đai
ở nước ta, gồm có sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể. Thời kỳ này
quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thoả thuận, sau đó thống nhất giá trị bồi
thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi
thường hay ban hành giá bồi thường [14].
Nghị định 151/TTg ngày 14/4/1959 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định thể
lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất”, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến
việc bồi thường và tái định cư ở Việt Nam. Nghị định này quy định những nguyên
tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân trong việc xây dựng các
công trình do Nhà nước quản lý đó là: “Đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết
cho xây dựng công trình, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của
6
đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao - thu” giữa Nhà nước với người sử
dụng đất [15].
7
Luật Đất đai năm 1988 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): “Bồi thường thiệt hại
cho người sử dụng đất để giao cho mình, bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư
đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật”.
Thực tế các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 1988 không hướng dẫn
nội dung về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc
bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác.
Thực chất đây lại là quy định việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước khi được giao
đất (mà sau này khi thực hiện Luật Đất đai năm 1993 được coi là tiền sử dụng đất),
trong đó phần nhỏ được phân bổ cho người bị thu hồi đất.
Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ
trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang
mục đích khác. Tại Điều 1 của Nghị định này nêu rõ: Mọi tổ chức, cá nhân được
giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù về đất
nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước. Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất và tài
sản trong lòng đất cho chủ sử dụng hợp pháp không thuộc các khoản tiền thiệt hại
về đất. Khung mức giá bồi thường để UBND tỉnh, thành phố, đặc khu kinh tế thuộc
Trung ương quy định cụ thể, mức bồi thường đối với từng quận, huyện, thành phố
thuộc tỉnh sát với giá đất ở địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn
khung định mức bồi thường của Chính phủ.
Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ
chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất cụ thể:
+ Tại Điều 17 Hiến pháp quy định về quyền sở hữu đối với đất đai: “Đất đai,
rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển
Luật Đất đai năm 1993 thực sự là văn bản quan trọng đối với quyền sử dụng đất,
chuyển quyền sử dụng và bồi thường đất đai, tài sản gắn liền với đất.
Điều 1 của Luật Đất đai quy định quyền sở hữu đối với đất đai (thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý), đồng thời quy định về quyền của Nhà
nước trong việc giao đất, cho thuê đất (Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế,
đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội gọi chung là
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Nhà nước còn cho tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân thuê đất).
Điều 27 của Luật Đất đai năm 1993 có quy định việc thu hồi đất và việc bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an
9
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, việc thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển,
phương án bồi thường thiệt hại.
Tại điều 73 và 79 Luật Đất đai quy định cụ thể, chi tiết về quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất, một trong những quyền và nghĩa vụ là được Nhà nước bảo
vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được
bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi. Bồi thường cho người có đất bị thu hồi để
giao cho mình và giao lại cho Nhà nước khi có quyết định thu hồi [18].
Luật Đất đai năm 1993 cũng như quy định việc Nhà nước xác định giá các
loại đất để tính tiền khi giao đất, cho thuê đất và bồi thường thiệt hại khi thu hồi,
theo khung giá do Chính phủ quy định.
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 2/12/1998 đã quy định
quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, nhận
quyền sử dụng đất của người khác, cụ thể:
+ Xác định rõ các quyền của người sử dụng đất khi được giao đất có thu tiền sử
dụng đất, giao đất nhưng không phải nộp tiền sử dụng đất và được cho thuê đất.
năng tự lập nơi ở mới cũng như không có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành
nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu [7].
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001 quy định
cụ thể hơn về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất đai vào mục đích đích
an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Việc bồi thường, hỗ trợ
được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Nhà nước có chính sách để ổn định
đời sống cho người bị thu hồi đất.
1.2.3 Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai hiện hành
Luật Đất đai 2003
Sự ra đời của Luật Đất đai 2003 thực sự là bước ngoặt lớn trong việc củng cố
hệ thống luật đất đai của nước ta thêm hoàn thiện, Luật Đất đai 2003 đã đáp ứng
được đầy đủ yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, đặc biệt giúp
cho công tác quản lý hành chính Nhà nước về đất đai ngày càng thuận tiện và chặt
chẽ hơn đảm bảo công khai, minh bạch và hợp pháp. Về vấn đề bồi thường, GPMB
và tái định cư cho người bị thu hồi đất được quy định tại khoản 2, Điều 42 của Luật
Đất đai 2003: “Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất
mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi. Đồng thời cũng
11
theo Luật Đất đai 2003 cũng quy định rõ ràng chính sách hỗ trợ cho người dân bị
thu hồi đất đai phải tái định cư được đảm bảo cuộc sống, ổn định phát triển kinh tế”
[20]. Để hướng dẫn việc bồi thường hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất theo quy
định của Luật Đất đai năm 2003, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành các văn
bản liên quan.
Nghị định 197/2004/NĐ – CP quy định rõ ràng về công tác bồi thường, hộ
trợ TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Bao gồm cả đất sử dụng cho các dự án sản xuất
kinh doanh, khu chế xuất, khu du lịch, khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu vui
thường thiệt hại được tính bằng giá trị xây dựng mới.
Về chính sách hỗ trợ, Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã đưa ra chính sách hỗ trợ ổn
định sản xuất và đời sống xã hội đối với những người phải di chuyển chỗ ở trong thời
gian 6 tháng, đối với các nhân khẩu trong hộ, với mức tương đương 30kg gạo/tháng. Đối
với những người phải di chuyển đến khu tái định cư của tỉnh khác thì được trợ cấp một
năm và hưởng chính sách đi vùng kinh tế mới[20].
Nghị định còn quy định việc hỗ trợ theo chế độ trợ cấp ngừng việc cho cán
bộ, công nhân viên của doanh nghiệp phải di chuyển địa điểm mới trong thời gian
ngừng sản xuất, phải kinh doanh; hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao động nông
nghiệp phải chuyển sang nghề khác và ưu tiên tuyển dụng lao động cho các đối
tượng có đất bị thu hồi [20].
Ngoài ra Nghị định còn quy định hỗ trợ đối với những người đang hưởng trợ
cấp xã hội của Nhà bước phải di chuyển chỗ ở và trợ cấp khuyến khích di dời cho
người di chuyển đúng hạn.
Về chính sách tái định cư Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định về thẩm
quyền lập khu tái định cư và điều kiện bắt buộc phải có khu tái định cư, về nguyên
tắc bố trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu tái định cư và về nguồn vốn đầu tư xây
dựng khu tái định cư.
Như vậy nếu như các Nghị định trước đây chủ yếu quan tâm đến việc bồi
thường đất bị thu hồi và tài sản đất đó thì Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã có thêm
một số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về lập khu tái định cư
cho các hộ phải di chuyển.
Về tổ chức thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định trách nhiệm của
chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt phương án bồi
thường, chỉ đạo thành lập hội đồng giải phóng mặt bằng cấp huyện trong việc lập
13
phương án bồi thường thiệt hại, xác định bồi thường, trợ cấp cho từng tổ chức, hộ gia
dựng đa dạng loại nhà ở, mức đất ở trong khu tái định cư cho phù hợp với nhu cầu,
khả năng và tập quán sinh hoạt của người có đất bị thu hồi. Hỗ trợ chuyển đổi nghề
nghiệp và tạo việclàm. Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp khi nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường sẽ được hỗ trợ
chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm.Xác định lại giá đất trong một số trường hợp
cụ thể [10].
Để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường, hỗ trợ tái
định cư, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định
bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Về cơ bản thì Nghị định 197 đã quy định
khá đầy đủ về bồi thường, hỗ trợ cho các đối tượng có đất bị thu hồi, Nghị định 84
bổ sung những một số điều của Nghị định 197 về quy định cụ thể đối với một số
trường hợp thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi đất (Thu
hồi đất tại khu vực giáp ranh giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh; Thu hồi đất để
thực hiện các dự án phát triển kinh tế quan trọng, khu dân cư, phát triển kinh tế trong khu
đô thị, khu dân cư nông thôn; Thu hồi đất để xây dựng các khu kinh doanh tập trung
có cùng chế độ sử dụng đất…), đặc biệt là quy định về trń h tự, thủ tục thu hồi đất và
thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi. Giúp cho các nhà
quản lý cũng như những người thực hiện, từ UBND cấp tỉnh đến UBND cấp huyện,
Ban quản lý hạ tầng rồi đến từng đối tượng cụ thể có đất bị thu hồi minh bạch cũng
như gọn nhẹ và rõ ràng trong các bước thực hiện [9].
Ngoài ra, thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
Đến nay, công tác bồi thường, GPMB và hỗ trợ cho các đối tượng bị thu hồi đất được
điều tiết bởi một hệ thống các quy định tương đối hoàn chỉnh và khái quát trên phạm
vi cả nước, theo đó, tuỳ tình hình thực tế từng địa phương mà các quy định đó được
áp dụng sao cho phù hợp.
- xã hội vì lơ ̣i ić h quố c gia , công
cô ̣ng. Cụ thể: Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết
định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận , quyết định
đầu tư và mô ̣t số trường hợp đươ ̣c Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét thôn
g qua
chủ trương thu hồi đất.
- Đã khẳ ng đinh
̣ mô ̣t cách rõ ràng nguyên tắ c công khai , minh ba ̣ch và dân
chủ trong công tác thu h ồi đất thông qua các quy định về các trường hợp Nhà nước
thu hồ i đấ t ; trình tự , thủ tục thu hồi đất ; bồ i thường , hỗ trơ ̣, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất.
- Quy đinh
̣ chế tài ma ̣nh để xử lý đố i với trường hơ ̣p không đưa đấ t đã đươ ̣c
giao, cho thuê vào sử du ̣ng hoă ̣c châ ̣m đưa đấ t vào sử du ̣ng đó là cho phép châ ̣m
tiế n đô ̣ hơn so với quy đinh
̣ hiê ̣n hành 24 tháng và chủ đầu tư phải nộp một khoản
tiề n tương ứng với tiề n sử du ̣ng đấ t
, tiề n thuê đ ất trong thời hạn đó ; nế u hế t 24
tháng cho phép chậm tiến độ này mà vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước
thu hồ i đấ t mà không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất.
16