Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Hữu Thắng
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
LỜI CAM ĐOAN
Tên em là : Nguyễn Hữu Thắng
Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
Khoa : Kế hoạch và Phát triển.
Trường : Đại học Kinh tế Quốc dân.
Em xin cam kết bản chuyên đề : “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh trong đấu thầu xây dựng của công ty cổ phần Sông Đà 25” này là chính do
em viết với sự tham khảo nhiều nguồn tư liệu mà không sao chép y nguyên từ bất
cứ nguồn văn bản, tài liệụ nào khác. Em xin đảm bảo lời cam kết này là sự thật và
đồng ý với mọi hình thức kỷ luật nào của nhà trường nếu vi phạm lời cam kết.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hữu Thắng
SV: Nguyễn Hữu Thắng
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
SXKD:
Sản xuất kinh dianh
SV: Nguyễn Hữu Thắng
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trên đà phát triển, tình hình kinh tế trong những năm vừa qua
có rất nhiều sự chuyển biến tốt đẹp. Năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Để theo kịp với nền
kinh tế thế giới và khu vực thì vấn đề đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng là rất quan
trọng, nó sẽ thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong những năm gần đây, hoạt động đấu thầu xây dựng ở nước ta trong lĩnh
vực xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển hơn bao giờ hết, các công ty xây dựng phải
cạnh tranh trong một môi trường vô cùng khắc nghiệt. Số lượng các doanh nghiệp
xây dựng gia tăng ngày càng nhiều, cả trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, hệ
thống pháp luật về đấu thầu ở nước ta vẫn chưa được hoàn chỉnh, các vấn đề bất cập
xoay quanh nó vẫn còn rất nan giải, các doanh nghiệp phải điều chỉnh hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mình để thích ứng và tồn tại.
Qua một thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty cổ phần Sông Đà 25 và với
những kiến thức đã học đã cho em thấy vai trò của công tác đấu thầu xây dựng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là vô cùng quan trọng, vì vậy em
đã quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong
đấu thầu xây dựng của công ty cổ phần Sông Đà 25” là đề tài nghiên cứu của
mình.
một yêu cầu nào đó.
Trên thực tế đã tồn tại một số định nghĩa về thuật ngữ đấu thầu trong các văn
bản khác nhau. Tuy nhiên, bản chất của thuật ngữ về đấu thầu dù dưới dạng Quy
chế hay Luật cũng đều sử dụng một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếng Anh là
“Procurement” (nghĩa là mua sắm). Như vậy Luật Đấu thầu đồng nghĩa với Quy chế
Mua sắm hoặc Luật Mua sắm
Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã mở cửa với
thế giới thì bắt đầu xuất hiện khái niệm “đấu thầu”. Theo định nghĩa về thuật ngữ
“đấu thầu” trong Luật Đấu thầu của Việt Nam thì đó là quá trình lựa chọn nhà thầu
đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án sử
dụng vốn nhà nước. Kết quả của sự lựa chọn là có hợp đồng được ký kết với các
điều khoản quy định chi tiết trách nhiệm của hai bên. Một bên là nhà thầu phải thực
hiện các nhiệm vụ như nêu trong hồ sơ mời thầu (có thể là dịch vụ tư vấn, cung cấp
hàng hoá hoặc chịu trách nhiệm xây dựng một công trình...), một bên là chủ đầu tư
có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán tiền. Như vậy thực chất
của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước là một
quá trình mua sắm- quá trình chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước.
“Căn cứ vào Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà
SV: Nguyễn Hữu Thắng
2
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án
quy định tại Điều 1(phụ lục) của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công
3
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
Nói đến đấu thầu là nói đến một quá trình lựa chọn tức là việc đấu thầu phải
tuân thủ theo trình tự, thủ tục nhất định. Điều này chỉ tạo ra cho đấu thầu một sự
khắc biệt hẳn so với các hình thức khác thường gặp trong mua bán thông thường.
Chính vì vậy đấu thầu mang những bản chất sau:
Thứ nhất: Đấu thầu với bản chất là một hoạt động mua bán. Tuy nhiên đây là
một hoạt động mua bán đặc biệt vì khi đó người mua (hay cũng gọi là bên mời thầu)
có quyền lựa chọn cho mình người bán (hay cũng gọi là nhà thầu) tốt nhất một cách
công khai và theo một quy trình nhất định.
Thứ hai: Đấu thầu mang tính cạnh tranh gay gắt, do vậy mà hoạt động này
chỉ có trong nền kinh tế thị trường khi xã hội đó phát triển đến một mức tương đối
ổn định. Lúc này người ta phải cạnh tranh với nhau để giành khách hàng. Tức là
những người mua được tùy ý lựa chọn cho mình người bán phù hợp với yêu cầu và
chủng loại hàng hóa mà mình cần mua.
2. Nguyên tắc và phương thức đấu thầu
2.1 Các nguyên tắc trong hoạt động đấu thầu
Trong đấu thầu, có một số nguyên tắc mà cả bên mời thầu lẫn nhà thầu đều
phải tìm hiểu và tuân thủ một cách nghiêm túc khi tham gia dự thầu, đó là những
nguyên tắc: Hiệu quả, cạnh tranh, công bằng và minh bạch.
Hiệu quả: Được tính cả trên hai phương diện: Hiệu quả về mặt thời gian và
hiệu quả cả về mặt tài chính. Về thời gian, sẽ được đặt làm hàng đầu kho yêu cầu về
tiến độ là cấp bách. Cũng nếu thời gian không yêu cầu phải cấp bách thì quy trình
đấu thầu phải được thực hiện từng bước theo đúng kế hoạch để lựa chọn nhà thầu
Phương thức này thường được sử dụng với đầu thầu xây lắp và mua sắm
hàng hóa. Khi đó các bên tham dự thầu đều biết rõ về giá của nhau.
2.2.2. Hai túi hồ sơ, một giai đoạn
Lúc này hai đề xuất kĩ thuật và tài chính được bỏ vào cùng hai túi hồ sơ và
hai túi đều được niêm phong. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà bên mời thầu yêu
cầu hoặc phải nộp hai túi cùng một lúc, hoặc túi tài chính nộp sau.
Trong quá trình đánh giá, nếu những nhà thầu không đạt tiêu chuẩn kĩ thuật
thì hồ sơ tài chính được trả lại còn nguyên niêm phong. Hiện tại ở Việt Nam
phương thức này chỉ cho phép áp dụng với đầu thầu tuyển chọn tư vấn còn đấu thầu
xây lắp và mua sắm hàng hóa thì không được áp dụng.
2.2.3. Hai giai đoạn, một túi hồ sơ
Là phương thức mà bên mời thầu yêu cầu các nhà thầu nộp đề xuất kĩ thuật
hoặc có thể cả đề xuất tài chính và sẽ loại bỏ luôn những nhà thầu có đề xuất kĩ
thuật không khả thi. Kết thúc giai đoạn 1 lựa chọn những nhà thầu có đề xuất kĩ
thuật hoàn thiện và tiếp tục chuyển sang giai đoạn 2 bằng cách yêu cầu các nhà thầu
vượt qua giai đoạn 1 nộp đề xuất tài chính có kèm theo dự án cụ thể.
Phương thức này thường được áp dụng với công việc có nhiều phương án
thực hiện mà bên mời thầu chưa biết lựa chọn phương án nào. Và thường đó là các
công trình xây dựng mà hai bên kí kết với nhau theo loại hợp đồng “chìa khóa trao
tay” – là loại hợp đồng mà nhà thầu phải thực hiện tất cả các công việc từ: lập dự
SV: Nguyễn Hữu Thắng
5
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
hợp lí nhất.
SV: Nguyễn Hữu Thắng
6
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
+Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án: Khi chủ đầu tư có ý tưởng về
một dự án đầu tư nhưng do một hạn chế nào đó (cú thể là hạn chế về tài chính hoặc
kĩ thuật) mà không thể tiến hành chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư thì chủ đầu tư có
thể tổ chức đấu thầu để chọn một đối tác thực hiện ý tưởng của mình và sau đó có
thể bàn giao dự án vào một thời điểm thoả thuận giữa hai bên. Đối với loại hình
này, đối tượng mà bên mời thầu muốn mua là toàn bộ một dự án chứ không phải chỉ
một phần công việc cụ thể nào đó.
II. NĂNG LỰC ĐẤU THẦU VÀ CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH NĂNG
LỰC CẠNH TRANH ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG
1. Năng lực đấu thầu xây dựng
Sự nhiệt tình và tư duy sáng tạo trong công việc là tiền đề cho mọi thành
công không chỉ đối với một cá nhân mà là sự toàn diện của cả tập thế và chính điều
đó cấu thành năng lực. Dù hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào cũng cần có năng lực thì
mới có khả năng tồn tại và phát triển. Năng lực đấu thầu xây dựng được hiểu là
năng lực của nhà thầu tham gia vào hoạt động xây dựng như xây dựng dân dụng,
công nghiệp, xây lắp nhà xưởng, máy móc thiết bị, xây dựng công trình giao thông,
thủy điện …v.v. Năng lực của nhà thầu xây dựng được cấu thành bởi hai yếu tố
quan trọng là năng lực tài chính và kinh nghiệm thi công của nhà thầu. Bên cạnh đó
thì không thể không nói đến các yếu tố quan trọng khác như: Năng lực nhân sự,
Tuy vậy, một nhà thầu dù mạnh đến đâu thì cũng khó có thể tự mình thực
hiện chi trả tất cả các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện, nhất là khi nhà
thầu đó không chỉ tham gia một công trình mà tham gia cùng một lúc nhiều công
trình, hạng mục công trình khác nhau và cần đến lượng vốn rất lớn. Vì vậy, bên
cạnh nguồn vốn của mình, nhà thầu cần huy động thêm vốn từ các nguồn khác đặc
biệt là các tổ chức tín dụng. Để huy động được nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng
này thì năng lực hay khả năng thanh toán nợ của nhà thầu lại là một yếu tố quan
trọng cần được cân nhắc, xem xét để có thể cho nhà thầu này mượn vốn thực hiện
công trình hay không. Theo quy định hiện hành thì nhà thầu muốn vay vốn thực
hiện công trình cần đảm bảo ít nhất 30% giá trị gói thầu.
Phân tích tài chính giúp cho chủ đầu tư nhận biết tình hình tài chính hiện tại
của các nhà thầu như thế nào? Và qua đó có sự lựa chọn nhà thầu phù hợp nhất.
Dựa vào việc đánh giá các chỉ tiêu dưới đây mà chúng ta có thể nắm bắt được “thực
lực” thật sự trong cạnh tranh của các doanh nghiệp tham dự đấu thầu. Hơn nữa đây
cũng là những chỉ tiêu nằm trong mối quan tâm chung của các nhà đầu tư khi hợp
tác làm ăn với các doanh nghiệp xây dựng. Có điều này là do đặc điểm nổi bật của
đấu thầu xây dựng mà chúng ta đã nói ở trên, đó là “ đặt nặng” vấn đề tài chính.
Chính vì thế mà các doanh nghiệp càng có chỉ tiêu tài chính đảm bảo bao nhiêu thì
lại càng được sự chú ý của nhà đầu tư bấy nhiêu, vì đó là lí do chắc chắn đảm bảo
công trình của họ được thực hiện một cách đầy đủ, có chất lượng và kịp thời, đáp
ứng được những yêu cầu đặt ra. Một doanh nghiệp xây dựng sẽ không thể đứng
vững trong nền kinh tế với sự cạnh tranh không khoan nhượng của các doanh
nghiệp khác nếu như nó không có thực lực về tài chính và được đảm bảo bởi những
công trình mà nó đã tham gia.
SV: Nguyễn Hữu Thắng
8
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
- Thời gian thu hồi vốn đầu tư bằng nguồn vốn tự tài trợ: Đây là chỉ tiêu biểu
hiện mối quan hệ giữa tổng số vốn đầu tư với mức lãi thu được từ nguồn vốn đã đầu
tư và khấu hao tài sản cố định bằng vốn đầu tư. Nếu lãi vay thu được càng nhanh và
càng nhiều thì thời hạn thu hồi vốn càng ngắn và thể hiện hiểu quả sử dụng vốn đầu
tư càng cao và ngược lại.
SV: Nguyễn Hữu Thắng
9
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
* Hiệu quả sử dụng vốn
Một doanh nghiệp hay bất kỳ một nhà thầu xây dựng nào cũng cần quan tâm
đến hiệu quả sử dụng vốn của mình vì với việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không
sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh đặc biệt là tới năng lực
tài chính của nhà thầu.
+ Hiệu quả sử dụng vốn tổng hợp: là tỉ lệ giữa kết quả đầu ra với tổng nguồn
vốn bình quân của nhà thầu; Hiệu quả sử dụng vốn = Doanh thu/ Tổng nguồn vốn.
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bình quân nhà thầu bỏ ra trong một kì kinh
doanh thu được về bao nhiêu đồng kết quả đầu ra. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn của nhà thầu càng cao.
+ Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu; tỉ suất = Lợi nhuận sau thuế của
doanh nghiệp/ Tổng nguồn vốn chủ sở hữu; Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn
chủ sở hữu dùng vào sản xuất kinh doanh trong kì thì nhà thầu thu được về bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
càng lớn, đặc biệt nếu vốn chỉ sở hữu càng lớn thì tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
+ Hệ số khả năng thanh toán tổng hợp: là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tỉ lệ
giữa tổng số tiền có thể dùng để thanh toán với tổng số tiền phải thanh toán; hệ số
khả năng thanh toán tổng hợp = tổng tài sản ngắn hạn / nợ ngắn hạn. So sánh hệ số
này với 1 cho phép chúng ta đánh giá được khả năng thanh toán hay khả năng tài
chính của nhà thầu đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, khả quan hay không.
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh: là tỉ số giữa tổng số tiền có thể sử dụng để
thanh toán với số tiền cần phải thanh toán; hệ số khả năng thanh toán nhanh = (Tài
sản ngắn han – Hàng tốn kho)/ nợ ngắn hạn.
Khi phân tích khả năng thanh toán của nhà thầu, cần kết hợp so sánh giữa
phân tích các khoản phải thu với các khoản phải trả để đưa ra kết luận chính xác
nhất về tình hình thanh toán của nhà thầu.
* Tình hình rủi ro về tài chính của nhà thầu
Bởi nguồn vốn đáp ứng nhu cầu trong bảo lãnh thực hiện hợp đồng và ứng
vốn của các nhà thầu xây dựng chủ yếu vẫn là nguồn vốn đi vay. Vì vậy khả năng
vay vốn rễ hay khó có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của các nhà
thầu. Tuy vậy, với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần đưa ra các quyết định
thận trọng trong việc đầu tư sử dụng nguồn vốn này. Phân tích tình hình rủi ro về tài
chính của nhà thầu cũng dựa trên những số liệu này. Cụ thể như:
+ Hệ số nợ trên tổng tài sản: là tỉ lệ giữa tổng số nợ so với tổng tài sản của nhà
thầu. Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 đồng tổng tài sản thì có bao nhiêu đồng là do
đi vay. Một hệ số nợ cao sẽ có ảnh hưởng xấu đến khả năng huy động vốn cho việc
thi công.
+ Hệ số thanh toán lãi vay: là tỉ lệ giữa lãi thuần từ hoạt động sản xuất kinh
doanh cộng với các chi phí lãi vay so với số lãi vay phải trả. Chỉ tiêu này phản ánh
cứ một đồng lãi vay phải trả của nhà thầu thì thu được bao nhiêu đồng lãi trước thuế
và chi phí trả lãi vay.
SV: Nguyễn Hữu Thắng
11
thấp hơn liền kề.
+ Đã phụ trách kỹ thuật thi công xây dựng của 2 công trình tương tự.
- Người phụ trách kỹ thuật thi công phải có trình độ đại học trở lên thuộc
chuyên ngành xây dựng phù hợp với chuyên môn kỹ thuật đảm nhiệm và đáp ứng
được một trong các điều kiện sau:
+ Đã phụ trách kỹ thuật thi công của 1 công trình cùng loại, cùng cấp.
+ Đã phụ trách kỹ thuật thi công của 2 công trình cùng loại, cấp thấp hơn liền kề.
SV: Nguyễn Hữu Thắng
12
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
+ Đã là cán bộ kỹ thuật thi công các công trình tương tự trong thời gian ít nhất
3 năm.
* Đối với nhà thầu là tổng thầu:
- Đối với tổng thầu thiết kế: Đã từng làm tổng thầu thiết kế cho ít nhất 1 công
trình tương tự hoặc thầu chính thiết kế 2 công trình tương tự;
- Đối với tổng thầu Xây lắp: Đã từng là tổng thầu xây lắp 1 công trình tương
tự hoặc thầu chính xây lắp 2 công trình tương tự.
- Đối với tổng thầu thiết kế và xây lắp: Đã làm tổng thầu thiết kế và xây lắp
hoặc tổng thầu xây lắp 1 công trình tương tự.
- Đối với tổng thầu EPC: Đã từng làm tổng thầu EPC hoặc tổng thầu thiết kế
và xây lắp hoặc tổng thầu xây lắp 1 công trình tương tự hoặc thầu chính xây lắp 3
công trình tương tự.
- Đối với tổng thầu chìa khóa trao tay: Đã từng làm tổng thầu chìa khóa trao
tay 1 dự án tương tự hoặc tổng thầu EPC hoặc tổng thầu thiết kế và xây lắp 1 công
trọng như thuyết minh giải pháp kỹ thuật, biện pháp thi công và chỉ huy công trình. Do
đó nâng cao trình độ cho các cán bộ tham gia đấu thầu cũng chính là nâng cao chất
lượng của Hồ sơ dự thầu và nâng cao khả năng trúng thầu của công ty.
Nhìn chung, khi đề cập tới mối quan hệ này có thể xem xét trên các phương
diện khác nhau nhưng chung quy lại phải thấy rõ vai trò hết sức quan trọng của việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên đối với công tác dự thầu trong
xây dựng và ngược lại.
Khi đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực của một doanh nghiệp xây dựng
chúng ta chủ yếu phân tích 2 mặt chính sau: Quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực và
chính sách đào tạo, tuyển dụng của doanh nghiệp:
* Sự biến động quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực theo thời gian:
Quy mô nguồn nhân lực là chỉ tiêu khái quát chung giúp chủ đầu tư đưa ra
nhận định ban đầu về năng lực của nhà thầu, sự lớn mạnh về nguồn nhân lực là một
minh chứng cho sự lớn mạnh của công ty. Tuy nhiên, để làm rõ chất lượng nguồn
nhân lực của nhà thầu, chúng ta cần phải phân tích được cơ cấu nguồn nhân lực đó
như thế nào. Đối với nhà thầu xây dựng nguồn nhân lực gồm 3 bộ phận chính:
+ Công nhân kĩ thuật: Là lực lượng lao động trực tiếp, được đào tạo để có một
nghề thi công chuyên sâu nhất định, góp phần quyết định tới năng suất và chất
lượng thi công của các công trình. Công nhân kĩ thuật trực tiếp thi công công trình
do đó chất lượng công trình phụ thuộc nhiều vào trình độ tay nghề, bậc thợ của
công nhân chính vì vậy việc lựa chọn công nhân đủ năng lực kinh nghiệm, trình độ
tay nghề để trực tiếp thi công là vấn đề cần được hết sức quan tâm.
+ Các bộ quản lí kinh tế, cán bộ kĩ thuật: Là đội ngũ quản lí, lao động gián
tiếp, được đào tạo chuyên môn về nghiệp vụ quản lí kinh tế và kĩ thuật cao, có vai
trò quyết định trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và nâng cao năng suất lao động.
+ Cán bộ lãnh đạo: Là cấp quản lý cao nhất, là những người đưa ra quyết sách
quan trọng của doanh nghiệp. Đây là bộ phận ít người nhất nhưng lại có sức ảnh
hưởng lớn nhất đến sự phát triển của công ty vì cán bộ lãnh đạo là những người
định hướng kinh doanh cho doanh nghiệp, nắm trong tay mọi quyền điều hành.
hiệu quả chỉ có thể đạt được khi nhà thầu biết đầu tư và sử dụng đúng, đủ, kịp thời
máy móc thiết bị của mình. Một nhà thầu với lực lượng xe máy, thiết bị đồng bộ
chắc chắn sẽ làm việc hiệu quả hơn là huy động thật nhiều thiết bị nhưng không ăn
khớp với nhau trong hoạt động.
Năng lực về xe máy, thiết bị thi công sẽ được các nhà thầu giới thiệu trong
hồ sơ dự thầu của mình, nó chứng minh cho bên mời thầu biết khả năng huy động
nguồn lực về xe máy thi công công trình đáp ứng yêu câù của chủ đầu tư. Năng lực
về thiết bị sẽ được đánh giá qua các nội dung sau:
+ Nguồn lực về máy móc thiết bị và xe máy thi công của doanh nghiệp thể
hiện thông qua tổng giá trị các tài sản là máy móc thiết bị và xe máy thi công hiện
có của doanh nghiệp về số lượng, chủng loại của các máy móc thiết bị đó. Nếu
SV: Nguyễn Hữu Thắng
15
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
nguồn lực này không đảm bảo doanh nghiệp phải đi thuê phục vụ cho thi công sẽ
ảnh hưởng đến khả năng tranh thầu.
+ Trình độ hiện đại của công nghệ sản xuất, tức là các máy móc thiết bị công
nghệ của doanh nghiệp sử dụng có hiện đại so với trình độ công nghệ hiện tại trong
ngành xây dựng hay không.Trình độ hiện đại của công nghệ được thể hiện qua các
thông số kỹ thuật về đặc tính sử dụng, công suất và phương pháp sản xuất của công
nghệ hoặc có thể đánh giá qua thông số về năm sản xuất, quốc gia sản xuất và giá trị
còn lại của máy móc thiết bị .
+ Mức độ hợp lý của thiết bị xe máy và công nghệ hiện có, tức là tính đồng bộ
Chuyên đề thực tập
được nguồn cung cấp ổn định các nhu cầu đầu vào này với chất lượng cao và chi
phí hợp lí sẽ đảm bảo được tiến độ, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế của các
công trình. Và đây cũng là một điểm mạnh trong cạnh tranh đấu thầu nếu khả năng
cung ứng nội bộ của doanh nghiệp thực sự được các chủ thầu đánh giá cao. Năng
lực cung ứng của nhà thầu được thể hiện bởi các mặt sau:
+ Năng lực cung ứng nguồn nhân lực: Nhà thầu có thể đáp ứng nhu cầu này
bằng nhiều cách khác nhau như: Điều động nhân lực từ các công trình khác về hỗ
trợ, tuyển dụng nhân lực địa phương vào làm việc hoặc ký hợp đồng tạm thời cung
cấp nhân lực đối với các trường dạy nghề, các trung tâm đào tạo. Tuy nhiên, để
cung ứng được nguồn nhân lực trong dài hạn thì doanh nghiệp cần phải có định
hướng đúng đắn trong việc tuyển dụng, đào tạo và chế độ đãi ngộ xứng đáng với
công nhân của mình để đảm bảo quá trình sản xuất hoạt động thông suốt liên tục.
+ Năng lực cung ứng máy móc thiết bị: Đối với doanh nghiệp xây dựng thì
máy móc thiết bị là vấn đề tối quan trọng trong quá trình thi công. Chính vì vậy việc
cung ứng đầy đủ nhanh chóng, kịp thời các thiết bị máy móc phục vụ thi công là
điều mà các doanh nghiệp cần chú trọng. Để làm được điều này thì các nhà thầu nên
tìm cho mình những hợp đồng kinh doanh, xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các
nhà sản xuất, các doanh nghiệp cho thuê máy để đáp ứng kịp thời nhu cầu của mình.
+ Năng lực cung ứng nguyên, nhiên vật liệu: Trong thi công xây dựng công
trình thì yếu tố đầu vào nguyên, nhiên vật liệu luôn có ý nghĩa quyết định đến tiến
độ và chất lượng công trình. Mặt khác, nguyên nhiên vật liệu cung cấp luôn chiếm
lượng vốn rất lớn trong quá trình xây dựng nên khả năng cung ứng của doanh
nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào khả năng tài chính của nhà thầu và các mối quan hệ
giữa nhà thầu với các nhà cung ứng.
+ Năng lực cung ứng dịch vụ: Cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác, trong
lĩnh vực xây dựng cũng không thể thiếu được các dịch vụ kèm theo như: dịch vụ
vận tải, tư vấn, thiết kế, giám sát ... Tuy không trực tiếp tham gia vào thi công
và đặc tính kỹ thuật cụ thể của công việc phù hợp với các quy định hiện hành của
Nhà nước, Bộ Xây Dựng, các cơ quan quản lý. Cơ sở để tính các yếu tố chi phí phải
được nêu đầy đủ, rõ ràng, có giải thích cụ thể lý do áp dụng.
Khi xét thầu, do quy luật về hành vi tiêu dùng, bên mời thầu sẽ lựa chọn nhà
thầu có mức giá thấp nhất khi đã quy đổi được khả năng đáp ứng của các nhà thầu
đối với các tiêu chuẩn khác về cùng một mặt bằng đánh giá. Vì vậy giá dự thầu là
một nhân tố chính quyết định khả năng thắng thầu của doanh nghiệp. Để đạt mục
tiêu thắng thầu doanh nghiệp phải xác định được một mức giá dự thầu hợp lý. Tuy
nhiên, mức giá dự thầu này phải thấp hơn dự toán của chủ đầu tư nếu không doanh
nghiệp sẽ bị loại mà không cần xét tới các chỉ tiêu khác. Giá dự thầu cũng không
được thấp hơn dưới mức đảm bảo chất lượng công trình. Vì vậy, việc đưa ra một dự
đoán chính xác về giá dự thầu sẽ làm cho khả năng thắng thầu của doanh nghiệp
được nâng cao rõ rệt. Ngược lại, nguy cơ trượt thầu vì giá dự thầu không hợp lý là
một vấn đề cần được các doanh nghiệp quan tâm nghiên cứu hơn nữa.
3. Các yếu tố tác động tới khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh
nghiệp xây dựng
SV: Nguyễn Hữu Thắng
18
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
3.1. Kinh nghiệm nhà thầu
Kinh nghiệm là một trong số nhiều yếu tố quan trọng đối với nhà thầu xây
dựng. Đây cũng là một đòi hỏi chính đáng của chủ đầu tư vì công trình xây dựng là
những sản phẩm quan trọng và là thứ “hàng hoá” đặc biệt không thể thường xuyên
thay đổi, hay xây dựng mới. Một nhà thầu mới bước chân vào thị trường, vốn dù
19
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
Qua được “vòng loại” tức là đánh giá hồ sơ sơ tuyển, các nhà thầu bây giờ
mới thực sự bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt khi bên mời thầu tiến hành đánh giá
chi tiết hồ sơ dự thầu, mà trong đó năng lực tài chính là yếu tố được xem xét hàng
đầu và cũng là yếu tố chủ đạo tạo ra sự khác biệt giữa các nhà thầu, còn năng lực kĩ
thuật, thật ra đã vào đến vòng này thì hầu hết các nhà thầu đều đảm bảo rất tốt về
mặt kĩ thuật, do vậy “tài chính” chính là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới cuộc cạnh
tranh trong lúc này.
Phần lớn các công trình xây dựng đều được tiến hành với số vốn không nhỏ,
mà chủ thầu lại phải chi phần nhiều số vốn đó cho việc tiến hành thi công công
trình, thường là chỉ đến khi hoàn thành được 80% công việc nhận thầu thì chủ đầu
tư mới thanh toán cho nhà thầu theo đợt hoặc theo thỏa thuận từ trước. Chính vì thế
mà chủ thầu xây dựng phải đảm bảo các điều kiện về năng lực tài chính: vốn tự có,
vốn vay, lợi nhuận ba năm liên tiếp, thu nhập bình quân của lao động trong doanh
nghiệp... theo đúng các yêu cầu mà bên mời thầu đưa ra. Đảm bảo được những điều
này nhà thầu có thể tạo niềm tin trong lòng đối tác là các nhà đầu tư, đồng thời bên
mời thầu cũng được đảm bảo về mặt tiến độ, chất lượng, cũng như chi phí để hoàn
thành công trình. Nhược bằng nhà thầu không thể đáp ứng những điều kiện mà bên
mời thầu đã nêu ra trong hồ sơ mời thầu thì sẽ không có tư cách để tham gia gói
thầu này. Đó là điều hiển nhiên không thể chối cãi , vì tất cả những yêu cầu về năng
lực tài chính là những tiêu chí cơ bản cho thấy khả năng tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, nhà đầu tư cần hợp tác với một doanh nghiệp “đang sống” chứ
không cần làm ăn với một doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, nợ nần chồng
chất, đời sống công nhân viên không được đảm bảo thì họ làm sao có thể yên tâm
3.4. Mức độ đáp ứng các mục tiêu của chủ đầu tư
Các yêu cầu mà chủ đầu tư đưa ra trong hồ sơ mời thầu đòi hỏi các nhà thầu
khi tham gia đấu thầu phải tuân thủ nghiêm ngặt các nội dung cũng như thứ tự sắp
xếp các nội dung trong đó, đặc biệt bên mời thầu quan tâm nhiều đến mục tiêu quan
trọng đó là: Hiệu quả. Với mục tiêu này yêu cầu chủ đầu tư phải đảm bảo cả về mặt
chi phí hợp lí lẫn thời gian hoàn thành công việc. Bên cạnh đó nhà thầu cũng cần
phải tham dự đấu thầu một cách trong sáng, cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo
không có gì thiên vị hay khuất tất. Tóm lại bốn mục tiêu mà cả bên mời thầu lẫn
nhà thầu đều quan tâm , đó là làm sao đảm bảo tính hiệu quả, cạnh tranh, công bằng
và minh bạch. Ngoài ra vì là khách hàng nên bên mời thầu có quyền bỏ tiền ra mua
sản phẩm hợp ý mình, cho nên nhà thầu vì thế phải đảm bảo những yêu cầu mà bên
mời thầu đưa ra. Nếu không thể làm được hoặc không làm đúng theo những yêu cầu
đó nhà thầu có thể không tham gia dự thầu hoặc sẽ bị loại khỏi cuộc chơi đó.
Như vậy bên cạnh việc xem xét những yếu tố về giá, kinh nghiệm và tài
chính, việc đưa ra những mục tiêu tối cần thiết và bắt buộc đối với các nhà thầu
nhằm tạo ra một sân chơi lành mạnh cho các nhà thầu khi tham dự vào cuộc đấu
thầu cũng là một trong số những tiêu chí có tầm quan trọng ảnh hưởng lớn tới sức
cạnh tranh trong đấu thầu của các nhà thầu.
SV: Nguyễn Hữu Thắng
21
Lớp: Kinh tế phát triển 48B
Chuyên đề thực tập
III. SỰ CÂN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
1.2. Đặc điểm đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng
SV: Nguyễn Hữu Thắng
22
Lớp: Kinh tế phát triển 48B