QUẢN LÝ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG THCS SỐ I BẮC LÝ - Pdf 33

TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH QUẢNG BÌNH
LỚP TRUNG CẤP CHÍNH TRỊ HỆ TẠI CHỨC-ĐỒNG HỚI


TIỂU LUẬN CUỐI KHOÁ
Đề tài:
QUẢN LÝ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG THCS SỐ I BẮC LÝ

1


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
2
Lý do chọn đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2
NỘI DUNG
4
I/ Những cơ sở khoa học của việc quản lí nội dung
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy các môn học ở trường trung học cơ sở.
4
1/ Lý luận Mác-Lê nin về vị trí giáo dục-Đào tạo.
4
2/ Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt nam, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Giáo dục- Đào tạo.
4
3/ Vị trí , vai trò,nhiệm vụ giáo viên trung học cơ sở.

QUẢN LÝ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG THCS SỐ I BẮC LÝ

2


MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Dân tộc Việt Nam ta đã trải qua bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và
giữ nước. Dân tộc đã chịu bao mất mát nhưng chưa bao giờ chịu mất đạo lý,
đã từng chịu bao thiếu thốn nhưng chưa bao giờ thiếu nghĩa tình. Thực có ý
nghĩa khi đạo lý và tình nghĩa ấy, dân tộc đã giành được một phần quan
trọng cho những người làm nghề dạy học. Bởi vì, xét trong ý nghĩa sinh
thành lẫn nhau của nhề nghiệp thì nghề dạy học được xem như là mẹ của tất
cả các nghề. Có nhà bác học, nhà văn, nhà chính trị nào là không đã từng là
học sinh được người thầy khai tâm, dìu dắt. Truyền thống ấy, được dân ta,
Đảng ta gìn giữ, trân trọng và phát huy mãi mãi trường tồn.
Nghề dạy học có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo,
rèn luyện thế hệ trẻ. Nghề dạy học không chỉ quan trọng là phát triển trí tuệ,
nhân cách con người, mà còn ở mức cao hơn là góp phần nâng cao đời sống
xã hội và kinh tế Quốc dân.
Tập thể sư phạm trong nhà trường là tập thể lao động, đặc biệt trong
đó có đội ngũ giáo viên là nguồn nhân lực quí báu, có vai trò quyết định chất
lượng giáo dục trong nhà truờng, góp phần to lớn tạo nên “tiềm lực trí tuệ”
của con người Việt Nam, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi bàn đến vị trí, vai trò của người
thầy giáo đã từng nói: “Thầy giáo là nhân vật trung tâm trong nhà trường, là
người quyết định tạo nên những con người mới XHCN. Vậy thầy giáo phải
không ngừng phấn đấu vươn lên rèn luyện, tu duỡng về mọi mặt để xứng

mới; đổi mới phương pháp dạy học. Những công việc này do đội ngũ giáo
viên làm. Điều bất cập ở đây là đại đa số đội ngũ giáo viên nói chung, giáo
viên THCS nói riêng còn non yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ đào
tạo không đảm bảo theo quy định của bộ luật GD-ĐT. Do đội ngũ giáo viên
THCS của ta được đào tạo rất đa dạng, đào tạo qua nhiều thế hệ mà trong
quá trình công tác lại chưa được học tập, bồi dưỡng thường xuyên, kiến thức
ngày càng bị mai một. Phương pháp giáo dục xơ cứng, không đáp ứng được
yêu cầu xã hội. Thực trạng này đã được chỉ rõ ở nghị quyết IV khoá VII và
nghị quyết II khoá VIII của Đảng. Vì thế, trong công tác quản lý giáo dục tại
cơ sở, suy nghĩ về quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn
nghiệp vụ sư phạm để nâng cao chất lượng giảng dạy là một việc làm mang
ý nghĩa chiến lược thời đại và là tiếng gọi tha thiết của lương tâm người
quản lý giáo dục trong một trường học cụ thể.
Xuất phát từ những vấn đề trên, kết hợp với sự ham hiểu biết muốn
học hỏi của bản thân, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài này, nhằm góp phần
vào việc quản lý nội dung bồi dưỡng giáo viên của ngành đáp ứng kịp với
yêu cầu giáo dục đặt ra hiện nay.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những tài liệu, văn bản quy phạm: Điều lệ trường phổ thông;
quy định về mục tiêu, kế hoạch giáo dục trường THCS.
- Nghiên cứu tìm hiểu thực tế công tác quản lý nội dung bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học; Một số biện pháp
quản lý nội dung bồi dưỡng giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy các
môn học tại trường THCS số 1 Bắc Lý.
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: từ năm 2001-2003.
- Địa điểm: Trường THCS số 1 Bắc Lý-Thị xã Đồng Hới.
Do điều kiện công tác của bản thân, thời gian nghiên cứu chưa nhiều, tài liệu
nghiên cứu còn hạn chế. Công tác thực tế hạn hẹp nên nội dung đề tài chưa

và sự thành đạt của cá nhân đều xuất phát từ cái nội dung là GD.
Như vậy, ở những nước có nền kinh tế phát triển, là những nước đầu
tư ngân sách cho GD-ĐT một cách hợp lý và đúng hướng. Bởi vì, con người
là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, mỗi thời đại mới đều được chuẩn tập trung
vào con người, chủ thể của lịch sử, chủ thể của mọi quá trình biến đổi xã
hội. Thời kì đất nước ta đổi mới cũng vậy.
2/ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ GD-ĐT

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dù bất luận
trong hoàn cảnh nào các nhà lãnh đạo đất nước cũng luôn quan tâm đến GD,
luôn coi trọng GD, coi trọng tri thức. Truyền thống tôn sư trọng đạo được
ông cha ta lưu truyền trong dân gian: “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn
con hay chữ thì yêu lấy thầy”, hoặc: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. “Tôn sư
trọng đạo” đã trở thành truyền thống đẹp đẽ của dân tộc ta. Trải qua các thời
kì lịch sử của xã hội người thầy được xã hội xếp sau vua “Quân- sư- phụ”.
Trên đường đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã khảo sát thực tế các
dân tộc ở nhiều nước. Bác hiểu sâu sắc lịch sử các dân tộc, Bác đánh giá
cao vai trò, vị trí của nền dân trí. Sau cách mạng tháng Tám, Bác đề ra
nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam là: Chống giặc đói, chống giặc
dốt, chống giặc ngoại xâm. Nhiệm vụ chống giặc dốt được Bác Hồ đặt ở vị
trí thứ hai vì “Có thực mới vực được đạo”. Bác nói: “Một dân tộc dốt là một
dân tộc yếu”. Trong thư Bác Hồ gửi cho học sinh nhân ngày khai trường
tháng 9 năm 1945, Bác dạy học sinh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi
đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với
5


các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học
tập của các em”.

đại hoá ở nước ta cần có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự,
vừa có bước nhảy vọt... Coi phát triển GD-ĐT, khoa học công nghệ là nền
tảng và động lực của sự phát triển”. “Phát triển GD-ĐT là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con người ...”
Trước yêu cầu mới của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện
đại hoá đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hoá,
chúng ta cần phải phát triển nhanh hơn, mạnh hơn hiệu quả GD-ĐT, khoa
học và công nghệ. Tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới nhất
của thời đại để hiện đại hoá nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
6


theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, từng bước phát triển kinh tế tri
thức có năng lực cạnh tranh với giá trị gia tăng ngày càng cao.
3/ VỊ TRÍ VAI TRÒ NHIỆM VỤ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THCS TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Vị trí:
Đến xã hội hiện đại, nhân loại văn minh trên thế giới vẫn đều tôn vinh
nghề dạy học. Trong nhật kí của mình, Lênin viết: “ Phải đặt Giáo viên của
đất nước chúng ta lên một tầm cao mà trong xã hội tư sản từ trước tới nay và
về sau không thể có được”. Đó là mong muốn cao đẹp của một vị lãnh tụ vĩ
đại của giai cấp vô sản toàn thế giới.
Đọc và làm theo suy nghĩ của Lênin, Đảng ta đánh giá cao vai trò của
người thầy. Bác Hồ kính yêu đã khẳng định: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo
thế hệ trẻ sau nay tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS. Người thầy
tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không
đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy
giáo tốt là những anh hùng vô danh...Vì nghề thầy giáo là nghề rất quan



trao cho. Người quản lý chỉ đạo toàn diện việc vận hành guồng máy nhà
trường, phối hợp nhịp nhàng các hoạt động. Đòi hỏi người quản lý phải sáng
tạo và có nghệ thuật điều hành nội dung quản lý.
Đội ngũ giáo viên là một bộ phận cấu thành chủ yếu quan trọng nhất
trong tập thể sư phạm. Bất kì một trường học nào thì hoạt động giảng dạy là
chất liên kết mọi giáo viên trong trường. Vai trò của đội ngũ giáo viên có
ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.
Các em hình thành những nét phẩm chất và nhân cách thông qua hoạt động
và giao lưu. Trong nhà trường các em hoà nhập vào các mối quan hệ thầytrò, trò-trò. Thông qua những mối quan hệ đó làm nảy nở những nét phẩm
chất, nhân cách tạo nên phong phú vốn kiến thức. Trong mối quan hệ thầytrò thì thầy giữ vai trò quan trọng, vì trong suy nghĩ của các em thì hình ảnh
của người thầy trở nên thần tượng, thành mẫu hình để các em vươn tới.
Nhiệm vụ:
Để xứng đáng với trọng trách mà xã hội giao phó, xứng đáng với
những tên gọi thân thương trìu mến: Người giáo viên là “kĩ sư tâm hồn”, là
“người trồng hoa cho đất nước”. Nhiệm vụ của người giáo viên thật nặng nề.
Xã hội phát triển cần một lớp người có văn hoá, có trình độ tay nghề cao.
Yêu cầu của xã hội lại đặt ra cho GD-ĐT một thử thách lớn. Mọi ngành học,
cấp học nói chung và giáo dục THCS nói riêng phải chuyển mình để theo
kịp sự đổi mới về chương trình, nội dung sách giáo khoa mới, bắt kịp nền
giáo dục của thế giới.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về việc ban hành điều lệ
trườngTHPT số 3257/GD-ĐT ngày 8 tháng 11 năm 1994 có ghi rõ nhiệm vụ
giáo viên THCS là:
Nhiệm vụ của giáo viên bộ môn:
-Giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình, kế hoạch dạy học, kế hoạch
giáo dục: soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm, ghi học bạ đầy đủ; lên lớp đúng giờ;
không tuỳ tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động
giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;

Giáo viên THCS phải là người có đạo đức trong sáng, nhận thức đúng
đắn về quan điểm, đường lối của Đảng. Đặc biệt là quan điểm của Đảng về
giáo dục. Vận dụng quan điểm chính thống vào giảng dạy. Kiên định đi theo
con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
Không ngừng nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị để làm nền tảng
cho công tác chuyên môn của mình.
Trong môi trường văn hoá nhà trường, giáo viên không thể đến với
học sinh một cách tuỳ tiện mà phải tuân theo chuẩn mực nhà trường. Tri
thức giáo viên đưa đến cho học sinh phải là tri thức khoa học, chuẩn mực
cuộc sống giáo viên đưa đến cho học sinh phải là chuẩn mực nhà trường.
Trong nhà trường THCS, giáo viên đến với học sinh không phải bằng
phương pháp thuyết trình cổ điển, mà phải là người trọng tài, tổ chức, điều
khiển các hoạt động, học tập của học sinh. Khi dạy điều gì, môn gì, nội dung
gì, giáo viên phải giao việc, hướng dẫn rồi tổ chức cho học sinh làm. Dạy
học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. “Một thầy giáo
tồi là người truyền đạt chân lý cho học sinh. Một thầy giáo giỏi là người
giúp học sinh đi tìm chân lý ấy”.
5/ QUẢN LÝ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG THCS

*/ Nội dung bồi dưỡng:
+ Bồi dưỡng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp:
- Về tư tưởng, chính trị, đạo đức:
Người giáo viên THCS phải là người trung thành với sự nghiệp cách
mạng của Đảng. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng,
Pháp luật của nhà nước, không ngừng nâng cao nhận thức chính trị. Luôn có
ý thức yêu lao động, trọng lẽ phải, có tinh thần làm chủ tập thể. Làm việc
khoa học, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến phương pháp công tác, hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao. Không ngừng học tập tu dưỡng về kiến thức,
chuyên môn nghiệp vụ.

trò tổ chức hướng dẫn của giáo viên. Cùng với việc bồi dưỡng những tri
thức khoa học, phương pháp giảng dạy bộ môn, còn phải bồi dưỡng năng
lực hoạt động tập thể, năng lực thuyết phục cảm hoá học sinh, khả năng hoà
nhập, tiếp cận các đối tượng, ứng xử tình huống sư phạm, bồi dưỡng kĩ năng
văn nghệ, thể dục thể thao...
+ Bồi dưỡng vật chất, tinh thần cho đội ngũ GV THCS:
Ông cha ta thường nói: “Có thực mới vực được đạo”. Muốn có chất
lượng giảng dạy tốt thì trước hết đội ngũ giáo viên phải có một cuộc sống
vật chất, tinh thần ổn định. Quản lý nhà nước đối với trường học không chỉ
chú ý đến quản lý công việc ở trường của GV mà phảỉ quan tâm thăm hỏi,
chăm sóc đến đời sống, sinh hoạt ở gia đình đồng nghiệp. Nếu chỉ quan tâm
đến chất lượng giảng dạy, công tác của GV là chưa đủ, chưa phải là quản lý
nhà trường tốt. Ngày nay kinh tế xã hội đã phát trtiển, cuộc sống của GV
cũng tạm đỡ vất vả. Nhưng đại đa số GV vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
cuộc sống còn khó khăn. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
giảng dạy và hoạt động của GV. Quản lý nhà trường quan tâm đúng mức
đến đời sống GV cả vật chất lẫn tinh thần chính là quản lý tốt chất lượng
giảng dạy và công tác của GV, cũng chính là quản lý tốt tới sự phát triển của
nhà trường. Công tác quản lý, đòi hỏi người hiệu trưởng phải biết chăm lo
đội ngũ GV của đơn vị mình cả về vật chất lẫn tinh thần.
10


*/ Hình thức quản lý nội dung bồi dưỡng:
Hiệu trưởng phải tham mưu với Phòng Giáo dục để gửi GV đi đào tạo
theo các hệ dài hạn (chuyên tu) hoặc hệ ngắn hạn (tại chức) để GV nâng cao
trình độ chuyên môn phục vụ tốt cho việc giảng dạy.
Hiệu trưởng quản lý có kế hoạch công tác bồi dưỡng thường xuyên
theo các nội dung bồi dưỡng từng chu kỳ của Bộ được triển khai hàng năm.
Hiệu trưởng quản lý công tác tự bồi dưỡng và tổ chức các hoạt động

bồi dưỡng bản thân mình, tạo cho mình đủ uy tín chuyên môn trong tập thể
GV. Người hiệu trưởng phải là mẫu lý tưởng về công tác tự bồi dưỡng, trau
dồi chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, xứng đáng là tấm gương sáng cho GV
noi theo, xứng đáng là con chim đầu đàn, là chỗ dựa vững chắc cho đội ngũ
GV trong trường.
II/ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CÁC
MÔN HỌC CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THCS SỐ 1 BẮC LÝ
11


1/ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH GIÁO DỤC Ở PHƯỜNG BẮC LÝ

Phường Bắc Lý được thành lập từ năm 1992, được chia tách từ xã Lý
Ninh, một xã mà đã có phong trào giáo dục mạnh mẽ trong những năm đổi
mới. Phường Bắc Lý có diện tích 2290 ha, dân số với 2580 hộ, 12568 nhân
khẩu, được chia thành 15 tiểu khu. Đây là phường vừa rộng về diện tích, vừa
đông về dân số tập hợp người dân của 35 tỉnh thành. Kinh tế đa dạng: Nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, buôn bán nhỏ. Phường Bắc Lý là
vùng công nghiệp phía Bắc của thị xã Đồng Hới, nơi hội tụ của giao thông,
nơi giao lưu của buôn bán. Tình hình chính trị cơ bản ổn định, tình hình đời
sống nhân dân đang gặp nhiều khó khăn còn 25% hộ nghèo.
Trên địa bàn Phường có 6 trường:
-2 trường mầm non
-2 trường tiểu học
-2 trường THCS
GD Bắc Lý được Đảng ủy, ủy ban và nhân dân rất quan tâm. Hội đồng
nhân dân Phường có đề án về giáo dục Bắc Lý 2001-2005. Các trường học
của Bắc Lý là những đơn vị tiên tiến xuất sắc, đơn vị tiên tiến của giáo dục
Đồng Hới.

Ba năm 2001, 2002, 2003 Trường THCS số 1 Bắc Lý đạt trường tiên tiến
xuất sắc.
Về trình độ đào tạo: Bản thống kê của trường năm học 2000- 2001:
Tổng Nam Nữ
Độ tuổi
Hệ đào tạo
số
25-30 31-55 56
10 + 3 CĐ ĐH Trên ĐH
35
8
27
1
31
3
6
14
15
0
Nhìn vào bảng ta thấy đội ngũ giáo viên của trường được đào tạo ở
nhiều hệ khác nhau. GV đạt chuẩn bậc THCS là từ CĐSP : 29đồng chí.
Số GV trên chuẩn: Không
GV nữ :27 đ/c
GV già
Từ 31-35 tuổi: 31đ/c
Từ 56 tuổi trở lên: 3 đ/c
Chỉ có 1 GV tuổi 30.
Sau ba năm triển khai quản lý nội dung bồi dưỡng đội ngũ GV nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy các môn ở trường THCS số 1 Bắc Lý, bước
đầu đã đạt được một số kết quả đáng phấn khởi như sau:


10+3
18
16
6

ĐH
9
11
15

Kết quả bồi dưỡng đội ngũ GV:
Năm học
2000-2001
2001-2002
2002-2003

TS
GV
35
35
35

Đảng GV
viên giỏi
13
5
16
9
23

TTXS
13


Kết quả chất lượng học sinh qua hàng năm:
Năm học

HS đạt
Hạnh kiểm
Học lực
giải
T% K% TB% G% K% TB
%

2000-2001
2001-2002
2002-2003

13
35
51

51
58
65

41
36
30


trở ngại lớn. Vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà trường là phải làm sao
mà trên cơ sở thực tế trẻ hóa được đội ngũ, từng bước nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học cho đội
ngũ giáo viên là cả một công việc của người quản lý và tập thể GV THCS số
1 Bắc Lý.
Chất lượng giảng dạy các môn học của GV qua kiểm tra năm học 20002001
Môn học
Dạy đạt yêu cầu trở lên
Dạy chưa đạt yêu cầu
Số lượng
%
Số lượng
%
Toán
469
61
300
39
Văn-Tiếng việt 515
67
254
33

574
75
195
25
Hóa
551
72

386
37
Thể dục
701
93
68
7
Chất lượng học tập của học sinh đối với các bộ môn thiếu hào hứng
phấn khởi, hàng năm số học sinh thi lại các môn từ 18-20%, học sinh giỏi
các bộ môn bị hạn chế. Đặc biệt là các môn học cơ bản như Toán-Lý-VănAnh.
Đạo đức của học sinh cũng diễn ra nhiều vấn đề: Các biểu hiện càn
quấy ngoài lớp học, trêu chọc GV lúc giảng bài, biểu hiện chấn lột lẫn nhau,
không có ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu trách nhiệm trong bảo vệ CSVC nhà
trường.
Nguyên nhân của vấn đề trên thì có nhiều, nhưng có các nguyên nhân
chủ yếu sau:
14


- Công tác quản lý nội dung bồi dưỡng đội ngũ GV thiếu kế hoạch dài hạn,
Hiệu trưởng nhà trường chưa đặt đúng vị trí, vai trò công tác bồi dưỡng GV,
chưa quản lý được nội dung bồi dưỡng theo yêu cầu mà sự nghiệp đổi mới
đòi hỏi. Bồi dưỡng nội dung gì? Đối tượng nào cần bồi dưỡng, mặt nào chưa
được cụ thể mà mới là nêu ra bồi dưỡng cho tất cả GV.
- Công tác quản lý nội dung bồi dưỡng đội ngũ GV chưa tranh thủ được sự
lãnh đạo của chi bộ Đảng trong nhà trường. Hay nói cách khác: Đảng chưa
lãnh đạo công tác bồi dưỡng đội ngũ GV, một số cá nhân Đảng viên chưa
thấy được tầm quan trọng của tự học để chuẩn hóa trình độ; Tự rèn để xứng
đáng với vị trí, vai trò người thầy giáo. Một số tiết dạy chưa đạt yêu cầu
trong đó vẫn có Đảng viên. Chi bộ chưa làm tốt công tác xây dựng tổ chức

1/ PHƯƠNG HƯỚNG:

Quán triệt tinh thần Nghị quyết TW IV(khóa VII), nghị quyết TWII
(khóa VIII), kết luận của hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành TW Đảng khóa
15


IX và chỉ thị nhiệm vụ năm học của Bộ GD-ĐT. Căn cứ vào tình hình thực
tế của đội ngũ GV trước yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới mạnh mẽ nội dung,
phương pháp dạy học các môn ở trường THCS. Trường THCS số I Bắc Lý
triển khai toàn diện, đồng bộ với các bước đi phù hợp, tích cực có hiệu quả
nội dung bồi dưỡng đội ngũ GV nhằm nâng cao chất lượng dạy tốt các môn
học.
2/ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN HỌC Ở
TRƯỜNG THCS SỐ I BẮC LÝ:

2.1/ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp GD-ĐT nói
chung và nội dung bồi dưỡng đội ngũ GV nhằm nâng cao chất lượng dạy
học các môn ở trường THCS:
Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, là đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc,
phục vụ nhân dân. Lịch sử cách mạng Việt Nam chứng tỏ rằng: Sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam.
Giáo dục Phổ thông là một bộ phận của nền GD quốc dân, nó nằm
trong chiến lược con người, là bộ phận của Cách mạng XHCN, với mục tiêu
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để thúc đẩy kinh tế-xã

thần cảnh giác cách mạng, chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện tốt
nhiệm vụ trên đây, đòi hỏi cấp ủy Đảng phải làm tốt công tác thông tin định
kì để cán bộ giáo viên tiếp cận nhanh với chủ trương, chính sách đổi mới
của Đảng và nhà nước. Đồng thời với việc củng cố tổ chức và hoạt động của
chi bộ Đảng trong trường học, cần phải làm tốt công tác phát triển Đảng
viên mới trong đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Đây là nhiệm vụ
thường xuyên, nhưng đối với trường học, ngành giáo dục là một cấp bách.
Bởi nhìn chung các trường học số lượng Đảng viên đang chiếm tỉ lệ thấp.
Mức chênh lệch giữa các vùng, miền; giữa các ngành học, bậc học; giữa các
trường còn khá xa. Chăm lo công tác phát triển Đảng chẳng những thể hiện
trách nhiệm đối với hiện tại mà còn đối với cả tương lai của Đảng, tăng sinh
lực cho Đảng, trẻ hóa đội ngũ, đảm bảo sự thừa kế và phát triển. Muốn vậy,
các chi bộ nhà trường phải làm tốt công tác đào tạo nguồn để lựa chọn, giúp
đỡ bồi dưỡng kết nạp những thầy, cô ưu tú đủ tiêu chuẩn. Cần quan tâm
trước hết đến các thầy cô giáo trong ban giám hiệu, các đồng chí phụ trách
đoàn thể, các giáo viên có thành tích xuất sắc, các tổ trưởng bộ môn của nhà
trường. Các cấp ủy phải đặt công tác phát triển Đảng thành chương trình, kế
hoạch cụ thể, có tổ chức chỉ đạo sát sao, chặt chẽ mang lại hiệu quả thiết
thực.
2.2/ Quản lý nội dung bồi dưỡng về nhận thức, tầm quan trọng của công tác
bồi dưỡng đội ngũ giáoviên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy:
Ngày nay chúng ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nước nhà trong điều kiện bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ.
Sự nghiệp này chỉ có thể thành công khi chúng ta có đủ nguồn nhân lực chất
lượng cao. Muốn vậy, các nhà trường nói chung, nhà trường THCS nói riêng
phải chủ động có biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đó là trình độ
người dạy, khả năng tiếp thu của người học; cơ sở vật chất thiết bị ...Nội
dung sách giáo khoa mới và phương pháp giảng dạy mới. Khi xã hội ngày
càng phát triển, yêu cầu về khoa học kĩ thuật ngày càng cao thì nhận thức
của con người chúng ta lại trở nên cũ kĩ, lạc hậu với thời đại, cần được biến

lý phải tiến hành khảo sát, phân tích tình hình đội ngũ đầu năm và từng thời
kì về hoàn cảnh, trình độ, chất lượng giảng dạy cụ thể các môn để có kế
hoạch bồi dưỡng sát đúng, phù hợp. Nội dung khảo sát gồm: Hoàn cảnh bản
thân, thâm niên nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng
lực giáo dục. Dưới đây là bảng khảo sát số liệu 2 năm học 2000- 2001 và
2002- 2003.
Năm học T.số
Tuổi đời
Trình độ
Năng lực
sư phạm
25-30 31-55 56 Đh Cđ 10+3 G K T Y
B
2000- 2001 35
1
31
3
9 8
18
5 24 5 1
2002- 2003 35
1
30
4 15 14
6
13 22 0 0
Từ số liệu khảo sát, nội dung quản lý kế hoạch định hướng:
- Không thể có khả năng tổ chức đào tạo nâng cao trình độ vì độ tuổi đội
ngũ quá cao so với quy định, chỉ có khả năng bồi dưỡng đào tạo theo hướng
tại chức.

mình một hình thức học tập phù hợp với các nội dung: Học tập nâng cao
trình độ chuyên môn theo chuẩn và trên chuẩn của giáo viên THCS. Luôn
luôn trau dồi phẩm chất, năng lực sư phạm, phẩm chất chính trị vươn lên
dạy giỏi, dạy khá đáp ứng yêu cầu giáo dục trong tình hình mới mà trước
mắt là đáp ứng thay sách lớp 6, lớp 7.
Nhà trường phối hợp với phòng GD-ĐT Đồng Hới đăng ký danh sách
đi học cao đẳng và đại học tại chức hàng năm. Tổ chức cho giáo viên thực
hiện bồi duỡng thường xuyên tại đơn vị. Thông qua các hoạt động chuyên
môn tổ chức bồi dưỡng những nội dung cơ bản nhất, thiết thực nhất.
2.4/ Quản lý nội dung bồi dưỡng đội ngũ giáo viên bằng hình thức đào tạo
và đào tạo lại:
Thực hiện tư tưởng chủ đạo của chiên lược phát triển giáo dục trong
giai đoạn 2001-2010 là khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực.
Một bất cập ở trường THCS trong đó có THCS số1 BắcLý là tính đào tạo
không đồng bộ trong đội ngũ: GV Văn Sử thừa mà thiếu GV Toán Lý.
Không có giáo viên được đào tạo dạy thể dục, nhạc, họa, tin học...Để hoàn
thành được nhiệm vụ đặt ra trong giảng dạy, chỉ có cách là tiếp tục đào tạo
và đào tạo lại số GV hiện có. Đây là vấn đề đặt ra rất khó khăn cho trường
THCS số1 Bắc Lý, không thể cùng một lúc cho đi đào tạo hoặc đào tạo lại
được vì phải đảm nhận giờ lên lớp. Vì thế nhà trường đặt vấn đề quản lý nội
dung đào tạo, đào tạo lại là một nhiệm vụ của công tác quản lý.
Về đào tạo và đào tạo lại, Hiệu trưởng căn cứ vào đối tượng phải bồi
dưỡng, căn cứ vào danh sách cá nhân đăng ký, căn cứ vào sắp xếp lao động
mà có kế hoạch với phòng GD cho đi học thêm để nâng từ 10+3 lên cao
đẳng hoặc từ 10+3 lên đại học. Một số bộ môn thiếu GV thì cử đi học theo
các trung tâm hoặc các đợt tập huấn như tin học, họa, nhạc, thể dục. Đối với
19


anh em giáo viên theo học các chương trình đào tạo tại chức hay chuẩn hóa

chuyên đề của Đảng ủy Phường. Nhà trường rất coi trọng việc thực hiện các
cuộc vận động: “Dân chủ hóa nhà trường”-“Xã hội hóa Giáo dục”-“Gia đình
nhà giáo văn hóa”-“Kỷ cương tình thương trách nhiệm”. Giải quyết đồng bộ
giữa vấn đề tổ chức, tư tưởng, nhận thức và thái độ của GV trong các quan
hệ công việc được quản lý nhà trường chú ý đúng mức. Nhà trường xem đây
là một tiêu chuẩn để đánh giá xếp loại GV. Các biện pháp giải quyết dứt
điểm những tư tưởng: ngại khó, thoả mãn, tự phụ, học một lần dạy suốt đời.
Trên cơ sở đó làm cho GV thấy được sự cần thiết phải không ngừng rèn
luyện về mọi mặt.
2.6/ Quản lý nội dung bồi dưỡng về đổi mới nội dung phương pháp dạy học
các môn học:
Để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy ở các trường THCS theo
mục tiêu cấp học, vấn đề thực hiện nội dung SGK mới và phương pháp dạy
20


theo sách mới được đặt ra rất quan trọng cho mỗi GV. Nhìn chung GV đều
nhiệt tình, giàu lòng yêu nghề mến trẻ, tinh thần trách nhiệm cao, luôn có ý
thức hướng tới cái mới, cái tiên tiến. Song do GV Đào tạo qua nhiều thời kì,
nhiều hình thức nên đa số GV rất lúng túng, lo lắng trước thay sách và đổi
mới phương pháp giảng dạy. Đường mòn cũ trong từng GV đã in sẵn, biểu
hiện áp đặt kiến thức, bắt học sinh công nhận theo sách, luôn thuyết trình,
ghi nhiều, nói nhiều, học sinh thụ động tiếp thu đang là hiện tượng phổ biến
trong đội ngũ GV.
Để quản lý nội dung bồi dưỡng đội ngũ GV trong lĩnh vực này nhà
trường phối hợp chặt chẽ với công tác bồi dưỡng thay sách của ngành. Vào
hè hàng năm tổ chức cho GV trực tiếp học tại các lớp bồi dưỡng theo môn,
tổ chức cho GV tự nghiên cứu tại trường, nêu câu hỏi để đến lớp giải đáp; tổ
chức dạy thử, dạy mẫu rút kinh nghiệm.
Trong năm học trường tổ chức hội nghị lao động sáng tạo, thi giờ dạy,



Để kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng từng GV, Hiệu trưởng có thể
tiến hành kiểm tra như sau: Về nội dung bài dạy, Hiệu trưởng kiểm tra nhóm
GV soạn bài dạy cùng khối; Về phương pháp, Hiệu trưởng dự giờ nhóm GV
dạy cùng bài. Đối chiếu với yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp và thực
tế bài soạn, giờ dạy để rút kinh nghiệm có hướng bổ cứu.
Việc kết hợp giữa kiểm tra toàn diện, giữa kiểm tra chung và kiểm tra
công tác bồi dưỡng là rất cần thiết. Mục đích kiểm tra là bồi dưỡng các mặt
nhưng không nhất thiết bồi dưỡng tràn lan, nội dung nào cũng bồi dưỡng,
môn nào cũng bồi dưỡng mà không có tính dứt điểm. Hiệu trưởng phải định
kế hoạch, từng người, từng thời kì cần bồi dưỡng dứt điểm vấn đề gì ở khả
năng của đội ngũ GV.
Vấn đề đánh giá xếp loại GV phải gắn với công tác bồi dưỡng. Cách
nhìn nhận đánh giá của hội đồng thi đua là cách nhìn động, nhìn theo hướng
phát triển. Một GV, có một cải tiến nhỏ vẫn nâng niu hơn GV kia không có
gì đổi mới. Việc chọn GV giỏi cũng thông qua bồi dưỡng, giáo viên giỏi
ngoài các tiêu chuẩn theo quy định phải là người đi đầu, có hiệu quả trong
công tác bồi dưỡng. Những tấm gương tiêu biểu về tự học, tự nâng cao trình
độ được nhân rộng điển hình trong đơn vị và được bồi dưỡng để trở thành
nồng cốt chuyên môn.
3/ KIẾN NGHỊ:

Công tác quản lý nội dung bồi dưỡng cho GV là việc làm thường
xuyên, có kế hoạch, có bước đi phù hợp. Để công tác bồi dưỡng thực hiện
có hiệu quả hơn, qua nghiên cứu bản thân xin đề xuất các nội dung sau:
Đối với Bộ Giáo dục Đào tạo:
- Sau chu kỳ bồi dưỡng thường xuyên1997-2000, Bộ phải có chương trình
bồi dưỡng thường xuyên tiếp theo với đầy đủ các bộ môn, nội dung, chương
trình cụ thể hơn để cơ sở có điều kiện thực hiện.

là những kĩ sư tâm hồn đang ngày đêm thiết kế hàng vạn tâm hồn trẻ, ngây
thơ, trong sáng để một ngày không xa lớp trẻ lớn lên gánh vác sự nghiệp của
nước nhà.
Để xứng đáng tầm vóc, vị trí vinh quang mà xã hội giao phó, trong
quá trình công tác, mỗi thầy cô giáo chúng ta phải tự nhận thức được vị trí
của mình trong xã hội, xứng đáng với sự tôn vinh của mọi người thì chính
mình phải không ngừng tự học tập, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện để làm phong
phú vốn kiến thức cho bản thân. Trong vấn đề bồi dưỡng thì nội dung bồi
dưỡng nâng cao chất lượng dạy học cho giáo viên được các trường quan tâm
nhất. Trường THCS số 1 Bắc lý cũng là một trong các đơn vị làm tốt nội
dung này.
Quá trình nghiên cứu lý luận có tính cơ sở về nội dung quản lý công
tác bồi dưỡng đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học ở
trường THCS số 1 Bắc Lý, qua thực trạng của đội ngũ giáo viên và công tác
quản lý nội dung bồi dưỡng của nhà trường. Qua so sánh đối chiếu giữa lý
luận và thực tế bản thân tôi thấy rằng: Bản thân đồng chí hiệu trưởng-người
quản lý nhà trường cần có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác bồi
dưỡng giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học là việc
làm quan trọng cấp bách mang tính thời sự nóng bỏng. Việc sử dụng hợp lý
đội ngũ giáo viên, xây dựng đội ngũ ngày càng đầy đủ phẩm chất, năng lực,
chuẩn hóa về trình độ đào tạo, xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh là bí
quyết của mọi thành công trong nhà trường.
Người quản lý nhà trường phải nhận thức được công tác bồi dưỡng
giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy là việc làm thường xuyên, lâu dài,
khó khăn và phức tạp.. Vì thế cần tiến hành quản lý nội dung bồi dưỡng có
tính kế hoạch, lâu dài, liên tục qua từng thời kỳ, từng năm học. Đòi hỏi
người quản lý phải kiên trì, sáng tạo, nhiệt tình. Hiệu trưởng phải biết chọn
các điểm nóng làm mục tiêu ưu tiên, phải biết động viên, khen thưởng kịp
thời, đúng đối tượng. Để quản lý nội dung bồi dưỡng có hiệu quả cao thì
người quản lý phải biết kết hợp hài hòa giữa nội dung thiết thực với nội



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Nghị quyết TW IV khóa VII, Nghị quết TW II khóa VIII, Nghị quyết Đại
hội Đảng tòan quốc lần thứ IX, kết luận của hội nghị Ban chấp hành TW
Đảng
lần thứ 6.
2/ Điều lệ trường phổ thông trung học của Bộ giáo dục-đào tạo.
3/ Chỉ thị về nhiệm vụ năm học 2002-2003 của Bộ giáo dục-đào tạo.
4/ Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý giáo dục triển khai thực hiện thay sách
giáo khoa mới ở trường trung học cơ sở.
5/ Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý trường trung học cơ sở.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status