NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG NĂM 2007 - Pdf 33

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH Ở TRẺ VỊ
THÀNH NIÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG NĂM 2007
Trần Thanh Hải, Nguyễn Thị Hải Lý, Tạ Văn Trầm và CS *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tai nạn thương tích (TNTT) là vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu.
Hàng năm TNTT là nguyên nhân gây ra 3-4 triệu người tử vong ở các nước đang phát triển. Tại
Việt Nam, TNTT là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật. TNTT ở trẻ vị
thành niên (VTN) là vấn đề y tế quan trọng ở các nước trên thế giới. Việc nghiên cứu thực trạng
TNTT ở trẻ VTN là một việc làm cần thiết, nhằm góp phần phòng chống tai nạn này.
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng TNTT ở trẻ VTN tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang năm
2007, xác định một số yếu tố liên quan và đề xuất các giải pháp phòng chống.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang.
Kết quả: Trong năm 2007, tổng số TNTT trẻ VTN là: 798, trong đó nam là: 561 (70,3%),
nữ: 237 (29,7%). Tử vong do TNTT đứng hàng đầu trong các loại tử vong. Nguyên nhân chính
gây TNTT ở trẻ VTN là tai nạn giao thông (65,6%), té ngã ( 12,8%), đánh nhau (8,77%), tự tử
(7,0%) … TNTT ở trẻ VTN xảy ra không có sự khác biệt giữa các tháng trong năm, nam gặp nhiều
hơn nữ tập trung nhóm tuổi từ 17 – 19 tuổi ( 60,8%).
Qua nghiên cứu này, tác giả đã đề xuất các giải pháp thích hợp để phòng chống TNTT ở
trẻ VTN.
SUMMARY
STUDY OF SITUATION ON ALDOSLESCENT INJURY IN THE TIEN GIANG
GENERAL HOSPITAL IN 2007
Background: Injuries was a global public health issue. It was the cause of 3-4 million
deaths a year in the developing countries. In Vietnam, injury was seen as one of the leading
causes of deaths and disabilities. Injury among adolescent is considered as a burning health
problem in every countries around the world. It is necessary to conduct studies on status of injury
among adolescent for the purpose of injury prevention and control.
Objectives: This study aims at evaluating injury situation among adolescent admitted to
Tien Giang General Hospital in 2007; identifying injury determinants and recommending
solutions of prevention and control of injury.
Method: Retrospective, descriptive and cross-sectional study.

Trước thực trạng đó, năm 2001, Chính phủ phê duyệt và ban hành chính sách quốc gia về
phòng chống TNTT. Từ năm 2003, dự án phòng chống TNTT trẻ em cũng được Bộ Y tế phối hợp
với Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em triển khai trên toàn quốc. Trong quá trình triển khai,
chương trình phòng chống TNTT trẻ em ở nước ta bước đầu đã đạt được những kết quả đáng kể
trong việc giảm thiểu các TNTT trẻ em tại cộng đồng và gia đình, đã tạo được bước chuyển biến
nhận thức mạnh mẽ. Tuy nhiên, thực trạng TNTT trẻ em, đặc biệt là ở trẻ VTN ở nước ta hiện nay
vẫn còn nhiều điều rất bức xúc, đang có xu hướng gia tăng và thậm chí còn tăng cao hơn. Do đó,
việc xác định thực trạng TNTT trẻ em sẽ là cơ sở khoa học trong việc góp phần cùng cả nước xây
dựng kế hoạch tiếp theo cho công tác phòng chống TNTT trẻ em đồng thời nâng cao chất lượng
chăm sóc trẻ em trong giai đoạn tới.
Chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu: khảo sát thực trạng TNTT trẻ VTN tại Bệnh
viện Đa khoa Tiền Giang năm 2007, xác định một số đặc điểm dịch tễ học có liên quan và đề xuất
các giải pháp phòng chống
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng: Tất cả các trường hợp trẻ VTN 10-19 tuổi được chẩn đoán là TNTT điều trị nội
trú tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang năm 2007. TNTT bao gồm tai nạn giao thông (TNGT), tai
nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, các loại ngộ độc, bỏng, dị vật, điện giật, rắn cắn, côn trùng đốt.
ong đốt, đuối nước, tự tử …
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu cắt ngang mô tả. Số liệu dựa vào hồ sơ bệnh án chẩn
đoán TNTT theo phân loại quốc tế về bệnh tật, lần thứ 10 của TCYTTG ( ICD – 10)
KẾT QUẢ
Tổng số trẻ 10 – 19 tuổi vo viện điều trị nội tr năm 2007: 4.991
1. Nhiễm khuẩn v ký sinh trng
:
2.819
2. Khối u
:
46
3. Mu v cơ quan tạo mu
:

:
:
:
:
44
:
26

28
40
56
26
798

-

Nhiễm khuẩn v ký sinh vật

:

03

-

Tử vong do TNTT

:

20


TNGT

:

524 ( 65,66%)

-

T ng

:

102 ( 12,78%)

-

Bỏng

:

03 ( 0,37%)

-

Dị vật

:

05 ( 0,62%)


13 ( 1,62%)

-

Tự tử

:

56 ( 7,01%)

-

Đnh nhau

:

70 ( 8,77%)

:

08 ( 1%)

- Khc
Phn bố theo giới:
-

Nam:

561 ( 70,3%)


:

137 ( 17,17%)

-

14 – 16 tuổi :

176 ( 22,06%)
3


- 17 – 19 tuổi :
485 ( 60,77%)
Cc tổn thương do TNTT:
* Tai nạn giao thơng:
524
- Xương khớp: 154 ( 29,38%)
- CTSN: 89 ( 16,98%)
- Tổn thương phần mềm: 270 ( 51,52%)
- Tổn thương cc tạng: 11 ( 2,09%)
* Tai nạn do t:
102
- Xương khớp: 62 ( 60,78%)
- Chấn thương sọ no: 03 ( 2,94%)
- Tổn thương phần mềm: 29 ( 28,43%)
- Tổn thương cc tạng: 08 ( 7,84%)
* Tai nạn do đnh nhau:
70
- Xương khớp: 04 ( 5,71%)

06
05
56
00
01
02
02
00
00
72

BÀN LUẬN:
Năm 2007, có 4991 trẻ VTN vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang. TNTT
trẻ VTN là 798, chiếm 14,4%, đứng hàng thứ nhất trong các bệnh lý ở trẻ VTN vào điều trị nội trú
tại bệnh viện và có 20 trường hợp tử vong chiếm tỉ lệ 0,4%, đứng hàng thứ nhất so với các bệnh tử
vong ở trẻ VTN.
Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Bộ Y tế các năm 2001-2002, 2005-2006
về TNTT ở Việt Nam. Đây là cuộc điều tra mang tính quốc gia về các trường hợp tử vong do tất cả
các nguyên nhân; cho thấy rõ TNTT đã trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ < 19
tuổi tại Việt Nam, trong đó TNGT là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất ở lứa tuổi VTN. Tình
hình TNGT có xu hướng tăng cao trong cả nước trong khoảng 10 năm qua. Các nghiên cứu của
Bệnh viện Việt Đức – Hà Nội cho thấy TNGT ở trẻ < 19 tuổi vào viện chiếm 30,3% . Một nghiên
cứu của Nguyễn Đức Chính và cộng sự năm 2006, tại Bệnh viện Việt Đức về TNTT, trong 30.000
trường hợp TNTT vào viện thì TNTT trẻ em chiếm gần 5.000 trường hợp. Nhiều trường hợp tử
vong, hoặc tàn phế cả đời, ảnh hưởng đến người bệnh và xã hội mà nguyên nhân do thương tích
nặng, do hệ thống cấp cứu còn nhiều vấn đề bất cập. Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy TNTT
đến cấp cứu tại bệnh viện chiếm tới 70% các trường hợp khám cấp cứu. Điều này cho thấy TNTT
4



Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận tự tử cũng rất thường gặp ở trẻ VTN, là nguyên
nhân gây tử vong đáng tiếc và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ và tinh thần. Trong
798 tường hợp TNTT của chúng tôi ở trẻ VTN, có 56 trường hợp (7%) là do tự tử. Đây là tiếng
chuông báo động cho toàn xã hội. Trẻ VTN khởi đầu từ những xáo trộn tâm lý cộng với thái độ vô
tình, thiếu quan tâm của người lớn, sự la rầy của cha mẹ. dùng quyền uy và đối xử thô bạo với con
cái, những bất hoà trong gia đình hoặc gia đình không hạnh phúc, sự nuông chiều con cái thái quá,
sức ép của học hành, thất bại về tình cảm, có thai ngoài ý muốn nhưng không được gia đình và bạn
trai chấp nhận,….khiến các em đau khổ, tuyệt vọng rồi dẫn đến hành vi tự sát. Theo thống kê của
TCYTTG, hàng năm ở các nước có khoảng 400.000 trường hợp tử vong vì tự tử, trong đó số tự tử
không thành chiếm tỉ lệ cao gấp 8-10 lần. Tại Bệnh viện Bạch Mai, trung bình môi năm phải cấp
cứu 150-200 trường hợp tự tử, trong đó tỉ lệ trẻ VTN chiếm phần lớn tổng số ca nhập viện
- Về giới: Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng TNTT trẻ VTN ở nam nhiều hơn nữ,
gấp 1,6 lần ở tất cả các lứa tuổi và cũng thấy rõ ở cả 3 loại TNTT thường gặp với sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả trong và
ngoài nước. Trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Chính, tỉ lệ nam: nữ là 1,65 : 1. Nam thường hiếu
động hơn nữ nên dễ bị TNTT hơn.
- Về tuổi: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi lứa tuổi 17 – 19 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là
60,7 %; kế đến là lứa tuổi 14 – 16 tuổi ( 22 %). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết
quả nghiên cứu của Hồ Thị Thu, Nguyễn Đức Hy, Lê Văn Thanh về thực trạng TNTT ở Bệnh viện
5


Giao thông vận tải, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam- Cuba và tỉnh Quảng Trị. Lứa tuổi 17-19 tuổi là
lứa tuổi cuối VTN, đã trưởng thành. Các em đủ 18 tuổi để có bằng lái xe và có điều kiện tham gia
giao thông. Ở lứa tuổi này, trẻ VTN thường háo thắng, đua đòi, thích làm nổi, dễ dàng tham gia
vào các cuộc đua xe vi phạm luật lệ giao thông như: điều khiển xe môtô khi có rượu, lạng lách,
đánh võng,…Các hiện tượng vi phạm luật lệ giao thông này dễ gây ra TNTT cho bản thân các em
và những người xung quanh.
- Phân bố theo thời gian: Kết quả nghiên cứu cho thấy TNTT trẻ em xảy ra ở tất cả các
tháng trong năm. Tỷ lệ trẻ em bị tai nạn trong các tháng không có sự khác biệt nhau nhiều.Trong

KẾT LUẬN
TNTT là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhập viện và tử vong ở trẻ VTN tại Bệnh
viện Đa khoa Tiền Giang năm 2007.
Nguyên nhân gây TNTT trẻ VTN là do TNGT, té ngã, đánh nhau, tự tử... Trẻ bị
TNGT dễ bị tổn thương phần mềm, tổn thương xương khớp và chấn thương sọ não.
TNTT gặp ở trẻ em nam nhiều hơn nữ, gặp nhiều ở nhóm tuổi 17-19 tuổi, xảy ra ở
tất cả các tháng trong năm.
Để phòng chống TNTT trẻ VTN chúng ta cần phải nâng cao nhận thức về phòng
chống TNTT. Đối với các bậc làm cha làm mẹ, đó là nhận thức và loại bỏ được những yếu tố
6


nguy cơ gây TNTT trong gia đình và cộng đồng. Sau nữa là phải biết cách sơ cứu, cấp cứu cho trẻ
khi bị TNTT. Đối với các em là giáo dục để các em biết rõ những nguy cơ và cách phòng tránh.
Đặc biệt là phải cải thiện mội trường và nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về phòng chống
TNTT. Phải xây dựng môi trường an toàn: ngôi nhà an toàn, trường học an toàn, cộng đồng an
toàn cả về pháp lý như xây dựng các văn bản pháp luật cần thiết về phòng chống TNTT, tập huấn
cho cán bộ y tế, chữ thập đỏ các kỹ năng cơ cấp cứu, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giáo
dục sức khỏe, huy động nguồn lực của toàn xã hội, phối hợp liên ngành, các đoàn thể quần chúng
trong việc phòng chống TNTT trẻ em, góp phần thực hiện tốt công ước quốc tế về quyền trẻ em,
đảm bảo quyền sống còn, phát triển của trẻ em và thực hiện mục tiêu của chương trình hành động
quốc gia vì trẻ em Việt Nam 2001-2010 là giảm tỷ lệ tử vong trẻ em Việt Nam, chăm sóc, bảo vệ,
tạo điều kiện cho trẻ em Việt Nam được sống trong môi trường an toàn lành mạnh, phát triển hài
hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Trường, (2003). Một số yếu tố liên quan đến chấn thương ở trẻ em 1- 5 tuổi tại 6
tỉnh ở Việt Nam. Báo cáo Hội nghị khoa học quốc tế về phòng chống TNTT, xây dựng
cộng đồng an toàn. Nhà xuất bản Y học.
2. Hồ Thị Thu, (2005). Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới chấn thương tại Phòng khám
Đa khoa BV Giao thông vận tải. Hội nghị Khoa học Quốc gia về phòng chống TNTT lần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status