TIỂU LUẬN tội PHẠM BUÔN bán PHỤ nữ và TRẺ EM - Pdf 33

TIỂU LUẬN
TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
Nhóm 5:







Đặng Thị Nở
Trần Thị Thảo
Nguyễn Kiều Anh
Phạm Thị Hương
Trần Thanh Bình
Nguyễn Thị Thu Hiền


Bình Dương, ngày…tháng…năm 2015
MỤC LỤC


I.

Cơ sở lí luận
1) Lí Thuyết:

Theo thuyết nhóm khác biệt của Edwin Sutherland (giáo trình tội phạm học của
TS.Dương Tuyết Miên) thì “ người phạm tội đã học việc phạm tội thông qua nhóm khác
biệt qua quá trình tiếp xúc, giao tiếp với những người khác và những người này có ảnh
hưởng nhất định đối với việc gây ra tội phạm”. Sutherlanđ đã nhấn mạnh vai trò của học lại

người thường hoạt động theo một đường dây, những tội phạm tuy hành động dụ dỗ con mồi
có khi chỉ có một mình nhưng đến khi “vận chuyển” con mồi là cả một đường dây buôn
bán người. Những tên tội phạm buôn bán người do được rủ rê, lôi kéo từ bạn bè hay do tác
động từ gia đình, môi trường xã hội…mới có hành vi phạm tội buôn bán người.
2) Khái niệm tiếp cận
Một số khái niệm liên quan đến vấn đề “buôn bán phụ nữ và trẻ em” bao gồm: Buôn bán người;
Buôn bán phụ nữ trẻ em; Kẻ buôn người; Người mua; Người môi giới.
 Buôn bán người. Có nhiều định nghĩa về buôn bán người, nhưng chưa có định nghĩa riêng

ở Việt Nam, nghiên cứu sử dụng định nghĩa của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc:
Buôn bán con người là một phong trào bí mật và bất chính đưa người qua biên giới phần lớn là từ
các nước đang phát triển và một số nước đang chuyển đổi kinh tế nhằm mục tiêu cuối cùng là ép
buộc phụ nữ và các em gái hoạt động tình dục hoặc bóc lột về kinh tế và tình trạng bóc lột lợi
nhuận từ những việc làm này. Những kẻ buôn người và tập đoàn tội ác cũng như các hoạt động bất
hợp pháp khác liên quan đến buôn bán con người như là việc cưỡng bức lao động trong nhà, ép
buộc làm vợ, nghề nghiệp không minh bạch và con nuôi bất hợp pháp (Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc 1994).
Theo định nghĩa này thì các đặc trưng của buôn bán người được biểu hiện như sau:
- Hành vi: Tuyển dụng, chuyên chở, chuyển giao, che dấu, chứa chấp, tiếp cận, hoặc nhận người
trong nước hoặc qua biên giới.
- Phương thức: Lừa gạt, bắt cóc, lừa dối, ép buộc, cưỡng bức hoặc đe doạ, sử dụng bạo lực, lạm
dụng quyền hành hoặc lợi dụng tình hình khó khăn của một người nào đó. Đối với trường hợp
buôn bán trẻ em: bất cứ phương thức nào đều được tính đến, ngay cả việc sự đồng ý của trẻ em.
- Mục đích: Bóc lột sức lao động, khai thác mại dâm hoặc những hình thức bóc lột tình dục khác,
hay cắt bỏ những bộ phận của cơ thể
- Địa bàn: Trong nước, nước ngoài và tại địa phương.[4]
 Phụ nữ, trẻ em bị buôn bán: là phụ nữ, trẻ em bị một người hay một nhóm người sử dụng

vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay những hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng
quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương để mua bán (giao nhận tiền hoặc giao nhận

Ninh từ năm 1999 – 2003 có 1.053 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán sang Trung Quốc. Tại đồng bằng
sông MêKông đến năm 2003 có hàng chục nghìn phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Năm
2000, theo ước tính có 11.310 cô gái Việt Nam bị buộc phải làm gái điếm ở Campuchia trong đó
8610 là ở PhNom Pênh” (Lê Thị Quý, 2004:18).
Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, trong năm 2002, có 3.781 trường
hợp buôn bán phụ nữ và trẻ em với tổng số 10.218 nạn nhân. Trong đó, 87% nạn nhân bị bán cho
các dịch vụ tình dục kể từ năm 1995. Báo cáo năm 2004 của cơ quan này cũng cho thấy con số trẻ
em bị buôn bán trên toàn quốc là 15.000 em (HT 014-CHI,2006:4)
Báo cáo từ Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em (20042009), tổng kết trong 05 năm thực hiện chương trình 130/CP, cả nước xảy ra 1.586 vụ buôn bán
phụ nữ và trẻ em, có 2.888 đối tượng, lừa bán 4.008 nạn nhân, trong đó mua bán phụ nữ: 1.218 vụ,
2.310 đối tượng phạm tội, 3.019 nạn nhân, mua bán trẻ em: 191 vụ, 268 đối tượng, 491 nạn nhân.
Mua bán cả phụ nữ, trẻ em: 177 vụ, 310 đối tượng, 498 nạn nhân.” (Ban chỉ đạo 130/CP, 2009:1).
Báo cáo của Tòa án nhân dân chỉ ra rằng số vụ phạm tội mua bán trẻ em mà cơ quan này xét
xử có sự gia tăng trong những năm vừa qua (Ban chỉ đạo 130/CP, 2009:66)
Bảng 1: Số vụ phạm tội mua bán phụ nữ trẻ em theo thống kê của Toà án nhân dân (2004 - 2008)


Nguồn: Tòa án Nhân dân. Kinh nghiệm trong phối hợp truy tố, xét xử các vụ án về mua bán phụ nữ, trẻ
em; kiến nghị và đề xuất của ngành Tòa án nhân dân trong Tài liệu Hội nghị Tổng kết 05 chương trình
hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em (2004-2009)

Theo báo cáo của cơ quan này, trong 5 năm từ 2004 đến năm 2008 có tổng cộng 748 vụ
phạm tội buôn bán phụ nữ và trẻ em với 1367 bị cáo phạm tội. Số vụ phạm tội gần như gia tăng
theo các năm, năm sau cao hơn năm trước. Nếu năm 2004 chỉ có 79 vụ phạm tội mua bán phụ nữ
thì năm 2006 là 121 và đến năm 2008 là 149. Số vụ phạm tội mua bán trẻ em năm 2004 là 31, đến
năm 2006 là 36 và lên 48 vụ năm 2008.
Kết quả công tác phát hiện, đấu tranh tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em của Cảnh sát nhân dân cho
thấy cũng có sự gia tăng đáng kể (lưu ý số liệu trong năm 2009 không phải là số thực trong tài liệu,
tài liệu chỉ thể hiện đến sáu tháng đầu năm 2009, số liệu trong báo cáo đã được nhân theo hệ số 2)
Bảng 2: Số vụ phạm tội mua bán phụ nữ trẻ em theo thống kê của Cảnh sát nhân dân (2004 2009)

Theo Báo cáo tình hình buôn bán người năm 2014
Việt Nam là quốc gia xuất phát của nhiều nam giới, phụ nữ và trẻ em bị mua bán vì mục
đích tình dục hoặc bị cưỡng ép lao động trong nước và nước ngoài. Việt Nam là quốc gia có nhiều
nam giới và phụ nữ di cư ra nước ngoài lao động thông qua con đường tự túc hoặc thông qua các
công ty xuất khẩu lao động nhà nước, tư nhân và cổ phần. Sau đó một số người đã bị cưỡng ép lao
động trong các ngành xây dựng, đánh bắt thuỷ sản, nông nghiệp, khai thác mỏ, khai thác gỗ, chế
tạo, và một số ngành khác, chủ yếu tại Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Lào, các Tiểu vương quốc
Ả-rập Thống nhất, và Nhật Bản, và ở mức độ thấp hơn là tại Trung Quốc, Thái Lan, Cam-pu-chia,
Indonesia, Vương quốc Anh, Cộng hoà Séc, Đảo Síp, Pháp, Thuỵ Điển, Trinidad và Tobago, Costa
Rica, Nga, Ba-lan, Ucraina, Libya, Ả-rập Xê-út, Gioóc-đa-ni và một số quốc gia khác ở châu Âu,
Trung Đông và Bắc Phi.
Phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán sang các nước ở châu Á vì mục đích cưỡng ép tình dục –
đặc biệt là Trung Quốc, Cam-pu-chia, Malaysia, và Nga. Nhiều nạn nhân người Việt của buôn bán
tình dục cũng đã được tìm thấy ở Ghana. Họ thường bị lừa gạt bởi các cơ hội việc làm giả mạo và
bị bán cho các nhà chứa ở biên giới với Campuchia, Trung Quốc và Lào, một số người sau đó bị
đưa sang các nước thứ ba như Thái Lan và Malaysia. Một số phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc,
Đài Loan, Hong kong, Macau, Singapore hay Hàn Quốc qua những cuộc hôn nhân với người nước
ngoài thông qua môi giới, sau đó đã bị cưỡng ép phục vụ trong gia đình, hành nghề mại dâm, hoặc
cả hai. Làm công trừ nợ, thu giữ hộ chiếu, và dọa nạt bị trục xuất là những thủ đoạn thường được
dùng để bắt các nạn nhân Việt Nam phải phục vụ. Các mạng lưới tội phạm có tổ chức của Việt
Nam và Trung Quốc đã đưa những người dân Việt Nam, chủ yếu là trẻ em, sang Vương quốc Anh
và Đan Mạch và buộc họ làm việc trong các trang trại trồng cần sa. Các nạn nhân làm việc trong


các trang trại này bị mờ mắt bởi những hứa hẹn về công ăn việc làm có lợi nhuận cao, và đã bị
cưỡng bức lao động qua việc làm công trừ nợ, các lời dọa dẫm đánh đập họ và gia đình họ, và nỗi
sợ hãi bị các cơ quan chức năng bắt giữ.
Các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam, hầu hết là các đơn vị thành viên của các công ty
nhà nước, và các cá nhân môi giới lao động trung gian không có giấy phép hoạt động, đôi khi đã
bắt người lao động phải đóng những khoản phí vượt quá mức quy định của pháp luật để được đi

Chính phủ tiếp tục yêu cầu những người nghiện ma túy trong các trại cai nghiện/giáo
dưỡng phải lao động, mặc dù nếu như luật năm 2013 và nghị định năm 2014 được thực hiện thì chỉ
khi có quyết định của tòa án mới được phép đưa những người nghiện này vào các trung tâm giáo
dưỡng. Theo cuộc khảo sát năm 2012 do tổ chức UNICEF tài trợ về vấn đề bóc lột tình dục trẻ em
vì mục đích thương mại, Việt Nam là điểm đến của du lịch tình dục trẻ em, mà những kẻ mua dâm
chủ yếu là những người đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Anh, Úc, ChâuÂu và
HoaKỳ. Chính phủ Việt Nam chưa tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu, tuy nhiên cũng đã
có những nỗ lực đáng kể nhằm xóa bỏ nạn mua bán người.
Tháng Bảy năm 2013, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Công
An, Bộ Quốc Phòng và Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư liên tịch trong đó quy định các khung


hình phạt cụ thể đối với tội danh buôn người nêu trong Luật phòng chống mua bán người được ban
hành năm 2012. Thông tư liên tịch này bắt đầu có hiệu lực vào tháng Chín năm 2013, nhưng từ đó
đến nay chưa có vụ án nào được khởi tố theo luật năm 2012. Chính phủ cũng đã ban hành thêm hai
thông tư và một nghị định để hướng dẫn thi hành các điều khoản về bảo vệ và phòng chống trong
luật phòng chống mua bán người. Các nhà chức trách Việt Nam tiếp tục truy tố và kết án các thủ
phạm buôn người xuyên quốc gia. Các nguồn tin báo chí cho thấy đã có 20 kẻ bị kết án vì dính líu
đến hoạt động buôn người và cưỡng bức lao động ở tỉnh Tây Ninh vào tháng 12 năm 2013. Nhiều
cán bộ chính phủ còn chưa hiểu rõ thế nào là buôn người, đặc biệt là buôn bán lao động cưỡng ép,
do đó họ không nhận diện được các nạn nhân hoặc không thực hiện điều tra hình sự một cách hiệu
quả trong các vụ đã khởi tố. Chính phủ Việt Nam đã không trợ giúp đầy đủ những người Việt Nam
lao động ở nước ngoài bị bắt làm công trừ nợ hoặc các dạng lao động cưỡng bức khác. [7]
Bài báo: “Mở đợt cao điểm chấn áp tội phạm buôn người trên các tuyến biên giới-Theo
vietnamplus
Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an cho biết năm 2014, lực lượng Công an, Biên phòng Việt
Nam đã điều tra khám phá 334 vụ, bắt 616 đối tượng mua bán người.
Sáu tháng đầu năm 2015, lực lượng Công an, Biên phòng Việt Nam đã điều tra khám phá 136 vụ,
bắt 227 đối tượng, giải cứu và tiếp nhận 303 nạn nhân bị mua bán người
Liên quan đến tuyến biên giới Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia, lực lượng chức năng đã giải

- Xin con nuôi nhưng sau đó những đứa trẻ sẽ bị bọn chúng đem bán hoặc bóc lột sức lao
động hoặc bị lạm dụng tình dục…
- Đưa các chị em phụ nữ đi du lịch nhưng thực chất chúng đưa các chị em phụ nữ qua biên
giới để bán cho các nhà chứa, lạm dụng tình dục, làm gái mại dâm,…
Con đường buôn bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài tập trung nhiều nhất là qua 3 khu vực biên
giới: Việt Nam – Trung Quốc (tập trung tại các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lao Cai, Cao
Bằng, Hà Giang), Việt Nam – Campuchia (Tây Ninh, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang…),
Việt Nam – Lào (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị) (Ban chỉ đạo 130/CP, 2009:48), trong đó Lào
vừa là điểm trung chuyển vừa là điểm dừng cuối cùng của những người bị buôn bán. Có tuyến
đường vận chuyển khác được đề cập là qua các sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất sang
Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, Singapore, hoặc các nước Tây Âu, Mỹ và các nước khác (Lê
Thị Quí, 2004. Phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới
III.

Kết quả nghiên cứu
 Nhìn tổng quan: (chưa nghĩ ra)
 Nguyên nhân của tình trạng buôn bán người

1) Nguyên nhân trực tiếp do sự quyết định của đối tượng: do đối tượng đang trong hoàn

cảnh khó khăn thì cơ hội việc làm có mức lương cao là mong muốn của đối tượng,
do báo hiếu với gia đình “đặc biệt gia đình ở vùng sâu, vùng xa họ có quan niệm sinh
con là để báo hiếu…”, do cá nhân đang có nhu cầu kiếm tiền để phục vụ nhu cầu cá
nhân như rượu chè, cờ bạc, ma túy,..v.v..v.
2) Nguyên nhân gián tiếp: Môi trường họ sống quá nghèo khó, gần khu vực biên giới,
ít học, thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo, không có của cải, tiền bạc, dân trí thấp,

3) Nguyên nhân của những tên tội phạm thực hiện hành vi phạm tội buôn bán người:
nghèo khó, thỏa mãn nhu cầu tình dục cũng như nhu cầu vật chất cho bản thân, bị
người khác lôi kéo vào con đường mua bán người để tìm nguồn thu nhập cao, “bỏ

những đối tượng khi ta chưa hiểu về họ; đề phòng cảnh giác; mở các lớp học cách phòng vệ; tuyên
truyền thường xuyên cho mọi người hiểu, đặc biệt người dân ở gần khu vực biên giới, vùng sâu
vùng xa,… Một đất nước không có buôn bán phụ nữ và trẻ em thì mỗi cá nhân trong cộng đồng
phải cùng nhau hợp tác, cùng nhau đẩy lùi thực trạng buôn bán người.
V.

Giới thiệu

Xã hội ngày một phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày một
nâng cao. Nhưng kéo theo đó là những vấn đề xã hội khác như ô nhiễm môi trường, tội
phạm ngày càng gia tăng…đặc biệt tình trạng tội phạm ngày diễn ra phức tạp và tinh vi
hơn. Trong đó phải kể đến tội phạm buôn bán người. Những tên tội phạm này đối tượng mà
chúng hướng đến chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, vì đây là những đối tượng yếu đuối và dễ
mềm lòng để chúng có thể thực hiện hành vi phạm tội dễ dàng
Theo Cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm Liên Hiệp Quốc (UNODC),
Buôn bán người đứng thứ 3 trong nhóm các hành vi tội phạm mang lợi sau buôn bán ma tuý
và súng. Ước tính, trên thế giới hiện có khoảng 27 triệu người là nạn nhân của buôn bán
người, trong khi hàng năm 600.000 đến 800.000 người bị buôn bán qua biên giới, phần lớn
là phụ nữ và trẻ em gái và khoảng 1 triệu trẻ em bị bóc lột vì mục đích tình dục.
Tội phạm buôn bán người-là hành vi cướp đi một số quyền cơ bản của con người, là
một việc làm vô nhân đạo, đáng lên án trong xã hội. Buôn bán người để lại hậu quả vô cùng
nặng nề không những cho cá nhân bị hại mà còn ảnh hưởng đến xã hội, hình thức phạm tội
của bọn chúng ngày ngày càng tinh vi và thực hiện qua nhiều hình thức : cho-nhận con
nuôi, môi giới kết hôn với người nước ngoài, xuất khẩu lao động “trá hình”… nhiều phụ nữ
và trẻ em trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã trở thành nạn nhân của bóc lột
tình dục, hôn nhân ép buộc và lao động bất hợp pháp trên nhiều quốc gia.
Vì thế, bài nghiên cứu “tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em” của nhóm chúng tôi sẽ
tìm hiểu thực trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, các hình thức mà kẻ buôn người sử dụng,
nguyên nhân của tình trạng buôn bán người và hơn hết là những hậu quả của việc buôn bán
người.

3. Lê Tiêu La, 2002. Khảo sát thực trạng những nạn nhân nữ trở về do buôn bán phụ nữ
ở Tây Ninh
4. Báo cáo tội phạm buôn bán phụ nữ và tre em ở Viêt Nam, Hà Nội 6-2011
5. Theo Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học
Đà Nẵng năm 2010)
6. Báo Luật gia PHAN THỊ VIỆT THU
7. Báo cáo Tình hình Buôn người năm 2014
8. Thông tin-tuyên truyền báo động thực trạng buôn bán người
9. Trang wed google.
10. Bài báo: “Mở đợt cao điểm trấn áp tội phạm buôn người trên các tuyến biên giới”
Theo vietnamplus
11. ASEAN công bố Báo cáo tiến bộ về chống buôn bán người

ĐCSVN 24/08/2011 12:21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status