Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
Nghiên cứu Y học
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT U LÀNH TÍNH
TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG NỘI SOI QUA NIỆU ĐẠO
Nguyễn Trường An*
TÓM TẮT
Mục tiêu Nghiên cứu nhằm khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, đánh giá độ trầm trọng của u lành tính
tuyến tiền liệt và kết quả phẫu thuật cắt u lành tính tuyến tiền liệt bằng nội soi qua niệu đạo dựa theo điểm
IPSS, QoL.
Đối tượng nghiên cứu gồm 36 bệnh nhân được chẩn đoán u lành tính tiền liệt tuyến có xác nhận bằng kết
quả giải phẫu bệnh lý sau mổ, thời gian từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2008 tại Khoa Ngoại Bệnh viện Trường
Đại học Y Dược Huế.
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu mô tả. Đánh giá lâm sàng trước, trong và sau mổ theo thang điểm
IPSS, QoL, QTB. Đánh giá khối lượng u lành tính tuyến tiền liệt bằng siêu âm trên xương mu. Đánh giá kết
quả phẫu thuật theo tiêu chuẩn của Yukio Homma và cs ở các thời điểm trước, sau mổ và tái khám sau 3 tháng.
Kết quả: Tuổi trung bình 73,56 ± 8,06 tuổi (53‐89), 69,5% bệnh nhân trên 70 tuổi. Tất cả bệnh nhân đều
có điểm IPSS trước mổ >20 điểm, trung bình IPSS trước mổ là 30,31 ± 3,15 (24‐33). 35/36 bệnh nhân sau mổ và
khi tái khám có điểm IPSS 5, điểm trung
bình QoL trước mổ, sau mổ và khi tái khám lần lượt là 5,69 ± 2,02; 2,03 ± 0,61 và 1,23 ± 0,55. Lưu lượng dòng
tiểu trung bình QTB trước mổ và khi ra viện lần lượt là 1,63 ± 1,80 ml/s và 9,42 ± 1,85 ml/s (6 – 13,7 ml/s).
Khối lượng trung bình tuyến tiền liệt theo siêu âm là 55,94 ± 22,47 gam (21‐110 gam). Thời gian phẫu thuật
trung bình là 61,39 ± 24,04 phút (40‐140 phút), 75% bệnh nhân có thời gian phẫu thuật trong vòng 60‐90 phút.
Lượng dịch súc rửa trung bình trong mổ là 20,7 ± 2,93 lít (17‐23 lít). Biến chứng sau mổ 1 trường hợp chảy
máu (2,8%) phải can thiệp lại. Kết quả chung sau mổ có 61,6% rất tốt, 32,5% tốt, 5,9% khá, không có kết quả
kém. Số ngày nằm viện sau phẫu thuật trung bình là 5 ± 1,88 ngày (3‐7 ngày).
Kết luận: Phẫu thuật cắt u lành tính tuyến tiền liệt nội soi qua niệu đạo là phẫu thuật an toàn, tỷ lệ biến
chứng thấp, ngày nằm viện ngắn, và kết quả chủ yếu là tốt.
general results are good.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phương pháp nghiên cứu
U lành tính tuyến tiền liệt là bệnh lý thường
gặp ở nam giới lớn tuổi. Theo thống kê của Wei
và cộng sự, ở Mỹ bệnh chiếm tỷ lệ 75% nam giới
trong tuổi 70‐80(13). Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh u
lành tính tuyến tiền liệt là khoảng 50% nam giới
trên 50 tuổi theo nghiên cứu của Trần Đức
Hòe(5). Điều trị ngoại khoa cho bệnh u lành tính
tuyến tiền liệt dành cho những trường hợp có
biến chứng và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân. Từ năm 2003, Bệnh
viện Trường Đại học Y Dược Huế đã bắt đầu
triển khai phẫu thuật cắt u lành tính tuyến tiền
liệt bằng nội soi qua niệu đạo với kết quả bước
đầu khả quan song cho đến hiện nay vẫn chưa
có đánh giá cụ thể. Mục tiêu của đề tài này
nhằm khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, đánh
giá độ trầm trọng của bệnh u lành tính tuyến
tiền liệt bằng thang điểm IPSS, QoL và kết quả
phẫu thuật cắt u lành tính bằng nội soi qua niệu
đạo tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Gồm 36 bệnh nhân được chẩn đoán u lành
quang, nhận định ụ núi, các thùy của tuyến tiền
liệt, cổ bàng quang, 2 lỗ niệu quản, đánh giá
niêm mạc bàng quang. Khởi đầu bằng cắt thùy
giữa từ vị trí 5‐7 giờ ở cổ bàng quang đến ụ núi,
cắt tuần tự sâu dần cho đến khi thấy các thớ vỏ
của tuyến. Tiếp tục cắt thùy phải, cũng tuần tự
từ cổ bàng quang ở vị trí 11‐7 giờ ở cổ bàng
quang, hướng về phía ụ núi; tương tự cắt thùy
trái ở vị trí 1‐5 giờ ở cổ bàng quang hướng về ụ
núi. Kiểm tra tổng quát lô tuyến và hoàn thiện
các vết cắt cũng như cầm máu. Hút sạch các
mảnh cắt trong lòng bàng quang, rút máy, đặt
Foley có hai đường súc rửa bàng quang liên tục.
Đánh giá kết quả phẫu thuật khi ra viện và
khi tái khám (sau 3 tháng) theo tiêu chuẩn của
Yukio Homma(12).
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 3/2007 đến tháng
4/2008, tại Khoa Ngoại bệnh viện Trường Đại
học Y Dược Huế đã phẫu thuật cắt tuyến tiền
Hội Nghị Ngoại Khoa Và Phẫu Thuật Toàn Quốc Năm 2008
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
liệt nội soi qua niệu đạo cho 36 bệnh nhân tuổi
từ 53 đến 89, tuổi trung bình 73,56 ± 8,06.
Lý do vào viện: Hơn một nửa số trường hợp
vào viện bì bí tiểu cấp (52,8%), số còn lại là do
TTL(g)
PVR (ml)
QTB (ml/s)
36
36
Biên độ Ghi chú
69,5% > 70
73,56 ± 8,06 53 - 89
tuổi
30,31 ± 3,15 24 - 33 100% > 20
5,69 ± 2,02
5 - 6 100% > 5
36
55,94 ± 22,47 21 - 110
17
17
53,59 ± 38,56 10 - 250
1,63 ± 1,80 1,2 - 6
36
X ± SD
Bảng 2. Thời gian mổ và lượng dịch súc rửa trong
75% bệnh nhân có thời gian phẫu thuật trong
vòng 60‐90 phút. Lượng dịch súc rửa trung bình
trong mổ là 20,7 ± 2,93 lít, thấp nhất là 17 lít và
cao nhất là 23 lít.
Về tai biến và biến chứng, chúng tôi không
gặp trường hợp nào bị hội chứng nội soi, có 01
trường hợp (2,8%) chảy máu kéo dài sau mổ,
dịch rửa tiếp tục đỏ sẫm và hồng cầu, Hb hạ
thấp, được xử trí chuyền máu và đưa trở lại
phòng mổ đặt máy và cầm máu, diễn tiến thuận
lợi sau đó.
Tất cả bệnh nhân đều có điểm IPSS trước mổ
>20 điểm, trung bình IPSS trước mổ là 30,31 ±
3,15; thấp nhất 24 và cao nhất 33. 35/36 bệnh
nhân sau mổ và khi tái khám có điểm IPSS 5, điểm trung
bình QoL trước mổ, sau mổ và khi tái khám lần
lượt là 5,69 ± 2,02; 2,03 ± 0,61 và 1,23 ± 0,55.
Lưu lượng dòng tiểu trung bình trước mổ và
khi ra viện lần lượt là 1,63 ± 1,80 ml/s và 9,42 ±
1,85 ml/s (6 – 13,7 ml/s).
Bảng 3. So sánh IPSS, QoL, QTB trước và sau mổ
Chỉ tiêu Phân loại
IPSS
QoL
29
80,6
0
0
7
19,4
36
100
0
0
19
52,8
0
0
17
47,2
0
0
0
0
24
66,7
0
0
12
33,3
Bảng 4. Kết quả tái khám 3 tháng sau mổ
Phân loại
Tốt
Số BN
0
33
IPSS
Tỷ lệ %
0
100
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
Số BN
0
33
QoL
Tỷ lệ %
0
100
Bảng 5. Đánh giá kết quả phẫu thuật (IPSS và QoL
sau 3 tháng, QTB sau mổ)
IPSS sau
QoL trước QTB sau mổTổng
mổ/trước mổ mổ-sau mổ
trước mổ
hợp
N = 33
N = 33
N = 17
0
những trường hợp này là hợp lý. Sự cải thiện
lưu lượng dòng tiểu trung bình sau mổ cho thấy
kết quả là khả quan đã khẳng định lại điều này,
trung bình của lưu lượng dòng tiểu sau mổ là
9,42 ± 1,85 ml/s.
Về kỹ thuật phẫu thuật, chúng tôi đồng ý
với chủ trương không cần cắt bỏ tối đa mô tuyến
trong trường hợp u lành tính quá lớn >80 gam
mà chỉ cần tạo một đường thông đủ rộng từ cổ
bàng quang đến ụ núi, một mặt là do thời gian
phẫu thuật hạn chế, mặt khác chúng tôi sử dụng
máy cắt 24 Fr với chỉ một đường súc rửa càng
làm hạn chế hơn về thời gian. Đa số các tác giả
đều thống nhất thời gian phẫu thuật nên ở mức
thuật, ngoài ra sau khi đặt thông tiểu súc rửa
cũng phải theo dõi ít nhất là 5 phút.
Trong số bệnh nhân được phẫu thuật có 2 u
bàng quang được cắt bỏ đồng thời, 2 trường hợp
sỏi bàng quang được lấy sỏi qua một đường mổ
nhỏ trên xương mu, sau đó được đặt dẫn lưu
bàng quang và tiến hành cắt u lành tính nội soi
qua niệu đạo ngay sau đó. Cả 4 trường hợp đều
có diễn biến sau mổ thuận lợi.
Về kết quả của phẫu thuật, ở thời điểm 3
tháng sau mổ, chúng tôi có 93,9% điểm IPSS và
100% điểm QoL là tốt, 6,1% điểm IPSS là khá,
không có bệnh nhân nào có kết quả xấu. Đánh
giá theo tiêu chuẩn của Yukio Homma và cs (12),
Nghiên cứu Y học
chúng tôi không đo được lưu lượng dòng tiểu ở
thời điểm 3 tháng sau mổ, vì vậy chúng tôi tạm
đánh giá bằng chỉ số QTB khi bệnh nhân ra viện,
tổng hợp các tiêu chuẩn IPSS, QoL, QTB chúng
tôi có 61,6% rất tốt, 32,5% tốt, 5,9% khá, không
có kết quả kém.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 36 bệnh nhân được phẫu
thuật cắt u lành tính tuyến tiền liệt bằng nội soi
qua niệu đạo trong thời gian từ tháng 4/2007 đến
tháng 3/2008 tại Bệnh viện Trường Đại học Y
Dược Huế, chúng tôi có kết luận sau:
Quy Nhơn. Y Học TP Hồ Chí Minh, tập 7 – 2003, tr. 50‐55.
Nguyễn Hoàng Đức, Đào Quang Oánh. Mối tương quan giữa
khối lượng mô tiền liệt tuyến cắt qua nội soi với sự cải thiện
triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân bướu lành tiền liệt tuyến. Y
học TP Hồ Chí Minh, tập 7 – 2003, tr. 56‐61.
Nguyễn Hoàng Đức, Dương Quang Trí. Sự thay đổi của niệu
dòng đồ sau cắt đốt nội soi bướu lành tiền liệt tuyến. Y học TP
Hồ Chí Minh, tập 8 – 2004, tr. 150‐159.
Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Minh Quang, Vũ Lê Chuyên.
Tính an toàn của phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt nội soi cho
những bệnh nhân trên 80 tuổi. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 8 –
2004, tr. 160‐166.
Trần Đức Hòe. Một số kết quả điều tra dịch tể học u tiền liệt
tuyến. Hội nghị khoa học chuyên ngành ngoại khoa Bệnh
viện Việt Đức 12/1996, tr. 104‐105.
Đào Quang Oánh, Nguyễn Hoàng Đức. Tổng quan về các kỹ
thuật cắt tiền liệt tuyến qua ngã niệu đạo. Y học TP Hồ Chí
Minh, tập 6 – 2002, tr. 19‐24.
Nguyễn Bửu Triều và cs. Kết quả bước đầu của phương pháp
cắt nội soi u lành tính tiền liệt tuyến. Ngoại khoa tập XIII, số
4/1985, tr. 97‐99.
McConnell JD, Barry MJ, Bruskewitz RC, et al: Benign
Prostatic Hyperplasia: Diagnosis and Treatment. Clinical
Practice Guideline. No. 8. (AHCPR publication No. 94‐0582.)
Rockville, Md, Agency for Health Care Policy and Research,
Public Health Service, U.S. Department of Health and Human
Services, 1994.
Chancellor MB, Blaivas JG, Kaplan SA, et al: Bladder outlet
Chuyên Đề Ngoại Chuyên Ngành – Ngoại Niệu
Yamaguchi, Kiyoki Okada, Yoshio Aso, Hiroki Watanabe,
Eigoro Okajima, Joichi Kumazawa, Takuhiro Yamaguchi,
Yasuo Ohashi. Estimate Criteria for Efficacy of Treatment in
Benign Prostatic Hyperplasia. International Journal of
Urology, 1996; pp.267‐273.
Wei JT, Calhoun E, Jacobsen SJ. 2005. Urologic diseases in
America project: benign prostatic hyperplasia. J Urol,
173:1256–61.
Hội Nghị Ngoại Khoa Và Phẫu Thuật Toàn Quốc Năm 2008