A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XVI là một giai đoạn khá đặc biệt trong tiến trình lịch sử thế
giới nói chung và lịch sử Đông Nam Á nói riêng. Trong bối cảnh thế giới
thế kỉ XV – XVI là thời kì suy yếu và tan rã của chế độ phong kiến, thời kì
nảy sinh của chủ nghĩa tư bản thì các quốc gia phong kiến “già” ở Đông
Nam Á như: Inđônêxia, Đại Việt bước vào thời kì suy thoái, từng bước lún
sâu vào các cuộc khủng hoảng triền miên về chính trị, kinh tế - xã hội, trong
khi đó các quốc gia “trẻ” như: Lan Xang, Ayuthaya vẫn ổn định và tiếp tục
phát triển. Thế kỉ XVI cũng đánh dấu sự ra đời của hàng loạt các quốc gia
Hồi giáo ở Đông Nam Á hải đảo.
Cùng thời gian này sau những cuộc phát kiến địa lý ở thế kỉ XV, thế
kỉ XVI là thời kì các nước phương Tây bắt đầu xúc tiến quá trình xâm lược
thuộc địa. Đông Nam Á đã trở thành một trong những đối tượng xâm lược
quan trọng của chủ nghĩa thực dân. Những cường quốc thực dân đầu tiên ở
Đông Nam Á là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan…
Nghiên cứu “Quá trình xâm nhập của thực dân Bồ Đào Nha vào Đông
Nam Á thế kỉ XVI và những hệ quả của nó đối với lịch sử khu vực” sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương
Tây ở khu vực này trong khoảng một thế kỉ đầy biến động. Mặt khác nghiên
cứu quá trình xâm nhập Đông Nam Á của thực dân Bồ Đào Nha thế kỉ XVI
cũng giúp chúng ta có những cái nhìn khái quát về những hệ quả của nó đối
với tiến trình phát triển của lịch sử Đông Nam Á.
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á và là một thành viên của Hiệp
hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Tiến trình lịch sử và văn hóa Việt
Nam có nhiều điểm tương đồng với các quốc gia trong khu vực. Chính vì
vậy việc nghiên cứu Đông Nam Á sẽ giúp chúng ta tăng cường thêm sự hiểu
biết và hợp tác với các nước trong khu vực, đồng thời cũng là yêu cầu cấp
thiết đặt ra để nước ta nhanh chóng hội nhập quốc tế và khu vực.
1
2
một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về lịch sử các nước
Đông Nam Á một cách có hệ thống. Trong cuốn sách này tác giả đã trình
bày tiến trình lịch sử các nước trong khu vực: Lào, Campuchia, Thái Lan,
Miến Điện, Inđônêxia, Malaixia từ đầu cho đến khi bị thực dân phương tây
xâm chiếm.
Trong cuốn “Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á”(trừ Việt Nam - từ
nguyên sơ đến thế kỉ XVI) của Nguyễn Thế Anh, nhà xuất bản Lửa Thiêng –
Sài Gòn, 1972, đã trình bày lịch sử các quốc gia Đông Nam Á trong từ
nguyên sơ cho đến thế kỉ XV. Thế kỉ XVI chỉ được đề cập như là một mốc
thời gian kết thúc giai đoạn cổ sử của Đông Nam Á và bắt đầu một giai đoạn
mới, giai đoạn đế quốc của Bồ Đào Nha ở Á – Đông và của sự bành trướng
của châu Âu ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Lịch sử Đông Nam Á từ thời cổ đại đến năm 1945 được đề cập trong
cuốn “Đông Nam Á trong lịch sử thế giới” của tập thể tác giả ở Viện
Phương Đông - Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, NXB Khoa học Matxcơva
năm 1977.(Bản dịch của Đinh Ngọc Bảo, Nghiêm Đình Vỳ - Thư viện
trường ĐHSP Hà Nội). Trong cuốn sách này, các tác giả đã đề cập đến ba
giai đoạn phát triển của lịch sử Đông Nam từ thời cổ đại cho đến năm 1945 thời kì bắt đầu tan rã của hệ thống thuộc địa. Lịch sử Đông Nam Á thế kỉ
XVI được phân tích và trình bày khái quát trên một số phương diện: kinh tế,
chính trị, xã hội.
Ngoài ra lịch sử các nước Đông Nam Á ở thế kỉ XVI còn được đề cập
trong nhiều cuốn giáo trình cũng như những chuyên khảo về từng nước như:
- Phan Ngọc Liên(chủ biên), “Lược sử Đông Nam Á”, NXBGD, Hà
Nội, 1998
- Ngô Văn Doanh, “Inđônêxia - những chặng đường lịch sử”, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995
- Nguyễn Đình Lễ, “Đất nước chùa vàng”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1988
của thực dân Bồ Đào Nha vào Đông Nam Á thế kỉ XVI
4
Về mặt không gian: đề tài nghiên cứu quá trình xâm nhập của thực
dân Bồ Đào Nha vào các nước ở khu vực Đông Nam Á và những hệ quả của
nó đối với lịch sử khu vực.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, em đã có quá trình sưu tầm và tập hợp hệ
thống các tài liệu. Khi tiến hành nghiên cứu, em đã sử dụng những phương
pháp sau: phương pháp lịch sử, phương pháp logic phương pháp phân tích
so sánh, tổng hợp để trình bày các sự kiện, vấn đề theo mối liên hệ có tính
biện chứng của lịch sử xã hội, nhằm đảm bảo tính hệ thống, chính xác và
khoa học.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 3 chương:
Chương I: Bối cảnh thế giới và khu vực Đông Nam Á thế kỉ XVI
Chương II: Qúa trình xâm nhập của thực dân Bồ Đào Nha vào Đông
Nam Á thế kỉ XVI.
Chương III: Hệ quả của quá trình xâm nhập của thực dân Bồ Đào
Nha đối với tiến trình phát triển của lịch sử khu vực Đông Nam Á.
5
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Bối cảnh thế giới và khu vực Đông Nam Á thế kỉ XVI
1.1. Bối cảnh thế giới
thế vào đó là nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa. Các trang trại sản xuất
nông nghiệp hàng hóa được hình thành nhiều. Ở Anh, sự phát triển nhanh
chóng của hàng dệt đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các trang trại chăn
nuôi cừu lấy lông, lối kinh doanh này đã mang đến cho họ những món lợi
nhuận khổng lồ.
Về thương nghiệp, sau phát kiến địa lý, ở châu Âu thực sự đã xảy ra
một cuộc cách mạng. Hoạt động thương nghiệp xuyên đại dương phát triển
mạnh mẽ sau khi các nhà phát kiến địa lý đã lập được những kì tích vĩ đại, đó
là tìm ra những con đường đến những nơi mà trước đó người châu Âu chưa
hề biết đến. Sau những cuộc phát kiến địa lý, hoạt động của các thành phố ở
Địa Trung Hải vốn trước kia là trung tâm thương mại sôi động như:
Marseille, Genoa, Vience…đã giảm sút, nhường chỗ cho các thành phố ven
bờ Đại Tây Dương phát triển mạnh như Lisbon, Amsterdam, Rotterdam,
London, Liverpool… Vàng bạc và các sản phẩm quý từ châu Mỹ và các nước
phương Đông đem về được các nước châu Âu, nhiều nhất là Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha, làm cho các nước ven biển này trở nên giàu có. Các hoạt động
thương mại cũng trở nên náo nhiệt hơn, phạm vi lẫn quy mô được mở rộng
hơn nhiều. Các sản phẩm thủ công nghiệp truyền thống của châu Âu như: len
dạ, vải lụa, đồ mỹ phẩm, rượu vang…đến thời điểm này đã tìm được những
thị trường rộng lớn còn đầy tiềm năng để tiêu thụ như châu Mỹ, châu Phi và
châu Á. Ngược lại, các sản phẩm, hàng hóa từ châu Á, Phi, Mỹ như hồ tiêu,
ca cao, cà phê, hương liệu, gỗ quý…cũng đã bắt đầu phổ biến ở thị trường
châu Âu. Hoạt động thương mại giữa châu Âu với các khu vực khác trên thế
giới đến thời điểm này không còn manh mún, lẻ tẻ mà nó đã trở thành động
lực quan trọng thúc đấy sự phát triển của nền kinh tế châu Âu.
Sự giao lưu thương mại giữa châu Âu với châu Mỹ, Phi, Á đã tạo ra
những con đường buôn bán nối liền ba khu vực, tạo thành tam giác mậu dịch
nhộn nhịp ở khu vực Đại Tây Dương. Là những nước đi đầu tổ chức các
7
8
tìm ra những con đường hàng hải mới và tìm đến những vùng đất mới đã
dẫn đến sự bùng nổ cách mạng thương mại toàn cầu, một cuộc cách mạng đã
tác động sâu sắc đến nhiều khu vực, nhiều quốc gia.
1.1.1.2. Nhu cầu mở rộng thị trường sang phương Đông của các nước
Tây Âu
Vào thế kỉ XV – XVI, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế,
các nước Tây Âu có nhu cầu mở rộng thị trường trao đổi, buôn bán với các
khu vực khác. Thời kì này, thị trường của giai cấp tư sản mới ra đời chỉ bó
hẹp trong phạm vi châu Âu, còn buôn bán với phương Đông phải thông qua
vùng Cận Đông. Việc buôn bán với phương Đông tuy mới chỉ bắt đầu nhưng
thương nhân Tây Âu đã nhận thức được nơi đây sẽ mang lại nhiều lợi nhuận
cho công việc làm ăn của họ. Thời điểm đó, nhu cầu mở rộng thị trường sang
phương Đông là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế Tây Âu.
Từ lâu hương liệu, gia vị, tơ lụa và các mặt hàng quý giá khác của
phương Đông đã trở thành những thứ xa xỉ được giới quý tộc châu Âu rất ưa
chuộng. Tuy nhiên, từ cuối thế kỉ XV, đối với người châu Âu việc mua
những hàng hóa quen thuộc của phương Đông gặp trở ngại. Con đường
thông thương chủ yếu lúc bấy giờ giữa người châu Âu với phương Đông là
qua vùng Trung Cận Đông lại bị người Turks Ottoman chiếm đóng và kiểm
soát chặt chẽ. Các hoạt động giao thương từ Hồng Hải sang Ấn Độ Dương
và việc người Arab dựng lên một hàng rào bất khả xâm phạm giữa Ấn Độ và
châu Âu khiến cho không một tàu buôn nào của châu Âu được phép qua lại
nơi đây. Kể từ đây, người Arab trở thành kẻ phân phối độc quyền hàng hóa
của phương Đông, khiến người châu Âu phải mua lại với giá đắt gấp 8 – 9
lần giá mua [1;tr.172]
Trong bối cảnh đó, các nước Tây Âu đã tiến hành các cuộc phát kiến
địa lý và cuối cùng họ đã tìm ra được những con đường mới sang phương
người châu Âu từng chứng kiến cảnh huy hoàng của kinh thành Bizantine
trong thời kì Thập tự chinh, cũng như sự giàu có của người Arab, Trung
Quốc, Ấn Độ, khiến phương Đông trở thành thiên đường mà người Tây Âu
muốn đến. Marco Polo còn đặt chân đến khu vực Đông Nam Á. Theo Hall,
Marco Polo (1254 – 1324), ông là thương nhân thành Venezia (Italia). Năm 1271 ông,
cùng cha (Niccolò) và chú (Maffeo), là những người châu Âu đầu tiên đến Trung Quốc
(nơi mà Marco Polo gọi là Katai) bằng Con đường tơ lụa. Ông được khả hãn Mông Cổ
Hốt Tất Liệt (cháu của Thành Cát Tư Hãn) trọng dụng. Trở về nước năm 1295 ông đã kể
lại sự giàu sang của các nước phương Đông. Những cuộc du hành của ông đã được ghi
lại trong cuốn Il Milione (còn sách được biết với các tên Marco Polo du ký và Miêu tả
thế giới).
1
10
Marco Polo đã từng đến một thành phố ở phía bắc Miến Điện mà ông ta gọi
là “Miến”. Và “Điều gây ấn tượng đối với ông ta nhiều nhất là hai tháp bằng
đá cao năm mươi bộ, một tháp được thếp vàng, còn tháp kia được thếp bạc
và cả hai đều đeo xung quanh những chiếc chuông kêu leng keng trước
gió”[11; tr.363]. Marco Polo cũng đã mô tả về “một trong các quốc gia Lào
bán độc lập nằm trên biên giới Vân Nam. Nhà vua có 300 vợ; đất nước có
nhiều vàng bạc, voi và nhiều loại hương liệu”. Hay Marco Polo còn cho
rằng đảo Java là nơi “sản xuất hạt tiêu đen, nhục đậu khấu, cam tùng, gừng
núi, quả hạch, đinh hương và tất cả các loại hương liệu khác”[11; tr.365].
Tuy những điều Marco Polo viết không hoàn toàn chính xác nhưng ở thời
điểm đó nó đã kích thích trí tò mò cũng như thổi bùng lên ngọn lửa tham
vọng tìm kiếm vàng và hương liệu của giới quý tộc và thương nhân châu
Âu.
Châu Á như Trung Quốc dưới triều Minh, Ấn Độ thời Acơba…vẫn là những
quốc gia mạnh và phát triển. Tuy nhiên sau đó, nhìn chung xã hội phong kiến
Châu Á cũng bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng và suy thoái kéo dài.
Sự suy yếu đi liền với tình trạng khủng hoảng của xã hội phong kiến.
Biểu hiện trước hết của nó là ở chỗ công cụ lao động không được cải tiến,
sản xuất chậm phát triển. Ở một vài nơi, mầm mống của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa bắt đầu nảy sinh nhưng không thể vượt qua được khuôn khổ chế
độ chuyên chế cực đoan, quan hệ phong kiến bảo thủ. Mâu thuẫn xã hội trở
nên thường xuyên gay gắt. Chính quyền phong kiến không còn có thể cải
thiện được tình hình, quay ra đàn áp quần chúng và tiếp tục lấn sâu vào con
đường hủ bại. Giai cấp phong kiến thì chia bè đảng, tham nhũng và tranh
giành nhau kịch liệt. Tình trạng này kéo dài một cách dai dẳng trong khi đó
các nước châu Âu đang chuyển biến mạnh. Chủ nghĩa thực dân xuất hiện,
đang hăm hở đi xâm chiếm các nơi khác. Sự suy yếu của các quốc gia châu
Á sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân
phương Tây.
Nguyên nhân chủ yếu của sự suy yếu này, một phần là do sự thống trị và
bóc lột nặng nề của giai cấp phong kiến, của bộ máy chính quyền cồng kềnh và
12
hủ bại, phần khác do những quan hệ phong kiến cổ truyền ràng buộc người nông
dân với ruộng đất và xóm làng, với phương thức canh tác cổ xưa, không tạo điều
kiện giải phóng sức sản xuất, không làm chuyển biến quan hệ kinh tế - xã hội
một cách căn bản.
Đông Nam Á nằm giữa hai quốc gia rộng lớn, hai nền văn hóa lâu đời
là Trung Quốc và Ấn Độ, do vậy ở thế kỉ XVI tình hình Trung Quốc, Ấn Độ
đã có tác động tới quá trình xâm lược Đông Nam Á của thực dân phương
Tây nói chung và thực dân Bồ Đào Nha nói riêng.
Đầu thế kỉ XVI sau khi xây dựng chính quyền và khôi phục sản xuất
với các nước.
Nhà Minh còn kiểm soát chặt chẽ ngoại thương, trưng mua các hàng
hóa xuất nhập tốt nhất để dùng, còn lại mới cho bán. Do vậy sự tích lũy ban
đầu của chủ nghĩa tư bản không tiến triển được. Từ cuối thế kỉ XVI nhà
Minh lâm vào khủng hoảng.
Nhà Minh thiết lập chế độ tập quyền. Quyền lực của hoàng đế là tối
cao. Vua mê muội, mải chơi làm cho quyền hành rơi vào tay bọn gian thần.
Chúng ra sức bóc lột nhân dân, giết hại trung thần… Tình trạng đó đã có
ảnh hưởng xấu đến tình hình đất nước. Biểu hiện của việc khủng hoảng là
các cuộc khởi nghĩa, cuộc đấu tranh của thị dân chống lại triều đình.
Đầu thế kỉ XVI, một bộ phận quý tộc gốc Mông Cổ ở Trung Á đứng
đầu là quốc vương Babua đã tấn công Ấn Độ, lật đổ vương triều Hồi giáo
Đêli, thiết lập một vương triều mới – vương triều Môgôn. Thời kì trị vì của
Acơba gần như kéo dài suốt nửa sau thế kỉ XVI (1556-1605) và được coi là
thời đại hùng mạnh nhất của “Đế quốc Môgôn vĩ đại”. Ông đã cho thi hành
những chính sách cải cách kinh tế, xã hội tiến bộ như cải cách chế độ thuế
ruộng đất, ban hành các đạo luật cấm tảo hôn… đặc biệt là chính sách hòa
hợp dân tộc, khoan dung tôn giáo… giúp cho Ấn Độ bước vào thời kì thịnh
vượng. “Kinh đô Agra của Acơba là một thành lũy to lớn và danh tiếng.
Trong thành có 500 tòa nhà, lâu đài mà người đương thời cho là đẹp
nhất”[32; tr.360]. Khi Acơba mất, các chính sách ông đề ra đã không thu
được kết quả, đế quốc Môgôn bắt đầu lâm vào tình trạng không ổn định và bị
14
chia rẽ. Ở trong hoàng cung thì nổ những cuộc nổi loạn nhằm cướp ngôi vua.
Bên ngoài là sự chống đối, nổi dậy không ngừng của các lãnh chúa phong
kiến nhằm chống lại chính quyền trung ương và đòi phân chia quyền lực.
Trong khi đó quân đội của triều đình ngày càng trở nên suy yếu, nên không
thể tăng cường sức mạnh của chính quyền trung ương bằng con đường xâm
lược của thực dân phương Tây mà Bồ Đào Nha là nước đi tiên phong. Quá
trình xâm nhập đó bắt đầu từ thế kỉ XVI với sự kiện thực dân Bồ Đào Nha
đánh chiếm Malắcca (1511) và kết thúc vào thế kỉ XIX.
1.2. Khái quát tình hình khu vực Đông Nam Á thế kỉ XVI
* Điều kiện tự nhiên và vị trí chiến lược của Đông Nam Á
Thuật ngữ Đông Nam Á, được sử dụng để chỉ một khu vực thuộc phía
đông nam của châu Á, hiện nay bao gồm 11 quốc gia. Tổng diện tích khu
vực này khoảng 4,5 triệu km 2, nằm trên một khu vực tiếp giáp giữa Thái
Bình Dương và Ấn Độ Dương. Điều kiện tự nhiên Đông Nam Á có những
nét rất đặc biệt.
Đông Nam Á có tọa độ địa lí từ khoảng 92o đến 141o kinh đông và 28o
vĩ bắc đến 15o vĩ nam. Với vị trí địa lí này, khu vực Đông Nam Á có điều
kiện khí hậu không thuần nhất. Nhưng do có yếu tố gió mùa đặc trưng của
vùng nên khí hậu ở đây không tuân theo những quy luật bình thường như ở
một số vùng có cùng vĩ tuyến.
Gió mùa là một đặc điểm tự nhiên đặc biệt, góp phần quan trọng hình
thành nên tính đặc trưng của tự nhiên – lịch sử và con người Đông Nam Á.
Chính gió mùa nơi đây đã tạo ra một môi trường tự nhiên thuận lợi cho con
người sinh sống ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người. Gió mùa
cùng với khí hậu đại dương đã mang đến cho Đông Nam Á những cơn mưa
nhiệt đới có quy luật ổn định, đem đến độ ẩm cao tạo nên những khu tập
trung dân cư đông đúc và sầm uất ở các thành phố chạy dài từ miền lục địa
đến hải đảo.
Điều kiện tự nhiên đó cũng tạo nên tính chất đặc thù trong ngành
nông nghiệp ở Đông Nam Á. Khu vưc này có thể coi là một trong những
quê hương của cây lúa nước và đặc biệt là cái nôi của nhiều loại gia vị và
16
hương liệu quý hiếm như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương,
Sau hơn hai thế kỉ phát triển thịnh đạt (XIII –XIV) và tồn tại như một
đế chế thương mại lớn ở khu vực Đông Nam Á, vương triều Mojopahit bắt
đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng từ cuối thế kỉ XIV và đi đến sụp đổ. Sự
khủng hoảng đó bắt nguồn từ những vấn đề bên trong của xã hội Inđônêxia.
Cho đến thế kỉ XVI, ở Inđônêxia công xã nông thôn và tất cả tính chất
bảo thủ của nó vẫn tiếp tục tồn tại, thậm chí ở những nơi xa xôi hẻo lánh vẫn
có những quan hệ cũ lạc hậu của chế độ nguyên thủy. Tình hình kinh tế của
Inđônêxia trong hai thế kỉ XV – XVI có sự chững lại. Nguyên nhân là do sự
suy yếu của chính quyền phong kiến đã không có những chính sách phát
triển kinh tế hợp lí.
Kinh tế nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo của Inđônêxia. Từ
thế kỉ XIII dưới vương triều Mojopahit, nông nghiệp vẫn được quan tâm
phát triển. Các vị vua cho xây dựng các hệ thống đê điều kênh mương quan
tâm phục vụ cho sản xuất. Trong suốt hai thế kỉ XIII – XIV, Java đã trở
thành vựa lúa lớn của khu vực, thóc gạo được coi là mặt hàng chính để xuất
khẩu. Tuy nhiên sang cuối thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XV, tình hình sản xuất
nông nghiệp ở Inđônêxia do không được quan tâm đúng mức, hơn nữa do sự
thay đổi cơ cấu cây trồng từ cây lương thực sang cây gia vị, hương liệu…
nên năng suất lúa gạo giảm mạnh. Thêm vào đó là kĩ thuật canh tác lạc hậu,
chủ yếu mang tính chất tự nhiên làm cho sản xuất nông nghiệp kém phát
triển.
Thủ công nghiệp và thương nghiệp của Inđônêxia dưới thời kì vương
triều Mojopahit cũng khá phát triển với các ngành thủ công truyền thống
như đóng tàu, rèn kim loại. Tuy nhiên, thủ công nghiệp hầu hết vẫn mang
tính chất tự cấp, tự túc và chưa tách khỏi nông nghiệp. Vào thế kỉ XVI, ở
Inđônêxia có xuất hiện những xưởng thủ công đóng tàu của nhà nước nhưng
chủ yếu phục vụ mục đích quân sự.
Nhờ có vị trí thuận lợi nên ngành thương nghiệp của Inđônêxia đã có
những bước phát triển đáng kể ngay từ những thể kỉ XII – XIII, Inđônêxia
Bên cạnh đó, những mâu thuẫn gay gắt giữa các thế lực quý tộc phong
kiến cũng làm cho vương quốc Mojopahit suy yếu. Những cuộc tranh giành
19
quyền lực trong nội bộ vương triều đã làm tổn thất sức người sức của của
đất nước. Đúng lúc đó thì người Ấn Độ theo Hồi giáo đã đến buôn bán ở
Inđônêxia và họ cũng có xu hướng thành lập các tiểu quốc cát cứ của mình.
Inđônêxia lúc này rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và phân liệt
thành hàng loạt nước nhỏ luôn tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau.
Sự thiếu ổn định về chính trị cũng đã dẫn đến sự bất ổn và khủng
hoảng trong đời sống xã hội Inđônêxia vào cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI.
Giai đoạn này, đạo Hồi đã xâm nhập vào xã hội Inđônêxia và ngày càng có
vai trò quan trọng. Đạo Hồi với giáo lí của nó đã thu hút được đa số quần
chúng đang có mâu thuẫn sâu sắc với giai cấp quý tộc quan lại. Đặc biệt là
những người nông dân đã bị bần cùng hóa do chính sách bóc lột tô thuế để
kiểm lợi của quý tộc, quan lại và nhà vua, cũng đã từ bỏ Ấn Độ giáo để đi
theo Hồi giáo. Điều đó đã tạo nên sự chống đối có thể bùng phát bất kì lúc
nào trong lòng xã hội Inđônêxia. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn
đến sự suy yếu của vương triều Mojopahit.
1.2.2. Khu vực Đông Nam Á lục địa
Đại Việt từ thế kỉ XVI, chế độ quân chủ chuyên chế bắt đầu lâm vào
khủng hoảng mà biểu hiện rõ rệt nhất đó chính là tình trạng cát cứ và nội
chiến liên miên diễn ra giữa các thế lực phong kiến hình thành nên cục diện
Nam – Bắc triều (1527 – 1592). Mâu thuẫn giữa hai thế lực phong kiến
Trịnh – Nguyễn và những cuộc chiến tranh nông dân bùng nổ khắp nơi…
làm cho đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và ngày càng
suy yếu.
Thế kỉ XVI, sự thịnh trị tương đối của thời Lê Sơ không còn nữa. Từ
đời vua Lê Uy Mục (1505 – 1509) và vua Lê Tương Dực (1510 – 1526),
Sự suy yếu của chính quyền phong kiến Việt Nam đầu thế kỉ XVI
diễn ra do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân kinh tế đóng vai trò quyết
định. Dưới triều Lê, chính sách quân điền được thực hiện và trở thành cơ sở
của nền kinh tế phong kiến, đảm bảo nguồn thu của quốc gia và làm cho đất
nước ổn định trong một thời gian dài. Nhưng chính chế độ quân điền mà đi
kèm với nó là chế độ lộc điền đã tạo những điều kiện cho sự phát triển mạnh
21
mẽ của ruộng đất tư. Bộ phận ruộng đất công làng xã ngày càng bị thu hẹp.
Sự phát triển của chế độ tư hữu lớn về ruộng đất ở thế kỉ XVI đã dẫn đến sự
phát sản của chính sách quân điền. Bộ phận ruộng đất công làng xã ngày
càng bị lũng đoạn và mất dần chức năng làm nền tảng kinh tế cho quốc gia
phong kiến. Đây chính là nguyên nhân sâu xa cho sự suy yếu của triều Lê
cũng như của các quốc gia phong kiến thống nhất. Tình trạng cát cứ và nội
chiến đã cản trở sự phát triển của sức sản xuất. Ngay trong nội bộ triều Lê triều đại đã đưa chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam phát triển lên giai
đoạn thịnh đạt, đã dần dần hình thành những phe phái đối lập âm mưu lộng
quyền. Tuy nhiên các phe phái này không đại diện cho một lực lượng hay xu
thế tiến bộ của xã hội, mà chỉ vì lợi ích riêng của từng tập đoàn và dựa vào
lực lượng quân sự của bản thân để tranh giành quyền lực.
Trước hết đó là Mạc Đăng Dung. Từ một sĩ quan cấp thấp, Mạc Đăng
Dung đã khéo lợi dụng cuộc xung đột giữa các phe phái phong kiến để gây
thế lực và củng cố địa vị. Mạc Đăng Dung tìm mọi cách diệt trừ dần các phe
phái đối lập và đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân để thâu tóm quyền hành
vào tay mình. Năm 1527, tập đoàn phong kiến do Mạc Đăng Dung cầm đầu
thắng thế, phế truất triều Lê, lập ra vương triều Mạc. Họ Mạc tuy thắng thế
nhưng cũng chỉ là một tập đoàn phong kiến quân phiệt vì lợi ích của dòng họ
mà cướp đoạt ngôi. Vì vậy, họ Mạc vừa lên nắm chính quyền thì các phe phái
phong kiến đối lập nấp dưới chiêu bài khôi phục triều đại chính thống, nổi lên
ở nhiều nơi. Cuối cùng, một viên tướng cũ của triều Lê là Nguyễn Kim ra sức
tiếp tục chăm lo xây dựng các hệ thống thủy lợi. Nhưng các vị vua tiếp theo
trong thế kỉ XIII đã không chăm lo đến công tác thủy lợi như trước nữa. Hệ
thống kênh máng do không được tu sửa thường xuyên nên đã dẫn đến tình
trạng tắc nghẽn làm cho sản xuất nông nghiệp bị đình đốn, năng suất thấp,
đất nước ngày càng bị suy kiệt.
Các ngành thủ công nghiệp chủ yếu của Campuchia gồm nghề mộc,
nghề làm gốm, nghề dệt…tuy nhiên kĩ thuật sản xuất rất lạc hậu, chủ yếu để
phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Nội thương trong nước chủ yếu diễn
23
ra dưới hình thức chợ phiên, chủ yếu là trao đổi trực tiếp, dùng vật đổi vật.
Campuchia trong thế kỉ từ XIV đến thế kỉ XVI đã có sự giao lưu buôn bán
với các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Chămpa. Tuy nhiên, ngoại thương
Campuchia không phát triển do các sản phẩm của nước này ít thu hút được
thương nhân nước ngoài và ít có giá trị thương mại.
Bên cạnh sự suy yếu về kinh tế thì tình hình chính trị của Campuchia
cũng không còn ổn định như trước. Tình hình trong nước luôn bất ổn định
với những cuộc chiến tranh tranh chấp quyền lực giữa các thế lực phong
kiến diễn ra trong suốt thế kỉ XIV và nửa đầu thế kỉ XVI. Bên cạnh đó,
Campuchia luôn phải chống đỡ lại những cuộc xâm lược của người Thái.
Trong suốt hai thế kỉ XV – XVI, vương quốc Ayuthaya trước sau đã hơn
mười lần đem quân tiến đánh Campuchia, không ít lần đã tiến đánh kinh đô,
bắt vua, lấn đất, cướp phá, tàn sát nhân dân. Sự đe dọa, uy hiếp của người
Thái không ngừng tăng lên. Năm 1432, để tránh sự uy hiếp của người Thái,
nhà vua Campuchia đã quyết định bỏ kinh đô cũ Ăngco, lùi về phía Đông
Nam, gần vùng Bốn mặt sông, đặt tên kinh đô mới là Phnômpênh. Sự kiện
này đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với lịch sử Campuchia, nó báo hiệu
một thời kì khủng hoảng trầm trọng không sao gượng nổi dậy của vương
quốc này. Thế kỉ XVI, Campuchia lại phải dời kinh đô từ Phnômpenh về
chuộng. Thế kỉ XV – XVI, việc trao đổi buôn bán đã vượt qua ngoài biên giới
vương quốc Lào. Người Lào quan hệ buôn bán với người Việt ở Đàng ngoài.
Người Việt mang các sản phẩm của mình như: muối, mắm, cá khô…sang Lào
đổi lấy thóc, gạo, vải
Về xã hội: cho đến thế kỉ XVI, ở Lanxang xã hội đã phân hóa khá
rõ. Quý tộc quan lại là tầng lớp thống trị được hưởng nhiều đặc quyền,
đặc lợi nhất. Thu nhập của họ dựa vào bổng lộc và ruộng đất được ban
cấp. Nhưng nguồn thu chủ yếu là từ việc bóc lột nông dân trên cơ sở số
ruộng đất được ban cấp. Còn hầu hết cư dân Lào đều là những nông dân
công xã tự do và là những người lao động chủ yếu. Họ làm ruộng công
xã, khi nông nhàn họ có thể dệt vải, chăn nuôi gia súc, đánh cá và tìm
kiếm lâm sản. Họ vừa tự nuôi sống gia đình, vừa phải nộp thuế sản vật
25