Một số đặc điểm của phật giáo thời Ngô Đinh Tiền Lê và ý nghĩa của nó đối với lịch sử Việt Nam - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

TRỊNH THỊ HÒA

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO
THỜI NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
ĐỐI VỚI LỊCH SỬ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

TRỊNH THỊ HÒA

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO
THỜI NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
ĐỐI VỚI LỊCH SỬ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


tiếp hướng dẫn khoa học, các thầy giáo trong khoa Triết học - Trường Đại học
Khoa học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã có những ý
kiến đóng góp quý báu cho nội dung của luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đã động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Vì thời gian thực hiện luận văn có hạn nên không thể tránh khỏi những hạn
chế và thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và
đồng nghiệp.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Tác giả

TRỊNH THỊ HÒA


MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................... 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu. ............................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn. ..................................... 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ....................................... 7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. .............................................. 8
6. Những đóng góp của luận văn .................................................................... 8
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn. ................................................ 8
8. Kết cấu của luận văn . ................................................................................. 9
NỘI DUNG..................................................................................................... 10
CHƢƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT
GIÁO THỜI NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ VÀ DIỆN MẠO CỦA NÓ. ....... 10
1.1 Bối cảnh cho sự phát triển Phật giáo thời kỳ Ngô – Đinh – Tiền Lê.. 10
1.1.1 Điều kiện chính trị - kinh tế xã hội ......................................................... 10
1.1.2 Điều kiện văn hoá – tư tưởng ................................................................. 22

con người với con người, ngợi ca tình thương lòng từ bi bác ái. Phật giáo sau
khi ra đời ở Ấn Độ đã nhanh chóng lan tỏa đi ra các nước trong khu vực. Với
sự mềm mỏng, khoan dung, uyển chuyển trong giáo lý, giáo lễ, giáo luật dựa
trên tinh thần “khế lý khế cơ” đi đến đâu Phật giáo cũng nhanh chóng hòa
hợp, ăn sâu bám rễ vào nền văn hóa nơi mà nó truyền bá tới. Mà ở Việt Nam
cũng không phải là một ngoại lệ.
Phật giáo truyền vào Việt Nam vào khoảng đầu công nguyên khi nước
ta đang chìm đắm trong vòng nô lệ của phong kiến phương Bắc. Đứng trước
nỗi bất hạnh của một dân tộc bị mất độc lập chủ quyền, có nguy cơ bị đồng
hóa về mặt văn hóa. Phật giáo đã không đứng ngoài cuộc mà chia sẻ đứng về
phía người dân Việt Nam bị đọa đầy đau khổ, động viên, ủng hộ họ trong các
cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Và trong suốt hai ngàn năm lịch sử
du nhập và phát triển ở Việt Nam, Phật giáo luôn đồng hành cũng dân tộc,
đứng về phía dân tộc để chống lại các thế lực ngoại bang.
Với sự hội nhập của Phật giáo với văn hóa dân tộc, nên những tư tưởng
cao siêu thấm đẫm tinh thần triết học Phật giáo tự khi nào đã thấm vào trong
quần chúng nhân dân lao động trở thành giá trị định hướng cho suy nghĩ và
hành động của người Việt. Phật giáo đã kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản
địa tạo nên một lâu đài tráng lệ về văn hóa mà vẫn đậm bản sắc dân tộc. Với
những kết quả to lớn của Phật giáo hòa nhập với văn hóa Việt Nam thì việc
đúc rút nghiên cứu về những đặc điểm, đặc trưng của Phật giáo trong các triều

1


đại trong lịch sử sẽ luôn là một vấn đề bức thiết đặt ra đối với những người
muốn tìm hiểu về Phật giáo Việt Nam.
Việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam bởi thế đã có nhiều công
trình nghiên cứu, tuy nhiên không phải giai đoạn lịch sử Phật giáo nào cũng
được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và phân tích một cách đẩy đủ, hệ thống

trọng. Điều đó không những góp phần giúp chúng ta tìm hiểu tinh hoa tư
tưởng và văn hóa dân tộc trong quá khứ mà còn giúp ta có một cái nhìn khách
quan về vị trí của Phật giáo trong các triều đại Ngô- Đinh –Tiền Lê đã đóng
góp cho dân tộc Việt Nam.
Chính vì những lý do nêu trên mà tôi lựa chọn vấn đề tìm hiểu: “Một
số đặc điểm của Phật giáo thời Ngô – Đinh – Tiền Lê và ý nghĩa của nó
đối với lịch sử Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Lịch sử Phật giáo truyền vào nước ta từ những thế kỷ đầu công
nguyên, đến nay đã ngót 2000 năm. Qua thời gian dài Phật giáo đã để lại cho
dân tộc ta nhiều dấu ấn, có thế thấy từ tín ngưỡng đến văn hóa, phong tục tập
quán, từ tư tưởng chính trị, luật pháp đến tình cảm. Với ảnh hưởng lâu dài,
sâu rộng của Phật giáo ở nước ta, cho đến ngày nay có rất nhiều công trình
nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam nói chung, đóng góp của Phật giáo cho tư
tưởng Việt Nam, văn hóa Việt Nam, mà điển hình là các công trình sau:
Tác phẩm được cho là công trình nghiên cứu sớm nhất về tinh hoa Phật
giáo Việt Nam lưu truyền cho đến ngày nay là tác phẩm “Thiền uyển tập
anh”. Đây là công trình tập trung nghiên cứu truyền thừa hai dòng thiền Tỳ
Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông với những đại diện là những thiền sư cụ
thể. Tuy nhiên tác phẩm này lại chưa đi sâu tìm hiểu và đánh giá về các mặt
đầy đủ, cụ thể của Phật giáo thời Ngô – Đinh –Tiền Lê.
Đến thế kỷ cận hiện đại ở nước ta có hai công trình nghiên cứu về Phật
giáo là “Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII” của Trần Văn
Giáp, “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Thích Mật Thể. Hai cuốn sách này
3


đã mang những giá trị nhất định đều đáp ứng phần nào đó yêu cầu hiểu biết về
lịch sử Phật giáo tại Việt Nam của người đương thời, đều để lại những kiến
thức và kinh nghiệm cho những người nghiên cứu Phật giáo về sau. Tuy

tưởng dân tộc trong đó có thời Ngô – Đinh – Tiền Lê. Trong giai đoạn này
sách đã chỉ ra được một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo thời Ngô – Đinh –
Tiền Lê nhưng với dung lượng trang có hạn nên những đặc điểm này chỉ được
phân tích sơ lược.
Năm 1999, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội đã cho xuất bản
cuốn sách “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh với dung
lượng dạy dặn hơn 800 trang. Đây là một cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về
tư tưởng của Phật giáo Việt Nam. Tác giả đã đi từ trong phân tích nội dung
kinh kệ được du nhập qua các thời đại khác nhau để chỉ ra sự vận động, phát
triển của tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên tác giả lại không đi nghiên
cứu một cách cụ thể về đặc điểm Phật giáo thời Ngô – Đinh –Tiền Lê
Năm 2006, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã cho in
lại có bổ sung công trình nghiên cứu “Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, II, III”
của Lê Mạnh Thát. Trong Tập II của công trình này đã đề cập cụ thể đến Phật
giáo thời Ngô – Đinh – Tiền Lê với đại diện là những Thiền sư Khuông Việt,
Pháp Thuân, Vạn Hạnh… Trong đó nghiên cứu về những thiền sư cụ thể, tác
giả đã đưa ra những phân tích nhận xét, sắc sảo, kỹ càng về đóng góp của họ.
Tuy nhiên tác giả lại chưa xâu chuỗi lại các sự kiện để chỉ ra hệ thống những
đặc điểm chung cơ bản nhất của Phật giáo giai đoạn này thể hiện xu hướng
vận động của Phật giáo.
Gần đây, nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho phát hành cuốn sách:
“Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam”( 2002) của Nguyễn Hùng Hậu,
trong cuốn sách này thì tác giả đã giành nhiều trang nói về nội dung thế giới
quan và nhân sinh quan của Phật giáo Việt Nam, nhưng phần khảo về đặc
điểm Phật giáo thời Ngô – Đinh – Tiền Lê còn chưa được lưu ý, hệ thống hóa.

5


Trên một số tạp chí nghiên cứu mà điển hình là tạp chí Triết học cũng

Điểm qua tình hình nghiên cứu, ta có thể nhận thấy về vấn đề một số
đặc điểm của Phật giáo Việt Nam nói chung đã có nhiều công trình nghiên
cứu đề cập tới và có những nhận định sâu sắc. Nhưng đặc biệt đến nay chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm Phật
giáo thời Ngô – Đinh – Tiền Lê chỉ ra đóng góp và hạn chế mà mới chỉ dừng
lại ở những lát cắt riêng về nhân vật lịch sử, các phương diện cụ thể, cần được
tiếp tục nghiên cứu hệ thống hơn, sâu thêm nữa. Nhằm có được cơ sở nhìn
nhận về tiến trình Phật giáo trong dòng chảy của văn hóa dân tộc và có sự
nhìn nhận về vai trò, vị trí của Phật giáo một cách đầy đủ khách quan hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
Mục đích của luận văn là khái quát tiến trình Phật giáo và từ đó đi sâu
nghiên cứu một số đặc điểm của Phật giáo thời Ngô – Đinh và Tiền Lê và từ
đó chỉ ra ý nghĩa đối với lịch sử thời kỳ này.
Để đạt được mục đích nêu trên thì luận văn cần phải thực hiện được
các nhiệm vụ sau:
- Trình bày khái quát điều kiện cho sự phát triển của Phật giáo đến thời
Ngô – Đinh – Tiền Lê và diện mạo của nó trong lịch sử Việt Nam.
- Phân tích một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo thời Ngô – Đinh –
Tiền Lê và chỉ ra ý nghĩa của nó đối với lịch sử Việt Nam thời kỳ này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Từ góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, để nghiên cứu về đối tượng là Phật giáo trong thời Ngô
– Đinh – Tiền Lê và những nội dung đặc điểm Phật giáo thời kỳ này có ảnh
hưởng của nó đến lịch sử Việt Nam thời kỳ này.
Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu một số đặc điểm của Phật giáo thời Ngô
– Đinh – Tiền Lê qua một số tài liệu lịch sử tư tưởng Việt Nam, lịch sử Phật
giáo, Lịch sử tư tưởng Phật giáo trong thời kỳ Ngô – Đinh –Tiền Lê.
7




Thông qua kết quả nghiên cứu luận văn góp phần làm phong phú thêm
nguồn tư liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn lịch sử
tư tưởng Việt Nam nói chung, lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam giai đoạn
Ngô – Đinh – Tiền Lê nói riêng, là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên
các ngành lịch sử, triết học, tôn giáo….
8. Kết cấu của luận văn .
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,thì luận
văn gồm hai chương, năm tiết.
Chương 1:Những điều kiện cho sự phát triển Phật giáo thời Ngô –
Đinh –Tiền Lê và diện mạo của nó.
Chương 2: Đặc điểm của Phật giáo thời Ngô – Đinh – Tiền Lê nội dung
và ý nghĩa của nó đối với lịch sử Việt Nam thời kỳ này.

9


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT
GIÁO THỜI NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ VÀ DIỆN MẠO CỦA NÓ
1.1 Bối cảnh cho sự phát triển Phật giáo thời kỳ Ngô – Đinh – Tiền Lê
1.1.1 Điều kiện chính trị - kinh tế xã hội
Điều kiện chính trị:
Với chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng dưới sự lãnh đạo của Ngô
Quyền, đã kết thúc gần 1000 năm Bắc thuộc. Đã đánh dấu một bước phát
triển mới về chất của lịch sử dân tộc. Nó chấm dứt giai đoạn đen tối khi mà
chính quyền phong kiến phương Bắc dùng mọi thủ đoạn thâm độc để biến
nước ta trở thành một quận, một huyện của chúng.
Ngay sau khi giành chiến thắng, Ngô Quyền đã biết kế thừa kinh
nghiệm từ các thời kỳ Phục Hưng, Khúc Hạo tiếp tục tiến hành công cuộc

lúc bấy giờ để xây dựng lập quê hương mới. Đó là dòng họ Phạm xã Đằng
Giang huyện An Hải - theo truyền thuyết ông tổ dòng họ vốn là người nơi
khác theo Ngô Quyền đến đánh trận Bạch Đằng và sau này chiến thắng ông
đã mang cả vợ con và tộc thuộc đến đây khai cơ lập nghiệp. Tuy không có gia
phả dòng họ nào ghi chép cụ thể thế thứ ngược lên đến giữa thế kỷ X, nhưng
cũng có thể tin truyền thuyết dân gian rằng nhiều dòng họ ở khu vực An
Dương, An Hải, Thủy Nguyên vốn có nguồn gốc từ chiến tướng, chiến binh
của Ngô Quyền sau khi thắng giặc tự nguyện hoặc được giao trọng trách ở lại
vùng đất cửa sông này để giữ gìn bờ cõi.
Ngô Quyền trị vì đất nước chưa đầy sáu năm, mà đã để lại ấn tượng rõ
rệt về công cuộc dựng nước của ông, đúng như nhà sử học Lê Văn Hưu (12301322) nhận xét: “Chính thống của nước Việt ta, Ngô hầu đã nối lại được”[ 16,
tr205]. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên cho rằng: “Tiền Ngô [ Vương ] nổi lên không
chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm
phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương” [16, tr205].

11


Sau khi Ngô Quyền mất, các con cháu của ông không đủ uy tín và tài
năng để duy trì chính quyền quân chủ tập trung đang còn trong thời kỳ trứng
nước thì em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi và xưng là Bình Vương. Sách
Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Lúc trước, Tiền Ngô Vương bệnh nặng, có
di chúc giao cho Tam Kha giúp cho con. Khi Vương mất, Tam Kha cướp
ngôi. Con trưởng của Ngô Vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách
Giang, trú ngụ ở nhà Phạm Lệnh Côn ở Trà Hương. Tam Kha lấy con thứ hai
của Ngô Vương là Xương Văn làm con mình. Các con thứ của Ngô Vương là
Nam Hưng, Càn Hưng còn bé đều theo Dương quốc mẫu. Được ít lâu, Tam
Kha sai chỉ huy sứ là Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đem quân đến nhà Phạm
Lệnh Côn đòi bắt Xương Ngập, tất cả ba lần đều không thực hiện được mệnh
lệnh. Lệnh Côn sợ bèn giấu Xương Ngập trong động núi. Tam Kha biết, lại

5. Ngô Xương Xí con Ngô Xương Ngập chiếm giữ Bình Kiều ( Thanh
Hóa).
6. Lý Khuê tự xưng là Lý Lăng Công giữ đất Siêu Loại ( Bắc Ninh).
7. Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công chiếm giữ Tiên Du
(Bắc Ninh).
8. Lữ Đường tự xưng Lữ Tá Công chiếm giữ Tế Giang (Văn Giang –
Hưng Yên).
9. Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công chiếm giữ Tây Phù Liệt
(Thanh Trì – Hà Nội).
10. Kiểu Thuận tự xưng là Kiểu Lệnh Công chiếm giữ vùng Cẩm Khuê
(Hà Tây).
11. Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át chiếm giữ Đằng Châu
(Hưng Yên).
12. Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công chiếm giữ Bố Hải Khẩu
(Thái Bình).

13


Cũng trong thời gian này ở Trung Quốc nhà Tống vừa mới thành lập
đang bắt đầu mở rộng thế lực xuống phía Nam, đất nước ta đứng trước nguy
cơ bị xâm lược.
Cũng trong thời gian này ở Ninh Bình nổi lên nhân vật Đinh Bộ Lĩnh
sinh năm 924 tại động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, nay thuộc xã Gia Phương,
huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Cha Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ từng
làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, làm Thứ sử châu Hoan, sau tham gia
cùng Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng và được Ngô Quyền tin tưởng tiếp tục
giao cho chức vụ cũ.
Đinh Bộ Lĩnh từ nhỏ không sống cùng cha mà chỉ sống với mẹ ở quê
hương. Và đến khi trưởng thành thì cha sớm lại qua đời. Ông hầu như không

năm Bắc Thuộc.
Về mặt ngoại giao, trong thời gian này đất nước vẫn đang trong giai
đoạn khẳng định vị thế với các nước lân bang, đặc biệt là nhà Tống ở phương
Bắc. Đinh Tiên Hoàng thừa hiểu Phương Bắc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu
xâm lược và đồng hóa dân tộc ta. Vì thế Đinh Tiên Hoàng đã có những chính sách
mềm dẻo với nhà Tống để bảo toàn một nhà nước non trẻ là một đối sách đúng.
Năm 978, Đinh Tiên Hoàng lập con nhỏ là Hạng Lang làm thái tử,
phong con thứ là Toàn làm Vệ Vương. Đinh Liễn là con trai đầu đã từng có
nhiều công lao trong sự nghiệp dẹp loạn mười hai sứ quân dựng lên triều đại
nhà Đinh nhưng chỉ được phong Nam Việt Vương. Không chấp nhận điều đó
thì Đinh Liễn đã âm mưu giết chết em trai mình là Hạng Lang.
Đầu mùa đông năm 979, Đỗ Thích là cháu nội của sứ quân Đỗ Cảnh
Thạc đang làm chức lại (chuyên trông coi về giấy tờ) ở Đồng Quan trong kinh
thành Hoa Lư, nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, Thích
bèn giết chết, lại giết luôn cả Nam Việt Vương Liễn.
Triều thần trong triều đã đưa Đinh Toàn lúc đó mới 6 tuổi lên ngôi vua,
thập đạo tướng quân Lê Hoàn được cử làm phụ chính.
15


Khi ấy quân Tống đã hoàn thành công cuộc thống nhất Trung Quốc,
nội bộ bắt đầu ổn định, tình hình miền nam cũng trở lại yên tĩnh. Tống Thái
Tông đẩy mạnh mưu đồ bành trướng và xâm lược các nước phương Nam.
Trước tình thế cấp bách của dân tộc thì mẹ của Đinh Toàn đã cử thập đạo
tướng quân Lê Hoàn làm tổng chỉ huy quân đội để chuẩn bị cho cuộc kháng
chiến. Trong buổi hội triều bàn kế hoạch chống giặc, dựa vào đề nghị của các
tướng lĩnh, bà thái hậu họ Dương đã khoác áo long cổn lên mình Lê Hoàn và
mời ông lên ngôi vua lập ra nhà Tiền Lê.
Được sự phò tá của Phạm Cự Lạng và vai trò cố vấn của các nhà sư
Pháp Thuận , Ngô Chân Lưu… Lê Hoàn đã giành thắng lợi trước quân Tống.

thiền sư. Chẳng hạn như trong thời Lê Hoàn có chức Đại tổng quản, Thái úy,
Điện tiền chỉ huy sứ…. Các sư được phong là Tăng Thống, Quốc sư.
Quân đội thời Ngô – Đinh – Tiền Lê là một quân đội đông và mạnh,
theo sử ghi quân đội nhà Đinh có mười đạo: mỗi đạo có 10 quân, một quân có
10 lữ, một lữ có 10 tốt, một tốt có 10 ngũ, một ngũ có 10 người. Như vậy tổng
số theo lý thuyết là một triệu người. Tuy nhiên con số này theo nhiều nhà
nghiên cứu là không có thực, chữ “Thập” theo Lê Văn Siêu chỉ mang tính
chất khái quát toàn thể về cách tổ chức theo kiểu “ngụ binh ư nông” như nhà
Lý sau này, thời bình làm ruộng tập trung thành đội ngũ có chỉ huy khi cần.
Còn Trần Trọng Kim cho rằng :ước đoán quân đội nhà Đinh nhiều nhất chỉ có
đến 10 vạn người. Các quân sĩ đều được trang bị quần áo mũ da bốn bề khâu
giáp nhau lại, trên hẹp, dưới rộng, chóp phẳng và có vũ khí đầy đủ: cung, nỏ,
giáo mác, lao, gậy, mộc bài. Thủy quân gồm nhiều chiến thuyền, trang bị đầy
đủ với những tướng lĩnh có nhiều kinh nghiệm. Nhìn chung quân đội thời kỳ
Ngô – Đinh – Tiền Lê đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh đất nước
và chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.
Do ảnh hưởng của nhiều năm từ thời loạn lạc có nhiều người quen thói
lúc loạn không chịu tuân theo luật pháp. Do đó thời Ngô – Đinh – Tiền Lê rất
coi trọng luật pháp nhất là Hình Pháp hà khắc như trong quân đội.
17


Hình pháp dưới thời Đinh, sách Đại việt sử ký toàn thư có chép: “vua
Đinh Tiên Hoàng muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều,
nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng : “kẻ nào trái phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho
hổ ăn thịt”. Mọi người đều sợ phục không ai dám phạm”.[16, tr154]
Hay Trần Trọng Kim có viết rằng: hình uy nghiêm như thế, thì cũng
quá lắm, nhưng nhờ có những hình luật ấy thì dân trong nước mới dần dần
được yên.
Hình pháp dưới thời Tiền Lê nhà vua thường trực tiếp phán xét. Theo

quý tộc đi tu và chức sắc tầng lớp trên trong nhà chùa mới thực sự gia nhập
vào hàng ngũ tăng quan trực tiếp phục vụ cho giai cấp phong kiến. Nhà nước
đã sử dụng tầng lớp này để nhằm duy trì sự ổn định xã hội và củng cố quyền
lực của triều đình. Sĩ Nhiếp là nhà là nhà lãnh đạo thành công nhất ở nước ta
trong thời Bắc Thuộc. Thậm chí có học giả đã gọi Sĩ Nhiếp : một nhà lãnh
đạo Phật giáo”. Ông là người tiên phong cho mô hình quân vương. Và bài
học đó sau này đã được Lê Hoàn kế thừa, phát triển, ông là người đã đưa
những giá trị tư tưởng của Phật giáo vào áp dụng triệt để những giá trị đó vào
trong việc trị quốc của mình. Trong thời gian làm Thập đạo tướng quân, Lê
Hoàn cũng đã hấp thụ niềm tin Phật giáo từ Đinh Tiên Hoàng. Do vậy sau khi
lên ngôi ông đã nhờ cậy rất nhiều đến học vấn của những bậc cao tăng, trí
thức trong giới Phật giáo để phục vụ công cuộc trị quốc an dân. Đặc biệt coi
trọng và sử dụng vai trò của các thiền sư Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Ngô
Chân Lưu…
Thứ tư, quần chúng nhân dân bị trị gồm có người nông dân ở làng xã
lĩnh canh công điền công thổ hoặc ruộng tư của địa chủ là lực lượng chủ yếu
ở làng xã.

19


Trích đoạn Diện mạo Phật giáo thời Ngô – Đinh –Tiền Lê Đặc điểm Phật giáo nhập thế trong đời sống chính trị xã hội Đặc điểm Phật giáo nhập thế biểu hiện qua vai trò của các thiền sư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status