ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NHƢ HUẾ
QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA NÓ
ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Vũ Hảo Hà Nội, 2013
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Triết học hiện sinh là một trào lưu triết học lớn của triết học phương
Tây hiện đại, phát triển và phổ biến rộng rãi đặc biệt vào những năm 50 - 60
của thế kỷ XX, có ảnh hưởng và để lại dấu ấn đậm nét ở văn hóa phương
Tây. Khi thể hiện các tư tưởng triết học của mình, chủ nghĩa hiện sinh đã
không sử dụng ngôn ngữ triết học trừu tượng, mà thường khai thác các hình
tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học qua các tiểu thuyết, các truyện ngắn,
các vở kịch, các bài thơ với văn phong giản dị và khúc chiết để bước vào và
chinh phục trái tim các độc giả. Các nhà hiện sinh trình bày những quan điểm
của mình với diện mạo độc đáo. Họ cũng bàn đến vấn đề con người như bao
triết học khác, nhưng con người trong triết học hiện sinh được khai thác ở
khía cạnh nội tâm, tinh thần nằm trong miền sâu thẳm của mỗi con người.
Triết học hiện sinh đặc biệt nhấn mạnh những nỗ lực thường xuyên và tự giác
của mỗi cá nhân trong việc duy trì và bảo vệ những giá trị nhân bản đặc trưng
cho con người, phân biệt với các sinh vật khác trên trái đất, như tự do cá nhân,
lẽ sống, công bằng, lương tâm, trách nhiệm, v.v Bởi thế, triết học hiện sinh đã
có sức hấp dẫn và trở thành nền tảng tinh thần cho một bộ phận xã hội ở một
loạt nước phương Tây, như Đức, Pháp, Mỹ, Italia, v.v.; qua đó đã có ảnh hưởng
đến nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam.
Nền văn minh phương Tây mang trong mình nhiều giá trị chung
hình thành và phát triển nhiều giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.
Những giá trị này đã làm nên cốt cách, tinh thần, sức mạnh và bản sắc của
dân tộc và đã được thế giới trân trọng, khâm phục. Trong điều kiện hiện nay,
khi đất nước đang đẩy nhanh tốc độ xây dựng kinh tế thị trường, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá mọi lĩnh vực đời sống xã hội, hội nhập sâu và tăng cường
4
các hoạt động mang tính toàn cầu hoá, thì có thể nhận thấy sự biến đổi của
các thang bậc giá trị và sự gia tăng của hiện tượng suy thoái đạo đức. Không
ít thanh niên sống thiếu tính tự lập, sáng tạo và nghị lực cá nhân. Một bộ
phận thanh niên quá đề cao vai trò của sự phát triển khoa học - công nghệ mà
không thấy tầm quan trọng của đời sống tinh thần; thậm chí vì lợi ích vật chất
trước mắt, vì quá đề cao lợi ích cá nhân mình mà có thể chà đạp lên những
giá trị đạo đức xã hội của dân tộc. Một bộ phận không nhỏ cán bộ làm việc
thiếu trách nhiệm cá nhân gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển
của xã hội. Một số người đã đánh mất mình, đánh mất ý nghĩa cuộc sống của
chính cuộc đời mình, họ sống giả dối, không trung thực với chính mình. Bởi
thế, việc tiếp cận nghiên cứu đạo đức học phương Tây nói chung, đạo đức
học trong chủ nghĩa hiện sinh nói riêng, trên lập trường triết học Mác – Lênin
là việc làm cần thiết để tiếp thu, rút kinh nghiệm và vận dụng những giá trị,
hạt nhân hợp lý của đạo đức học hiện sinh vào việc giáo dục đạo đức ở Việt
Nam hiện nay.
Có thể nói, việc tìm hiểu quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
là việc làm có ý nghĩa để hiểu đúng về triết học hiện sinh, tránh cái nhìn hời hợt,
phiến diện, sai lệch về trào lưu tư tưởng này cũng như sự đồng nhất một cách sai
lầm chủ nghĩa hiện sinh với một lối sống buông thả, bệnh hoạn, trái với đạo đức
truyền thống.
Với những lý do cơ bản trên, nghiên cứu sinh chọn Quan niệm đạo đức
học trong chủ nghĩa hiện sinh và một số bài học của nó đối với việc giáo dục
đạo đức ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình.
tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu
của những người đi trước.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án là những
phương pháp mácxít nghiên cứu lịch sử triết học, phương pháp thống nhất
lịch sử và lôgíc, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh
6
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã hệ thống hóa, phân tích làm nổi bật những nội dung cơ
bản của quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh.
Luận án rút ra một số bài học từ giá trị cũng như bài học từ hạn chế
của đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh đối với giáo dục đạo đức ở Việt
Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ hơn quan niệm đạo đức
học trong chủ nghĩa hiện sinh và một số bài học của nó đối với giáo dục đạo
đức ở Việt Nam hiện nay.
Về mặt thực tiễn, luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh
viên, phục vụ bước đầu cho việc nghiên cứu và giảng dạy về một trào lưu
triết học phương Tây hiện đại.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh
mục những công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, nội dung
luận án gồm 4 chương 11 tiết. 7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ
nghĩa hiện sinh, nhưng không thể nói đơn giản rằng: chính hai cuộc đại chiến
này đã sinh ra triết học hiện sinh” [30, tr.118, 121]. Ông cũng chỉ ra nguyên
nhân khác bao quát hơn là: những sự bất công giữa những con người sống
trong những xã hội dựa trên bóc lột, và biểu hiện rõ nhất trong xã hội tư bản”
[30, tr.119]. Tác giả đã dành một dung lượng đáng kể phân tích vấn đề con
người trong triết học hiện sinh, trong đó nổi bật là luận đề tồn tại có trước
bản chất và thân phận con người theo quan điểm của Jaspers, Heidegger,
Camus và Sartre. Cuối cùng, tác giả đưa ra kết luận rằng, luận đề tồn tại có
trước bản chất có ý nghĩa đối với sự phê phán các thuyết “hữu thần luận”,
“nhân tính luận”. Tuy nhiên, hạn chế của chủ nghĩa hiện sinh theo tác giả là
“nhấn mạnh, khuyếch trương phóng đại tính co dãn, tính năng động về bản
chất của con người, làm cho nó thoát ly hẳn cơ sở vật chất, hoàn cảnh khách
quan, tính tất nhiên khách quan” [30, tr.147].
Tác giả Lưu Căn Báo (2003) đã viết về quãng đời của Nietzsche khi
ông còn là một cậu học trò bé bỏng, cô đơn và đau buồn nhưng có tài năng
xuất chúng trong cuốn sách Ph. Nietzsche [4]. Ở đây, tác giả cũng đã kể về
cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Nietzsche và Schopenhauer: “Lúc ấy tôi đang lẻ loi
chịu đựng một số thể nghiệm đau khổ, rất thất vọng, không có nguyên tắc,
không có hi vọng Từ sáng đến tối, tôi u uất âm thầm suy nghĩ Chính
trong tâm trạng ấy, tôi phát hiện ra Schopenhauer, tri âm của tâm hồn tôi” [4,
tr.30 – 31]. Sau đó tác giả đề cập đến nội dung cơ bản của một số tác phẩm
của Nietzsche như: Phía bên kia của cái thiện và cái ác, Zarathoustra đã nói
như thế. 9
Khi giới thiệu về các trào lưu tư tưởng của triết học phương Tây hiện
đại, cuốn Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI - Triết học phương Tây hiện đại
[24] của tác giả Lưu Phóng Đồng (2004) đã khái quát về chủ nghĩa hiện sinh
như một trường phái triết học xuất phát từ việc biểu thị ý nghĩa tồn tại thật sự
và hư vô.
Trong cuốn Lịch sử triết học Phương Tây hiện đại [17], hai tác giả
Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng (2005) đã khảo sát chủ nghĩa hiện sinh
ở châu Âu và ở Mỹ. Các tác giả đề cập đến nhiều chủ đề cùng một số khái
niệm đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh, trong đó chủ đề về bản chất con
người, về tự do, về cái chết và về sự lo âu… được phân tích khái quát trên
những nét chung nhất. Các tác giả đã khẳng định rằng, bản thể luận của chủ
nghĩa hiện sinh lấy con người làm đối tượng, nhưng không phải con người
phổ quát, chung chung, trừu tượng như trong triết học truyền thống, mà là
con người cá nhân độc nhất vô nhị lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu
để làm nhân vị cho mình, rằng “hiện sinh chỉ có ở con người chứ không có
ở bất cứ sự vật nào. Con người không có bản tính, không có sứ mạng phải
làm vì ai. Con người tự sáng tạo bản chất của mình” [17, tr.131].
Trong cuốn Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida [3], tác
giả Forrest E. Baird (2006) đã đề cập đến cội nguồn của triết học hiện sinh
với các luận điểm tiêu biểu như quan niệm về chủ thể tính: “tôi không thể
thay đổi sự kiện rằng cái cây này đang ở trước mặt tôi hay tôi không thể đi
xuyên qua nó. Nhưng cả ở đây, tự do của tôi vẫn thắng. Tôi tự tạo ra ý nghĩa
của cái cây này như một vật để trèo lên hay như một nguồn gỗ hay như một
vật phải giữ gìn hay như một mẫu sinh vật” [3, tr. 644]. Tác giả cũng đưa ra
quan niệm về trách nhiệm của chủ nghĩa hiện sinh là con người phải chịu
trách nhiệm về chính mình, về mọi người: “ khi chúng ta nói rằng một
11
người chịu trách nhiệm về chính mình, chúng ta không chỉ muốn nói người
ấy chịu trách nhiệm về cá nhân họ, mà về mọi người” [3, tr. 652].
Trong cuốn Diện mạo triết học phương Tây hiện đại [46] của tác giả
Đỗ Minh Hợp (2006), phần viết về chủ nghĩa hiện sinh, tác giả đã khẳng định
rằng, tuy có nhiều đại biểu không hoàn toàn đồng nhất, nhưng các nhà hiện
sinh đều thống nhất ở điểm coi con người là một thực thể đặc biệt hay là một
hiểu vở kịch “Ruồi” của Sartre. Ở đây, tác giả cũng đã chỉ ra một số nét tư
tưởng của J.P.Sartre: “hiện sinh có trước bản chất, cuộc đời này tự nó
không có ý nghĩa gì hết, nó chỉ đơn thuần mang ý nghĩa mà chính con
người gán cho nó Con người tự do là con người hành động một cách đích
thực” [21, tr. 72 – 73].
Tiếp tục khảo cứu các công trình về những triết thuyết trước chủ
nghĩa hiện sinh để hiểu cho đúng những tiền đề lý luận của chủ nghĩa này sẽ
được khảo sát trong luận án, có thể kể đến cuốn Hiện tượng học Husserl
[40] do tác giả Nguyễn Chí Hiếu chủ biên (2008). Cuốn chuyên khảo đề cập
đến cuộc đời và sự nghiệp của Husserl với sự ra đời hiện tượng học cũng
như một số nội dung cơ bản của hiện tượng học như tính ý hướng, phép quy
giản hiện tượng học vốn được các nhà hiện sinh hậu bối lấy làm phương
pháp suy tư và khảo cứu về tồn tại và bản chất người. Tác giả đưa ra quan
niệm của Husserl: “bất kỳ hành vi nào của ý thức cũng định hướng vào một
đối tượng nào đó” [40, tr. 181] và chỉ ra rằng “hiện tượng học đi liền với
những đòi hỏi như: hãy nhân thế giới sống (những cảm nghiệm) của mình
lên, hãy phát hiện ra bản chất ở trong chúng, hãy đừng tách bản chất khỏi
những cảm nghiệm, hãy hành động phù hợp với kết quả nhận thức hiện
tượng học của mình. Tất cả những đòi hỏi ấy đều mang đậm sắc thái đạo
đức, vì chúng là câu trả lời cho vấn đề cơ bản của đạo đức học: cần sống
13
như thế nào?” [40, tr. 253]. Như vậy, một phần của hiện tượng học gia
nhập, lột xác trong học thuyết đạo đức của chủ nghĩa hiện sinh.
Trong cuốn F.Nietzsche triết nhân và thi nhân [28] tác giả Trần Thanh
Hà (2009) đã khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Nietzsche, cuộc đời của
ông là một chuỗi dài bi kịch nhưng ở con người ông luôn tồn tại một sức
mạnh vươn lên trên mọi khổ đau của cuộc sống. Ở đây, tác giả đã chỉ rõ tư
tưởng của Nietzsche rằng, tự do thực sự chỉ đến với con người khi họ tự chủ
lấy vận mệnh của mình mà không chịu tác động của hoàn cảnh xã hội, “con
Tác giả Bùi Thị Tỉnh (2010), trong cuốn Phụ nữ và giới [86], đã đề cập
đến sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh như là sự phản kháng lại chủ nghĩa duy
lý. Tác giả đã đi tìm cội nguồn của chủ nghĩa hiện sinh từ Socrat đến
Kierkegaard, Husserl. Sau đó, tác giả đề cập đến quan điểm giải phóng phụ
nữ của nhà triết học nữ quyền Simone de Beauvoir dựa trên luân lý hiện sinh
như tự do, bản chất con người, tha nhân, chủ thể tính. Bà cũng rất đề cao tự
do, đặc biệt tự do của phụ nữ, quyền bình đẳng giới, phải là mục đích, phải
trở thành sự ưu tiên trong xã hội hiện đại: “tự do có nghĩa là con người phải
thoát khỏi mọi áp bức để khẳng định sự tồn tại của cá nhân mình cũng như
của toàn nhân loại” [86, tr. 171].
Tác giả Lộc Phương Thủy (2005) trong bài viết Jean – Paul Sartre
và phê bình hiện sinh, [83] đã nhấn mạnh tính vô thần trong chủ nghĩa
hiện sinh của J.P.Sartre. Theo đó, trách nhiệm của con người trong cuộc
đời thể hiện ở sự tự lựa chọn của mình trong từng tình huống cụ thể.
Trong bài viết này, Sartre được bàn đến chủ yếu như một nhà lý luận và
phê bình văn học xuất sắc.
Tác giả Lê Kim Châu (2007) trong bài viết khái quát về Chủ nghĩa
hiện sinh trong thế kỷ XX [8] thừa nhận bên cạnh những hạn chế ở việc quá
đề cao “cái tôi” cá nhân con người, thì chủ nghĩa hiện sinh có những ưu điểm
như là tiếng nói chống lại sự áp bức và vùi dập con người, là sự tố cáo đối
15
với các lực lượng làm tha hóa con người. Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng
định: “chủ nghĩa hiện sinh dành ưu tiên cho những suy tư về con người, cho
rằng tìm hiểu con người là việc cần thiết hơn so với tìm hiểu giới tự nhiên.
Nhưng con người mà chủ nghĩa hiện sinh quan tâm không phải là con người
nói chung, con người trừu tượng mà là những cá nhân, tức những con người
có những số phận độc đáo riêng tư” (tr. 311).
Ngoài ra, cũng có thể kể đến bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thường
(2007), với nhan đề Sự hình thành, phát triển và đặc điểm cơ bản của chủ
Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện
sinh. Những tài liệu này đã ít nhiều đề cập đến tính chất thảm khốc, phi nhân
tính của hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai như là điều
kiện cơ bản khiến những người có lương tri phải suy ngẫm lại về thực chất
của tồn tại người, ý nghĩa cuộc sống con người. Những suy ngẫm mang tính
phản tư đó có ý nghĩa cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh. Nhưng trước khi
trở thành một trào lưu triết học có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội
thế giới phương Tây từ giữa thế kỷ XX thì trào lưu hiện sinh, như hầu hết các
tài liệu chúng tôi khảo cứu, đều thống nhất nhận định, đã tản mát định hình ở
một số nhà triết học như là sự phản kháng lại thực trạng xã hội tư bản có áp
bức bóc lột làm cho cho con người bị tha hóa, khủng hoảng, bế tắc trong đời
sống tinh thần, trong khi chủ nghĩa duy lý tỏ ra thờ ơ, không đáp ứng, giải
quyết sự khủng khoảng này nên chủ nghĩa hiện sinh ra đời đã được đón nhận
nồng nhiệt. Tuy nhiên, các công trình trên thường chỉ đề cập khái quát một
vài yếu tố liên quan đến sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh, chưa phân tích một
cách có hệ thống để chỉ ra được tiến trình lịch sử và lôgic hình thành chủ
nghĩa hiện sinh. Và đây có lẽ cũng là một phần nhiệm vụ của luận án này: lấp
khoảng trống trong sự trình bày về hoàn cảnh ra đời và các tiền đề lý luận của
chủ nghĩa hiện sinh nói chung, quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện
sinh nói riêng.
17
Về mặt nội dung, các công trình đều thống nhất rằng triết học hiện sinh
là triết học áp dụng cho việc nghiên cứu con người, giúp con người suy tư về
thân phận của mình. Con người là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa hiện
sinh, trong đó tự do và chủ thể tính là 2 đặc tính quan trọng của con người
hiện sinh. Con người trong triết học hiện sinh là con người tự kiến tạo bản
chất của mình và hiện sinh chỉ có ở con người. Các tác giả cũng đã nêu ra
những phạm trù triết học cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh như tự do, trách
nhiệm, cô đơn, cái chết, tồn tại người, phân biệt tồn tại thực với tồn tại không
Đỗ Minh Hợp (2007) cũng có bài viết nhan đề Tư tưởng đạo đức học của
F.Nietzsche. Ở đây, tác giả đã đưa ra 7 tư tưởng cơ bản về đạo đức học của
Nietzsche. “Thứ nhất, không nên tự ràng buộc mình với cái gọi là đạo đức;
Thứ hai, cần phải trở thành người theo chủ nghĩa phi đạo đức để nó cho phép
chúng ta né tránh được những sự bịa đặt trống rỗng, làm cho con người trở
nên bất lực; Thứ ba, trở thành người theo chủ nghĩa hư vô còn tốt hơn là
người theo chủ nghĩa duy luân lý; Thứ tư, cần phải đánh giá lại những giá trị
cũ; Thứ năm, cần tạo khoảng không vô hạn cho bản năng tự do, cần trải
nghiệm sự bành trướng của nó, vì đó là sự sống có đầy đủ giá trị, hay khát
vọng quyền lực ; Thứ sáu, cần phải quay về với bản thân để là chính mình;
Thứ bảy, không nên cam chịu sự yếu đuối, sự hèn kém, sự cào bằng, sự nhẫn
nhục, sự nô dịch, sự nghèo nàn, sự vâng lời, cảm giác tội lỗi, lý tính khoa
học” [48, tr.374 – 375]. Những tư tưởng này của Nietzsche đã được các nhà
hiện sinh thế kỷ XX tiếp thu phần nào trong học thuyết đạo đức của mình.
Nối tiếp mạch suy tư về đạo đức học của chủ nghĩa hiện sinh, tác giả
Đỗ Minh Hợp (2007) đã trình bày thêm 11 “tín điều” đạo đức học hiện sinh
trong bài viết Tư tưởng đạo đức học của Heidegger [49]: Hãy triết lý, nhưng
không phải theo cách nào khác mà bằng cách chất vấn tồn tại, chân lý của nó;
Hãy hiện sinh, đừng thay thế sự hiện sinh bằng cảm tính và tư duy khái niệm; Hãy
19
tiếp xúc với những sự vật hiện có và đối thoại với những người khác; Hãy nhớ
rằng chân lý ra đời trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại; Hãy thận
trọng lựa chọn ngôn từ và làm sáng tỏ ngữ nghĩa của chúng; Hãy cho phép
ngôn ngữ biểu thị sự bắt đầu của tồn tại, hãy gán ý nghĩa quyết định cho việc
nói ra cái gì và nói ra như thế nào, có cần nói hay không; Hãy nỗ lực để trở
thành một bộ phận của chân lý tồn tại, qua đó bạn sẽ hiện thực hoá được sứ
mệnh của riêng mình, bản ngã của mình, chứ không phải sứ mệnh của người
khác, lương tâm của mình, sự kiên định của mình; Hãy nhớ rằng con người
giới trên đôi vai mình. Con người chịu trách nhiệm về thế giới và về bản
thân mình, và đó là phương thức tồn tại của nó” [50, tr. 52].
Trong loại tài liệu này chúng tôi không thể không giới thiệu cuốn sách
của nhà triết học nữ người Nga đương đại E. V. Zolotukhina-Abolina Đạo
đức học hiện đại: cội nguồn và những vấn đề [92].
Theo tác giả, đạo đức học của J. P. Sartre phát xuất thẳng từ cách ông
hiểu về chuẩn bản thể luận (tồn tại) của con người. Đặc thù của con người bắt
rễ từ trong ý thức của họ. Ý thức đối với J. P. Sartre không đơn giản là
khách thể trong số các khách thể, nó không bao giờ có thể là đối tượng và
vì thế dường như là “rơi ra” khỏi tồn tại, khỏi thế giới đối tượng, vật
nặng. Ý thức là hư vô, trống rỗng, lỗ thủng trong tồn tại. Nó vừa ở đây,
vừa không, vừa có, vừa không có. Nhưng đó là trống rỗng sống động
được lấp đầy bởi các ý nghĩa. Số phận con người, được khoác bởi ý thức,
thật độc ác: con người hướng đến việc trở thành “tồn tại chân chính”,
trong khi vẫn lưu giữ được ý thức và tự do vốn có ở nó, nhưng không bao
giờ có thể làm được điều đó. Sự thống nhất của đầy đủ và tồn tại với tự
do và ý thức là ưu tiên của Chúa. Con người hướng tới việc “trở thành
Chúa”, nhưng con người không phải là Chúa, và vì thế mà toàn bộ đời
sống của họ là “sự sôi động vô ích”.
21
Tác giả phân tích, trong quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh J. P. Sartre,
con người không trở thành Chúa, nhưng con người tự do xây dựng bản chất
của mình, bởi lẽ ngay từ đầu đã được cho mình chỉ như là sự tồn tại. Con
người không hoàn thiện như là sự vật, và tự làm ra từ mình cái mà con người
là: người trung thực hoặc kẻ giả tạo, kẻ hèn nhát hay người anh hùng. Hiện
sinh của con người, nhờ ý thức, là tự do trước mọi quyết định. Sartre cho
rằng, trong thế giới nội tâm của mình chúng ta không phụ thuộc vào xã hội
cũng như vào những người khác, cũng không phụ thuộc gì vào những định
chế đạo đức và tôn giáo, thậm chí cũng không phụ thuộc gì vào quá khứ của
đến quan niệm của các nhà hiện sinh chủ nghĩa về các hiện tượng như thiện
và ác, nghĩa vụ, lương tâm, hổ thẹn và lỗi lầm, phẩm giá con người, hạnh
phúc và lẽ sống, tính trung thực và lẽ công bằng.
Trong cuốn Existentialist ethics (Đạo đức học hiện sinh) [101], M.
Warnock (1967) đề cập đến một số vấn đề liên quan tới đạo đức học hiện
sinh như chủ thể tính và tự do: “Tôi ý thức về thế giới và bản thân tôi – hai
điều này hợp với nhau sẽ cấu thành thế giới của tôi; bạn ý thức về thế giới
của bạn và bản thân bạn – đó là thế giới của bạn” [101, tr. 19] hay tự do: “nếu
như chúng ta là tồn tại có ý thức, theo nghĩa của Sartre, thì cũng có nghĩa là
chúng ta tự do” [101, tr. 29]; Tác giả cũng đưa ra mối quan hệ giữa cá nhân
với tha nhân theo quan điểm của Sartre: “Khi tôi cố gắng giải phóng tôi khỏi
sự nắm bắt của tha nhân, tha nhân lại đang cố gắng giải phóng bản thân anh
ta khỏi sự nắm bắt của tôi; khi tôi tìm cách biến tha nhân thành nô lệ cho
mình, thì tha nhân lại tìm cách biến tôi thành nô lệ” [101, tr. 45]. Nữ tác giả
E. V. Zolotukhina-Abolina cũng đã có những phát hiện tương tự trong cách
đặt vấn đề này.
23
Bài viết Applied existentialist (Thuyết hiện sinh ứng dụng) [98] của tác
giả Cunthia Gayman (2001) đã đề cập đến một số tư tưởng của S.Beauvoir
như tự do. Theo Beauvoir, Tha nhân là cần thiết đối với tồn tại người. “Tự do
đạo đức cần phải được mong muốn một cách tích cực, và tinh thần tự do đạo
đức của một người yêu cầu người đó cũng phải có tinh thần tự do đạo đức
của người khác. Và tự do đạo đức của người khác có thể được khuyến khích
bởi “càng nhiều người khác có thể phát triển được tự do của họ, tôi càng có
thể phát triển được sự tự do của tôi” [98, tr. 1 – 3].
Trong luận án tiến sĩ (bảo vệ tại trường Đại học Temple, Hoa Kỳ) với
tiêu đề Vietnamese existential philosophy: acritical reappraisal (Triết học
hiện sinh Việt Nam: sự đánh giá lại mang tính phê bình) [99], Tác giả Lương
Thu Hiền (2009) đã khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và đưa ra đánh giá về lịch
con người và tự nhiên, tách con người khỏi thế giới vật chất khách quan.
Tác giả đã phê phán quan niệm về con người trong chủ nghĩa hiện sinh và
văn học hiện sinh chủ nghĩa là không tích cực, thụ động, không có hành vi
tác động vào thế giới, chứ chưa nói gì đến việc cải tạo thế giới. Tuy nhiên,
triết học hiện sinh lại xem con người chỉ là một hữu thể sợ hãi và run rẩy,
cô đơn và bất lực, hữu hạn và phi lý, do vậy cũng rất cần phải đánh giá
các tư tưởng hiện sinh chủ nghĩa từ cái nhìn bên trong, của chính họ, nhất
là phải thấy được hoàn cảnh lịch sử xã hội cho sự ra đời của chủ nghĩa
hiện sinh. Cũng quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể thì rất cần đồng tình
với kết luận mà tác giả đưa ra trên mặt trận văn học thời kỳ đó (sau giải
phóng Miền Nam, 35 năm trước) là: “một trong những di hại “cần phê
phán nghiêm khắc” của văn nghệ thực dân mới ở những vùng bị Mỹ, ngụy
tam chiếm đóng trước ngày 30/4/1975, là cái gọi là “văn học hiện sinh chủ
nghĩa Sài Gòn”” [38, tr. 233].