KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM, TIÊU CHUẨN CỦA CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ; KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1. Khái niệm, vị trí vai trò, đặc điểm, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã
a) Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, vừa xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa
tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy,
chúng ta cần phải xây dựng cán bộ, công chức có chất lượng đồng bộ, phù hợp
với những yêu cầu mới đặt ra, đặc biệt là cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Để làm được điều đó trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Quan niệm về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
* Quan niệm về cán bộ: Từ cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta
khoảng mấy chục năm gần đây; được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp. Từ đó đến nay thuật ngữ cán bộ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau, có nhiều từ điển có khái niệm cán bộ và được hiểu với nhiều nghĩa
khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, nhưng tựu chung lại có thể quan
niệm một cách chung nhất: "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai
trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt
động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp
phần định hướng sự phát triển của tổ chức" [38, tr.20].
* Quan niệm về công chức:
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác, được
hưởng lương từ ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là người
làm việc trong hệ thống chính quyền nhà nước.
Công chức là bộ phận rất quan trọng trong nền hành chính quốc gia. Tuy
qua bầu cử và cán bộ chuyên môn được ủy ban Nhân dân tuyển chọn; đội ngũ này
có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà
nước. Cán bộ, công chức cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch công
chức ở cấp trên.
Tại Điểm g, h Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của
Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/2/1998 (được ủy ban Thường vụ Quốc hội
thông qua ngày 29/4/2003) quy định: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức
vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban Nhân dân; Bí thư,
Phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn,
những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc
ủy ban Nhân dân cấp xã được gọi là cán bộ, công chức trong biên chế nhà nước; được
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Trên cơ sở lý luận về chính quyền (Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân);
cán bộ, công chức cũng như các quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
thì cán bộ công chức chính quyền cấp xã hiện nay bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đây gọi
chung là cán bộ chuyên trách cấp xã), gồm có các chức vụ sau đây:
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
Cán bộ chuyên trách là những người dành phần lớn thời gian làm việc cho
công việc của mình để thực hiện nhiệm vụ và trọng trách mà nhân nhân dân giao
phó.
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm có
các chức danh sau đây:
+ Trưởng ban công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy).
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng;
hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, ổn
định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn.
Khái niệm công chức chính quyền cấp xã: Công chức chính quyền cấp xã là
công dân Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được
tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân
cấp xã thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã: Cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách
nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân cấp xã do được bầu để giữ chức vụ, hoặc được tuyển dụng giao giữ chức
danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Để nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền cấp xã cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất tốt,
đạo đức tốt mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực
công tác để hoàn thành nhiệm vụ.
b) Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin đã từng nêu cao vai trò của
người cán bộ. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được
quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ
chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong
trào" [16, tr.473].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề then
chốt. Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của
Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình
của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng"
[21, tr.269].
Chất lượng và số lượng tùy thuộc vào quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, sử
dụng và tự rèn luyện một cách chủ động, sáng tạo của từng cá nhân và các cấp uỷ
Đảng, chính quyền, Đoàn thể. Quan điểm này được thể hiện rõ trong các nghị quyết
của Đảng; đặc biệt gần đây nhất Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) nhấn mạnh:
Tích cực trẻ hóa và từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cơ
sở. Phấn đấu từ nay đến năm 2005 có khoảng 70-80% cán bộ chuyên trách giữ
chức vụ qua bầu cử được đào tạo, bồi dưỡng đạt tiêu chuẩn quy định; khoảng
80% cán bộ, công chức chuyên môn có trình độ trung cấp trở lên đối với
đồng bằng, sơ cấp trở lên đối với miền núi [15].
Trên thực tế cán bộ, công chức chính quyền cấp xã hàng ngày cọ sát với thực
tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có bề dày kinh
nghiệm và hiểu biết. Song họ lại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và
thông tin về chính sách pháp luật. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với
họ cũng chưa tương xứng. Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn
chế năng lực trình độ quản lý điều hành của cán bộ, công chức chính quyền ở cơ sở.
Như vậy, cán bộ, công chức là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là
nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác
xây dựng Đảng. Ngoài những vị trí, vai trò trên cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
còn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây:
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước,
vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa là người
dân, là người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền để các cấp
chính quyền đặt ra chính sách đúng. Thực tế cho thấy, ở đâu mà cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã gần dân, hiểu dân, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của
dân thì ở đó các cấp chính quyền sẽ đề ra chính sách đúng, ngược lại ở đâu mà cán
bộ chính quyền cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì sẽ đề ra chính sách
không phù hợp.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết tất cả
các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở
(người của địa phương), họ vừa trực triếp tham gia lao động lao động sản xuất, vừa
là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết
các công việc của nhà nước. Do đó xét ở khía cạnh nào đó cán bộ, công chức cấp xã
bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét
văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương, của dòng họ.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã do dân bầu ra (có nơi chiếm 60%)
chính vì vậy số lượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ nhân dân lại bầu
những đại diện mới.
- Cán bộ, công chức cấp xã cả nước hiện nay rất đông (gần bằng số lượng
cán bộ, công chức hành chính của trung ương và 64 tỉnh thành cộng lại). Tuy nhiên
về chất lượng lại rất yếu, độ tuổi tương đối già, chính vì vậy nó là những nguyên
nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc không cao.
d) Tiêu chuẩn của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Tiêu chuẩn cán bộ, công chức là vấn đề rất quan trọng trong công tác cán
bộ. Đó là cơ sở để tiến hành tổ chức, xem xét, đánh giá, lựa chọn, bố trí sắp xếp và
sử dụng cán bộ; đó cũng là cơ sở để bản thân mỗi người cán bộ phấn đấu, tự rèn
luyện, hoàn thiện mình. Chủ nghĩa Mác-Lênin đòi hỏi cán bộ phải là người "Có
nhiều trí tuệ hơn một chút, nhiều sự phân minh trong tư tưởng hơn một chút… và
kiến thức rộng" [19, tr.389], và yêu cầu người cán bộ "Không nấp sau một chế độ
quan liêu giấy tờ, không ngại thừa nhận những sai lầm của mình bằng cách sửa
chữa những sai lầm ấy"[19, tr.35].
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đánh giá rất
cao vị trí, vai trò của người cán bộ, đồng thời cũng đòi hỏi ở người cán bộ phải có
những tiêu chuẩn nhất định, phải tự giác rèn luyện mình về mọi mặt, không ngừng
* Tiêu chuẩn cụ thể:
Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã là căn cứ để các địa phương
thực hiện việc quy hoạch, kế hoạch, bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi
dưỡng, xếp lương, nâng bậc lương và các chế độ, chính sách khác. Tiêu chuẩn cụ
thể của cán bộ, công chức cấp xã được xác định theo từng chức vụ, chức danh như
sau:
- Đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
+ Tuổi đời: Do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng tuổi
tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ.
+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp phổ thông trung học.
+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với
khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương
đương trình độ sơ cấp.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với khu
vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương
đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung
cấp chuyên môn trở lên. Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp
vụ quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:
+ Tuổi đời: Do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng tuổi
tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ.
+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp Phổ thông trung học.
+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với
khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương
đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với
khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn
tương đương trình độ sơ cấp trở lên, nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu phải có trình
+ Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và
đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phảI được bồi dưỡng lý luận
chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trìnhđộ trung cấp Địa
chính hoặc trung cấp Xây dựng trở lên. Với công chức đang công tác ở khu vực
miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn Địa chính hoặc
xây dựng; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp Địa chính
hoặc xây dựng trở lên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng về quản lý đất
đai, đo đạc bản đồ, quản lý hành chính Nhà nước. ở khu vực đồng bằng và đô thị
phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn.
- Đối với công chức Văn phòng - Thống kê.
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và
đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận
chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp
Văn thư, lưu trữ hoặc trung cấp Hành chính, trung cấp Luật trở lên. Với công
chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến
thức chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển
dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp của một trong ba ngành chuyên môn
trên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước
(nếu chưa qua trung cấp hành chính). Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử
dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn.
- Đối với công chức Văn hoá - Xã hội
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
- Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và
đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khuvực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý
luận chính trị trở lên ở khu vực đồng bằng, có trình độ tương đương sơ cấp lý luận
chính trị trở lên ở khu vực miền núi.
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng phải đạt trình độ tương
đương trung cấp về quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên. Đối với công
chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn ngành quân sự; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải tương đương
trung cấp quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên. Sau khi được tuyển dụng
phải qua bồi dưỡng quản lý Nhà nước về quốc phòng cấp xã. Sử dụng thành thạo
trang, thiết bị phục vụ công tác chuyên môn.
Ngoài những tiêu chuẩn cụ thể trên, những cán bộ, công chức cấp xã công
tác tại các nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phải biết ít nhất tiếng của
một dân tộc thiểu số.
1.1.2. Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Theo Từ điển tiếng Việt thì chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái tạo
nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc" [25, tr.44].
Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về
sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí,
niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách
tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất lượng đối với mỗi
người trong xã hội nói chung vốn đã cao thì yêu cầu đối với chất lượng cán bộ,
công chức càng cao hơn - đòi hỏi người cán bộ, công chức có những trình độ phẩm
quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của
cả đội ngũ. Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh
hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ
nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả.
Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến
số lượng. Khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình
quân của cán bộ, công chức ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ.
Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng của
cán bộ, công chức trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp lý.
Từ những đặc điểm trên có thể khái niệm: Chất lượng cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một
chỉnh thể toàn diện được thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức,
trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức và cơ
cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã.