Mở ĐầU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn là điểm xuất phát, là phạm trù trung tâm của hệ thống
triết học Mác. Kể từ khi C.Mác đánh giá đúng vai trò của thực tiễn và
khẳng định nó trong triết học, ông đã vạch ra một ranh giới không thể
vợt qua giữa triết học của mình với toàn bộ hệ thống triết học còn lại,
kể cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm.
Trong triết học Mác, thực tiễn đợc xem xét từ hai góc độ là góc
độ thế giới quan và nhận thức luận. Từ góc độ thế giới quan, phạm trù
thực tiễn tạo nên thế giới quan duy vật biện chứng, và từ góc độ nhận
thức luận, phạm trù thực tiễn tạo nên nhận thức luận biện chứng duy
vật. Có thể khẳng định, quan điểm thực tiễn hay nguyên tắc thực tiễn
cao hơn lý luận là nguyên tắc phơng pháp luận quan trọng nhất của
triết học Mác - Lênin.
Mặc dù vậy, trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam thời kỳ
trớc đổi mới, không phải khi nào quan điểm thực tiễn cũng đợc tuân
thủ nghiêm túc. Tình trạng xa rời quan điểm thực tiễn đợc thể hiện ở
việc không coi trọng vai trò của hiệu quả kinh tế - xã hội với tính
cách là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng sai của các chủ trơng, chính
sách kinh tế - xã hội. Nó còn đợc thể hiện ở việc áp dụng máy móc,
giáo điều lý luận về CNXH, về con đờng xây dựng CNXH mà không
xem xét đầy đủ đến hoàn cảnh thực tế của đất nớc. Có thể nói, việc
xa rời những yêu cầu của quan điểm thực tiễn là một nguyên nhân
quan trọng dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn
trớc năm 1986. Chính vì vậy, tại Đại hội lần thứ VI (12/1986), Đảng
đã chỉ ra sự cần thiết phải trở lại thực hiện nghiêm túc yêu cầu của
quan điểm thực tiễn khi đa ra bài học kinh nghiệm quan trọng Đảng
phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan và khẳng định Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng
đắn các quy luật thông qua các chủ trơng, chính sách của Đảng và
Nhà nớc là sản xuất phát triển, lu thông thông suốt, đời sống vật chất
triết học của C.Mác và Ph.Ăngghen - cơ sở để các ông tạo ra một
cuộc cách mạng trong lịch sử triết học cha đợc chú ý xem xét đúng
tầm. Mặt khác, hầu nh cha có công trình nghiên cứu nào đề cập tới
cấu trúc vừa có tính phổ biến vừa có tính hiện thực trực tiếp của phạm
trù thực tiễn - cơ sở để V.I.Lênin đa ra luận điểm thực tiễn cao hơn
lý luận - đây là những vấn đề mà chúng tôi sẽ tập trung làm rõ trong
đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
* Mục đích nghiên cứu
+ Làm sáng tỏ quan niệm của C.Mác và V.I.Lênin về thực tiễn, lý
luận và mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận - cơ sở để
các nhà kinh điểm rút ra quan điểm thực tiễn.
+ Làm rõ quá trình đổi mới đất nớc dới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam mà thực chất bắt đầu bằng việc trở lại thực hiện
nghiêm túc những yêu cầu của quan điểm thực tiễn.
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
2
+ Khảo sát những quan điểm của C.Mác về thực tiễn, lý luận.
+ Làm rõ mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, cơ sở để
V.I.Lênin đa ra luận điểm Thực tiễn cao hơn lý luận bằng cách
phân tích tính hiện thực trực tiếp, tính phổ biến của thực tiễn và so
sánh thực tiễn với lý luận.
+ Khảo sát quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam từ năm 1954,
đặc biệt từ năm 1975 cho đến nay dới góc độ của mối quan hệ giữa
thực tiễn và lý luận
4. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
- Quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về phạm trù thực tiễn và
mối quan hệ giữa thực tiễn với lý luận trong một số tác phẩm kinh
Chơng 1
Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về thực tiễn
và mối quan hệ giữa thực tiễn với lý luận
1.1. Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về thực tiễn
1.1.1 Thực tiễn - Phơng thức tồn tại đặc trng của loài ngời
Tất cả các trờng phái triết học trong lịch sử đều hớng vào mục
đích là đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi chung nhất nh: Thế giới
là gì? Con ngời là gì và mối quan hệ giữa con ngời và thế giới nh thế
nào? Do đó, bản chất con ngời là một trong những vấn đề trung tâm
và xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học.
Có thể nói triết học Mác là hệ thống triết học đầu tiên đánh giá
đúng bản chất của con ngời. Với việc xác định bản chất của con ngời
một cách đúng đắn, C.Mác mới xây dựng đợc một hệ thống thế giới
quan thực sự khoa học, trong đó ông đã thấy đợc vị trí của con ngời
cũng nh thực chất mối quan hệ giữa con ngời và thế giới. C.Mác
nhiều lần khẳng định, thực tiễn là phơng thức tồn tại đặc trng của con
ngời, là bản chất của con ngời. Ông đã viết Có thể phân biệt con ngời với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái
gì cũng đợc. Bản thân con ngời tự phân biệt với súc vật ngay khi con
ngời bắt đầu sản xuất ra những t liệu sinh hoạt của mìnhsản xuất ra
t liệu sinh hoạt của mình nh thế con ngời đã gián tiếp sản xuất ra
chính đời sống vật chất của mình và sự sản xuất đó là đời sống có
tính loài của tích cực của con ngời ( C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập,
t42, tr137)
Trong Luận cơng về Phoi-ơ-bắc, C.Mác đã phê phán chủ nghĩa
duy vật nói chung cũng nh chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc đã
không hiểu đúng bản chất của hoạt động thực tiễn, hoạt động có tính
bản chất của con ngời. Do đó, Phoi-ơ-bắc cũng nh những nhà triết
học duy vật cũ không nhận ra đợc bản chất hiện thực của con ngời và
về cơ bản vẫn cha vợt qua khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật thế kỷ
18.
xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Trớc C. Mác, toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới xét đến cùng
đều dựa trên quan điểm cho rằng phải tìm nguyên nhân của mọi sự
biến đổi lịch sử ở t tởng luôn thay đổi của con ngời, và cho rằng trong
tất cả những biến động của lịch sử, những chuyển biến chính trị là
quan trọng nhất (hoặc là chuyển biến tôn giáo - nh quan niệm của
L.Phoiơbắc), chi phối toàn bộ lịch sử. Toàn bộ những kiến giải triết
học đó cha đi sâu tìm hiểu xem t tởng của con ngời từ đâu mà ra và
những nguyên nhân nào thúc đẩy những chuyển biến chính trị, tôn
giáo đó.
Trong khi khẳng định đờng lối triết học của riêng mình, C.Mác
đặc biệt nhấn mạnh đến điểm xuất phát. Ông viết Chúng ta không
xuất phát từ những điều mà con ngời nói, tởng tợng, hình dung,
chúng ta cũng không xuất phát từ những con ngời chỉ tồn tại trong lời
nói, trong ý nghĩ, trong tởng tợng của ngời khác để từ đó mà đi tới
6
những con ngời bằng xơng bằng thịt; không chúng ta xuất phát từ
những con ngời đang hành động hiện thực[24,37-38].
Theo các ông muốn biến đổi hiện thực thì đấu tranh lý luận là
cha đủ, vấn đề quan trọng là phải tiến hành hoạt động phê phán thực
tiễn, bởi chỉ trong hoạt động thực tiễn con ngời mới có thể làm thay
đổi thế giới khách quan. C.Mác viết: T tởng không bao giờ làm cho
chúng ta vợt quá trật tự cũ của thế giớinói chung t tởng không thể
thực hiện đợc bất kể cái gì cả. Muốn thực hiện, những t tởng cần phải
có những ngời vận dụng một lực lợng thực tiễn.
Trên cơ sở xuất phát từ bản thân đời sống thực tiễn của con ngời,
C.Mác đa ra tuyên ngôn triết học của mình: Các nhà triết học trớc
kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khácnhau, song vấn đề là ở
chân lý.
Có thể nói C.Mác, Ph.Ăngghen là ngời đầu tiên nhìn nhận và
khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức lý luận. C.Mác đã
viết: Vấn đề tìm hiểu xem t duy của con ngời có thể đạt tới chân lý
khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là
một vấn đề thực tiễn. (Mác Toàn tập T3,9)
Ph.Ăngghen cũng có quan điểm tơng tự nh vậy: Có thể chứng
minh đợc tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tợng tự nhiên nào đó bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tợng ấy từ
những điều kiện của nó, hơn nữa bắt nó phục vụ mục đích của chúng
ta (Mác Toàn tập, t 24, 406)
Mặc dù khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, nhng Ph.
Ăngghen cũng đã nêu ra t tởng về tính tơng đối của tiêu chuẩn thực
tiễn. Ông viết Nếu chúng ta đạt đợc mục đích của chúng ta, nếu
chúng ta nhận thấy rằng vật ấy phù hợp với quan niệm của chúng ta
về nó, rằng nó đem lại cái kết quả mà chúng ta mong muốn sử dụng
nó, thì đó là bằng chứng xác thực chỉ ra rằng trong phạm vi đó, cảm
giác của chúng ta về vật ấy và về thuộc tính của nó là ăn khớp với
hiện thực ở bên ngoài chúng ta[21, 434]. Theo logic t tởng, thì rõ
ràng Ph.Ăngghen cho rằng chỉ trong phạm vi đó tiêu chuẩn thực
tiễn mới hoàn toàn xác định để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức lý
luận của con ngời. Còn ngoài phạm vi đó tiêu chuẩn thực tiễn sẽ
trở nên tơng đối.
Chơng 2
Luận điểm Thực tiễn cao hơn lý luận
của V.I.Lênin - Sự kế thừa và phát triển quan
niệm về thực tiễn của C.Mác, Ph.Ăngghen
2.1. Quan niệm của V.I.Lênin về thực tiễn và lý luận - Cơ sở
của luận điểm Thực tiễn cao hơn lý luận
2.1.1 Tính hiện thực trực tiếp và tính phổ biến của thực tiễn
Theo V.I.Lênin, bất kỳ hoạt động nào của con ngời đợc coi là
của thế giới mà con ngời đã nắm bắt đợc trong một giai đoạn lịch sử
nhất định. Đây là cơ sở làm nên tính phổ biến, tức là tính phù hợp
với quy luật của hoạt động thực tiễn của con ngời.
Trong tiết này, thực tiễn còn đợc chúng tôi xem xét từ hai phơng
diện: Mặt tự nhiên và mặt xã hội của thực tiễn.
- Mặt tự nhiên của thực tiễn đợc thể hiện ở quan hệ của con ngời đối với giới tự nhiên bao quanh con ngời. Đó là hoạt động của con
ngời đợc gắn với các bộ phận của thế giới tự nhiên trên cơ sở con ngời nắm đợc các quy luật vận động của tự nhiên có ở bộ phận thế giới
đó.
- Mặt xã hội của thực tiễn chính là mối quan hệ giữa con ngời
với con ngời bắt nguồn từ bản chất của con ngời là hoạt động cải biến
9
-> Sự phát triển về phơng diện tự nhiên của thực tiễn đợc biểu
hiện tập trung ở hiệu quả năng suất lao động lại quyết định hình
thức xã hội của thực tiễn, tức là quyết định một tình trạng tơng
ứng của đời sống xã hội. Khi nội dung tự nhiên ấy phát triển đến
một trình độ cao, tự nó bộ lộ ra dới hình thức trực tiếp sẽ đem lại
sự giải phóng của hoạt động lao động, đó là một tất yếu khách
quan.
2.1.2. Tính phổ biến của lý luận
Theo V.I.Lênin, nhận thức là một qúa trình mà khởi điểm của nó
là trực quan sinh động trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con ngời.
Trong giai đoạn này, con ngời ghi nhận những thuộc tính, những mối
liên hệ mà thông qua hoạt động thực tiễn, con ngời đã làm cho thế
giới hiện thực khách quan bộc lộ ra. Bằng khả năng tinh thần, trong
đó có hệ thống các phạm trù, khái niệm, quy luật đã tích luỹ từ trớc
mà các giả thuyết, lý thuyết đợc xây dựng. Vòng khâu thứ ba trong
quá trình hoạt động tinh thần của chủ thể là khảo sát tính đúng đắn
hay sai lầm của hình ảnh chủ quan, của lý thuyết lý luận trong hoạt
mang tính khách quan.
Nh vậy, hoàn toàn khác với quan niệm của Hêghen, V.I.Lênin
cho rằng khái niệm là phổ biến nhng tính phổ biến của nó là do thế
giới khách quan quy định thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời, ông viết Hoạt động thực tiễn của con ngời đã phải làm cho ý thức
của con ngời lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần những cách logic khác
nhau, đặng làm cho những cách này có thể có đợc ý nghĩa của những
công lý [52, 202-203]
2.2. Thực tiễn cao hơn lý luận bởi nó không chỉ có u điểm của
tính phổ biến mà nó còn có u điểm của tính hiện thực trực tiếp.
Thực tiễn cao hơn lý luận vì thực tiễn là quá trình hiện thực hoá
lý luận. Nhng quan trọng hơn, thực tiễn cao hơn lý luận còn thể hiện
ở chỗ, nó là nhân tố khách quan duy nhất có quyền phán xét tính
đúng sai của lý luận, là tiêu chuẩn khách quan duy nhất của chân lý.
2.2.1. Thực tiễn hiện thực hoá lý luận
Theo quan niệm của V.I.Lênin, thực tiễn là cái tồn tại cụ thể và
cảm tính, đồng thời hàm chứa tính quy luật ở bên trong do con ngời
nắm bắt và lợi dụng đợc. Trong hoạt động thực tiễn, tính hợp quy
luật, hay cụ thể hơn là các quy luật của thế giới khách quan đợc con
ngời nắm bắt không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn chứng tỏ sự nắm
bắt đó trong việc cải biến thế giới tự nhiên cũng nh xã hội, bằng việc
tạo ra những sự vật, hiện tợng, những quá trình có thật trong hiện
thực không thể chối cãi. Có thể khẳng định, hoạt động thực tiễn của
con ngời là hiện thân của các quy luật vốn có trong thế giới khách
quan dới dạng các tồn tại vật chất cụ thể cảm tính.
Trong khi thực tiễn có cả đặc trng của tính phổ biến và của tính
hiện thực trực tiếp, thì hoạt động lý luận chỉ có u điểm của tính phổ
biến. Hoạt động lý luận chỉ dựa trên các thuộc tính, tức là những đặc
điểm chung tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tợng cụ thể. Hình ảnh sáng
tạo - kết quả mà lý luận sản xuất ra cũng chỉ bao gồm các thuộc tính.
Thuộc tính là tính chất chung, thuộc các cấp độ phổ biến khác nhau
khoan nhợng với chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán, đặc biệt là Makhơ với âm mu tách rời lý luận với thực tiễn.
V.I.Lênin đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của quan điểm thực tiễn
đối với chủ nghĩa duy vật, ông viết Quan điểm về đời sống, về thực
tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức. Sở
dĩ quan điểm thực tiễn có ý nghĩa cơ bản hàng đầu đối với lý luận
nhận thức vì rằng nếu lấy tiêu chuẩn thực làm cơ sở cho lý luận
nhận thực thì nhất định chúng ta đi đến chủ nghĩa duy vật.
Chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán cho rằng thành công là tất cả
những gì mà tôi cần đến trong thực tiễn, mà thực tiễn thì có thể đ ợc
xem xét một cách tách rời lý luận về nhận thức. Trái ngợc với quan
điểm trên, V.I.Lênin khẳng định Đối với ngời duy vật, thành công
của thực tiễn của con ngời chứng minh sự phù hợp của các biểu tợng
của chúng ta với bản tính khách quan của các vật đợc cảm biết.
Vì sao thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất của chân lý?
Nh chúng ta đều biết, u điểm của kinh nghiệm là tính hiện thực trực
tiếp, nhng khuyết điểm cơ bản của nó là tính hạn hẹp, tơng đối. Trong
khi đó, lý luận khắc phục đợc tính hạn hẹp của kinh nghiệm bởi u
điểm của nó là tính phổ biến, nhng nó lại có nhợc điểm là tính gián
tiếp, nó là sản phẩm tinh thần. Thực tiễn vừa có tính phổ biến, vừa có
tính hiện thực trực tiếp, do đó nó cao hơn cả kinh nghiệm, lý luận và
trở thành tiêu chuẩn khách quan duy nhất của chân lý. Chính vì vậy
mà V.I.Lênin khẳng định Thực tiễn cao hơn lý luận bởi nó không
chỉ có u điểm của tính phổ biến mà còn có tính hiện thực trực tiếp.
Lý luận đóng vai trò là sự phản ánh của chủ thể đối với khách thể, chỉ
có thông qua rất nhiều khách thể trong thực tiễn mới có thể chứng
minh đợc tính chân lý, tính hiện thực của nó. Nếu chỉ bằng lý luận
thuần tuý để chứng minh tính khách quan của tri thức thì có nghĩa đã
13
không thể dùng thực tiễn ở phạm vi này để chứng minh cho chân lý ở
phạm vi khác.
Ngoài ý nghĩa về tính lịch sử, về phạm vi, tính tơng đối của tiêu
chuẩn thực tiễn còn do tính phong phú, đa dạng của thực tiễn, do tính
phức tạp của việc áp dụng tiêu chuẩn thực tiễn tạo nên.
Chơng 3
14
Sự VậN DụNG LUậN ĐIểM THựC TIễN CAO HƠN
Lý LUậN CủA ĐảNG CộNG SảN VIệT NAM
VàO CÔNG CUộC ĐổI MớI ĐấT NƯớC
3.1.Tách rời lý luận với thực tiễn là một trong những nguyên
nhân quan trọng gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
giai đoạn 1975 - 1986
3.1.1. Tình trạng tách rời lý luận với thực tiễn và những
nguyên nhân của nó
Có thể nói sự nghiệp xây dựng CNXH ở nớc ta là quá trình hiện
thực hoá lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và con đờng đi
lên CNXH. Lý luận ở đây đợc thể hiện thông qua đờng lối, chủ trơng,
chính sách của Đảng trong việc xác định mục tiêu, bớc đi và con đờng xây dựng CNXH ở nớc ta. Có thể nói, chính tình trạng tách rời lý
luận với thực tiễn là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra
khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn trớc năm 1986 ở nớc ta.
Tình trạng lý luận tách rời với thực tiễn mà thể hiện cụ thể là tình
trạng đờng lối, chủ trơng của Đảng không phù hợp với thực tiễn đất
nớc, theo chúng tôi xảy ra ở cả 3 trờng hợp sau:
+ Nó không thể hiện đúng thực chất lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, hoặc áp dụng giáo điều một luận điểm nào đó của chủ nghĩa
Mác - Lênin.
+ Những luận điểm lý luận mới đợc bổ sung không phản ánh
sùng bái cá nhân, thêm vào đó là trình độ nhận thức lý luận còn hạn
chế.
3.1.2. Hậu quả của tình trạng tách rời lý luận với thực tiễn.
Đến giữa thập niên 80 của thế kỷ 20, đất nớc rơi vào tình trạng
khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, kéo theo là khủng hoảng xã hội.
Sản xuất đình đốn, hàng hoá khan hiếm, lạm phát đạt tới 774,7%, đời
sống của nhân dân khó khăn, cơ cực (Xem Phụ lục 1, 2 và 3). Thêm
vào đó là nạn tham nhũng quan liêu lộng hành, tình trạng thiếu dân
chủ không đợc xử lý kịp thời, đúng mức gây ra tâm lý hoang mang
dao động, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân vào
Đảng và Nhà nớc.
3.2.Thực tiễn cao hơn lý luận - ý nghĩa phơng pháp luận của
nó đối với công cuộc đổi mới đất nớc giai đoạn 1986 - 2006
3.2.1. Thực tiễn xây dựng CNXH giai đoạn 1975 -1986 dẫn đến
nhu cầu đổi mới t duy lý luận.
- Trong tiểu tiết này, chúng tôi tập trung làm rõ chính những
thành công và thất bại về mặt thực tiễn của quá trình xây dựng
CNXH giai đoạn trớc năm 1986 đã đặt ra nhu cầu bức thiết phải đổi
mới, trớc hết là phải đổi mới t duy lý luận, đúng nh Tổng bí th Trờng
Chinh vào thời điểm đó đã khẳng định: Đối với nớc ta, đổi mới càng
là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn
- Đổi mới t duy lý luận còn bắt nguồn từ chính thực tiễn sinh
động của cuộc sống, từ những tìm tòi sáng tạo của quần chúng nhân
dân. Đảng đã khẳng định: Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng
16
kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đờng lối của Đảng (Văn
kiện ĐH VIII, tr73)
3.2.2. Đổi mới t duy lý luận và những thành tựu đã đạt đợc của
những chủ trơng, chính sách phù hợp với thực tiễn của đất nớc.
Dới ánh sáng của đờng lối đổi mới của Đảng, sự nghiệp xây dựng
đất nớc trong hơn hai thập kỷ qua đã từng bớc đạt đợc những thành
tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Đúng nh Đại hội Đảng lần thứ
17
X (2006) đã nhận định: Đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trởng khá nhanh,
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa đợc đẩy mạnh. Đời sống nhân dân đợc
cải thiện rõ rệtVị thế của nớc ta trên trờng quốc tế không ngừng
nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên nhiều, tạo ra
thế và lực mới cho đất nớc tiếp tục tiến lên với triển vọng tốt đẹp.
(Xem Phụ lục 4, 5)
18
Kết luận
Thực tiễn là hoạt động mang tính bản chất của con ngời, là phơng
thức tồn tại đặc trng của loài ngời. Nó là hoạt động sản xuất ra đời
sống con ngời trên cơ sở tự nhiên, nhờ nắm bắt đợc những quy luật và
bản chất của các sự vật, hiện tợng trong thế giới khách quan. Chính vì
vậy, nó vừa mang tính hiện thực trực tiếp, vừa mang tính phổ biến.
Thực tiễn và lý luận có quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan
hệ này thực tiễn bao giờ cũng cao hơn lý luận. Trớc hết vì thực tiễn là
cơ sở, là động lực, mục đích để lý luận ra đời và phát triển, hơn nữa
nó là nhân tố khách quan duy nhất thẩm định tính chân lý của lý
luận. Mối quan hệ này có đợc xuất phát từ bản chất nội tại của thực
tiễn đến lý luận, rồi lại quay trở về thực tiễn là những vòng khâu liên
tục đan xen nhau, không có điểm đầu và cũng không có điểm cuối.
Lý luận khi đợc hình thành, trong quá trình hiện thực hoá lại tiếp tục
đợc điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự vận động của thực tiễn.
Cả thực tiễn và lý luận đều đòi hỏi sự sáng tạo, tích cực của chủ thể
trong quá trình vận dụng nguyên lý lý luận vào cuộc sống. Nhng dù
lý luận có năng động, sáng tạo đến đâu và trong bất kỳ trờng hợp
nào, thì thực tiễn cuộc sống cũng là cơ sở, mục đích, động lực của sự
thay đổi của lý luận, là tiêu chuẩn duy nhất và cuối cùng để đánh giá
tính chân lý của lý luận.
Chúng ta cũng cần phải hiểu thực tiễn với t cách là tiêu chuẩn của
chân lý một cách biện chứng. Bởi tiêu chuẩn thực tiễn vừa có tính
tuyệt đối, vừa có tính tơng đối, hay tính không xác định. Tính tơng
đối của thực tiễn thể hiện ở chỗ, thực tiễn có nhiều trình độ khác
nhau, mức độ rộng hẹp, mức độ phổ biến không giống nhau.
Trong khi khẳng định vai trò quyết định của thực tiễn, chúng ta
phải thấy rõ vai trò quan trọng của lý luận. Nói một cách giản dị,
không có hoạt động ý thức này thì hoạt động của con ngời không thể
trở thành hoạt động thực tiễn, hoạt động có mục đích đợc. Tất cả
những thành quả mà hoạt động thực tiễn của con ngời đạt đợc cho
đến ngày nay dù cho có vĩ đại đến đâu thì trớc khi nó tồn tại một
cách hiện thực, cảm tính, nó đã phải là mô hình, hình ảnh tinh thần
trong đầu óc của con ngời, nói cách khác nó là sản phẩm của hoạt
động sáng tạo tinh thần, của lý luận. Lý luận không chỉ là kết quả của
sự phản ánh thuần túy thực tiễn, là cái theo sau thực tiễn mà trong
điều kiện nhất định lý luận còn vợt lên trớc thực tiễn, định hớng thực
tiễn theo những quy luật khách quan. Nếu lý luận lạc hậu, trì trệ thì
cũng không thể có thực tiễn phát triển đợc. Chính vì vậy, khi Đảng ta
xác định cần phải đối mới toàn diện đất nớc, thì trớc hết là phải đổi
mới về t duy.
thị trờng định hớng XHCN là một sự sáng tạo trong quá trình xây
dựng CNXH nói chung. Xã hội mà chúng ta đang hớng tới để xây
dựng không có sẵn một mô hình. Do đó, mỗi bớc đi của thực tiễn cần
phải đợc lý luận tổng kết, đánh gía sâu sắc, từ đó rút ra những kết
luận mới, kịp thời điều chỉnh thực tiễn. Trong quá trình này chúng ta
phải căn cứ vào thực tiễn cuộc sống để kiểm định các chủ trơng,
chính sách là đúng hay sai. Một đờng lối, chủ trơng, chính sách chỉ
đợc coi là đúng đắn khi việc thực hiện nó trong thực tế thực sự mang
lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chỉ
nên thực hiện một chủ trơng chính sách nào đó một cách rộng rãi sau
khi đã tiến hành thử nghiệm và kết quả thử nghiệm thực sự cho thấy
có hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn. Đây cũng là yêu cầu cơ bản của
quan điểm thực tiễn trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nớc hiện
nay.
21