ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG của VIỆC xã hội hóa DỊCH vụ CÔNG CỘNG ở VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI - Pdf 33

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
CƠ SỞ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH MIỀN TRUNG

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG

Đề tài: ĐÁNH

GIÁ TIỀM NĂNG CỦA VIỆC XÃ
HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG Ở VIỆT NAM
TRONG TƯƠNG LAI

Giảng viên: TS. ĐẶNG KHẮC ÁNH
Học viên: Hoàng Thị Thu Hương
Lớp: HCC 16 M

Huế, tháng 4, năm 2013

1


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Một số khái niệm, nội dung liên quan đến xã hội hóa (XHH) dịch vụ công:
1. Một số khái niệm về dịch vụ công:
2. Khái niệm về xã hội hóa dịch vụ công:
2.1. Xã hội hóa:
2.2. Xã hội hóa dịch vụ công (XHHDVC):
3. Sự cần thiết phải xã hội hóa dịch vụ công:

Nhiều mục tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển KT- XH đã đạt bước phát
triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng tích cực. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp
tục được xây dựng và hoàn thiện. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội đạt thành tựu quan
trọng trên nhiều mặt, nhất là xóa đói, giảm nghèo. Đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân được cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác đối ngoại,
hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tạo môi trường
hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước.
Đạt được những thành tựu nêu trên là nhờ phát huy được sức mạnh của toàn
dân tộc, sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, năng động, sáng tạo của toàn dân, toàn quân,
cộng đồng doanh nghiệp và của cả hệ thống chính trị, sự quản lý điều hành có hiệu
quả của Nhà nước dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Vẫn
còn tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém trên nhiều phương diện và lĩnh vực.
Nước ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay
đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường. Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về
quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ
hội và thách thức đan xen rất phức tạp.
Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế nêu trên tạo cho nước ta vị thế mới
với những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt
3


trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và bảo vệ
độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới.
Đại hội XI vừa qua của Đảng ta đã khẳng định Nhà nước cần tăng cường
chức năng phục vụ xã hội: “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người,
quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người”.
Điều này vừa là bản chất, mục tiêu của Nhà nước ta, vừa tạo động lực cho sự

gồm một số loại dịch vụ khác nhau, thậm chí rất khác nhau về tính chất.
4


Ở Việt Nam, khái niệm DVC bao hàm ba nhóm dịch vụ chủ yếu. Một là,
nhóm dịch vụ hành chính công, các dịch vụ thuộc nhóm này hầu hết là dịch vụ
công cộng thuần túy; hai là, nhóm dịch vụ xã hội cơ bản hay dịch vụ xã hội thiết
yếu, đây là những dịch vụ công cộng không thuần túy, phần lớn chỉ thỏa mãn tiêu
chí không cạnh tranh trong tiêu dùng (ví dụ: giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa…); ba
là, nhóm dịch vụ công ích bao gồm những dịch vụ công cộng không thuần túy,
phần lớn chỉ thỏa mãn tiêu chí không loại trừ trong tiêu dùng (ví dụ: vệ sinh môi
trường, cấp thoát nước, giao thông công cộng). Ơ nước ta, dịch vụ công cộng có
lúc còn được gọi là DVC.
Với thực tiễn Việt Nam chúng ta có thể hiểu DVC là những dịch vụ đáp ứng
các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định
và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu
lợi nhuận.
Trong kinh tế học công cộng và kinh tế học đô thị, cụm từ dịch vụ công
cộng (DVCC) được dùng để chỉ các dịch vụ mà Chính phủ cung ứng cho các công
dân của mình, có thể là trực tiếp thông qua khu vực công hay là cấp tài chính cho
khu vực tư cung ứng.
Tóm lại, DVC là dịch vụ do Nhà nước trực tiếp đảm nhận việc cung ứng hay
ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công
bằng xã hội phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
các tổ chức và công dân.
2. Khái niệm về xã hội hóa dịch vụ công:
a. Xã hội hóa:
Theo C. Mác XHH được hiểu là quá trình chuyển biến từ một nền sản xuất
có tính chất cá nhân, tư hữu sang một nền sản xuất có tính chất công cộng, công
hữu. Trên cơ sở chuyển biến của nền sản xuất xã hội mà toàn bộ các quá trình xã

- Sự thay đổi tương quan giữa khu vực công (KVC) và khu vực tư (KVT) trong
việc cung ứng dịch vụ công cộng (DVCC) cũng là một yếu tố dẫn đến sự thay đổi
trong hình thức cung ứng các DVC. Các thay đổi là do: sự phát triển của khoa học
công nghệ ngày càng cao; sự thay đổi về mức sống của người dân (mức sống tăng
lên); sự kém hiệu quả của KVC so với KVT.
Những lý do trên đây cho ta thấy được sự cần thiết phải thực hiện chuyển giao một
số DVC cho các chủ thể xã hội khác thực hiện dưới sự kiểm soát hay chịu trách
nhiệm của nhà nước.
+Nhóm các lý do từ phía nhà nước:
- Một là, tiết kiệm ngân sách. Nền KTTT trong những năm gần đây đã có những
tiến bộ trên nhiều lĩnh vực, khoa học- kỹ thuật (KHKT) ngày càng phát triển, nhu
cầu sử dụng DVCC trong dân cư ngày càng tăng và trở nên không đồng đều giữa
các tầng lớp dân cư. Rất nhiều vấn đề xã hội chung được đặt ra yêu cầu nhà nước
phải có trách nhiệm. Điều đó làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các khoãn kinh phí bao
cấp cho DVCC và ngân sách nhà nước (NSNN). Do vậy nhà nước không thể tiếp
tục thực hiện việc cung ứng trực tiếp và bao cấp hoàn toàn đối với mọi DVCC mà
cần phải có những sự chuyển giao thích hợp.
Ngoài ra còn huy động, động viên sự đóng góp kinh phí của mỗi người cho hoạt
động cung ứng DVC cho Nhà nước; làm giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước
để Nhà nước tập trung ngân sách vào những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp
CNH-HĐH đất nước.
- Hai là, năng lực bộ máy cung cấp dịch vụ của nhà nước có hạn, việc tổ chức thực
hiện cung ứng nhìn chung chưa bảo đảm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, có
nhiều DVC Nhà nước làm được, nhưng xét chung thì tư nhân sẽ làm tốt hơn, tốc
độ nhanh, trọn gói, gọn gàng, đội ngũ nhân viên làm việc nhiệt tình và thuận lợi
6


hơn. Nên việc lôi cuốn được các thành phần kinh tế, các chủ thể xã hội khác cùng
tham gia sẽ tạo cơ hội cho người dân tiếp cận nhanh và dễ dàng với các dịch vụ

mục tiêu, phương thức sử dụng và cơ cấu nguồn vốn theo hướng tập trung cho các
mục tiêu ưu tiên, các chương trình phát triển quốc gia về giáo dục, y tế, văn hóa,
thể dục – thể thao, hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, ưu đãi đối
tượng chính sách và giúp đỡ người nghèo.
- Cơ chế quản lý đối với đơn vị công lập hoạt động trong một số lĩnh vực sự
nghiệp, DVC từng bước được đổi mới theo hướng phát huy quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, chủ
7


động huy động các nguồn lực để phát triển, mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu
quả các hoạt động dịch vụ.
- Thực hiện từng bước chế độ trợ giúp người nghèo, bảo đảm quyền lợi và cơ hội
thụ hưởng DVC cho các đối tượng chịu nhiều thiệt thòi.
- Bước đầu thực hiện XHH DVC, huy động nhiều hơn các nguồn lực xã hội tham
gia cung ứng DVC, phục vụ nhu cầu người dân.
- Chú trọng hơn công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu phát triển của lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công.
2. Một số hạn chế, bất cập:
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng so với yêu cầu phát triển KTXH và nhu
cầu của người dân, thì hoạt động quản lý và cung ứng DVC vẫn còn nhiều hạn chế
và bất cập, cụ thể là:
- Quản lý DVC còn chậm đổi mới, về cơ bản vẫn còn chịu ảnh hưởng của cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp. Quan điểm, chủ trương, chính sách về quản lý DVC
chưa theo kịp tình hình mới của đất nước trong điều kiện phát triển KTTT, hội
nhập kinh tế quốc tế.
- Thể chế, chính sách trong lĩnh vực DVC còn nhiều bất cập, lạc hậu. Việc tách tổ
chức và hoạt động DVC với QLHCNN mới chỉ là chủ trương, định hướng mà chưa
được thể chế hóa đồng bộ. Trách nhiệm quản lý cung ứng DVC của các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp chưa

một quy hoạch tổng thể về phát triển XHH để định hướng và xác định bước đi cụ
thể phù hợp cho từng vùng, từng lĩnh vực, đề ra tầm nhìn chiến lược về đổi mới
các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ và phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ
ngoài công lập….Sự ban hành quy hoạch phát triển XHH trong các ngành còn
chậm trễ là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng tự phát, sự không đồng đều
trong thực hiện XHH, và một số vấn đề khác trong công tác chỉ đạo, điều hành và
quản lý thực hiện xã hội hóa của các cấp, các ngành. Mặt khác, việc phối hợp các
mặt công tác giữa các cơ quan chức năng còn thiếu đồng bộ dẫn đến chậm trễ trong
thực hiện XHH.
- Ba là, môi trường pháp lý cho việc XHH và quản lý các hoạt động cung ứng
DVC ngoài công lập còn nhiều hạn chế. Một số chính sách XHH chưa quy định
rành mạch về sở hữu của các cơ sở ngoài công lập, chưa phân biệt rõ sự khác biệt
giữa các hoạt động có bản chất lợi nhuận và phi lợi nhuận của các cơ sở cung ứng
DVC. Hệ thống các văn bản pháp quy chậm được hướng dẫn, phổ biến; những quy
chuẩn về các mô hình bán công, dân lập, tư thục, quy chế về tổ chức và hoạt động
của các cơ sở ngoài công lập còn chậm được ban hành và chưa đồng bộ, nên kém
hấp dẫn người sử dụng.
- Bên cạnh đó, hiệu lực thực thi của một số chính sách liên quan đến XHH chưa
cao. Chẳng hạn như:
+ Chính sách về đất đai và cơ sở vật chất:
Ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh việc các cơ sở ngoài
công lập xin được giao đất là rất khó khăn, việc ưu tiên thuê nhà, cơ sở hạ tầng của
Nhà nước chưa thực hiện được; có những đơn vị vốn đầu tư phát triển lớn ( thí dụ
các trường đại học) nhưng không được giao đất xây dựng nên vẫn phải đi thuê
trường sở.
+ Chính sách về phí và lệ phí:
Nhược điểm lớn nhất của chính sách học phí được thực hiện trong thời gian qua là
chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, chưa tạo điều kiện để
thực hiện “lá lành đùm lá rách”, vùng giàu giúp vùng nghèo, người giàu giúp người
nghèo.

không dứt khoát…dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật hoặc kiện cáo kéo dài.
Các Bộ, ngành chức năng chưa có bộ phận theo dõi, hướng dẫn và đánh giá việc
thực hiện XHH của ngành mình, làm cơ sở để trình Nhà nước các định hướng lớn
trong phát triển XHH.
III. Giải pháp đẩy mạnh việc XHH DVC ở Việt Nam trong tương lai:
1. Các giải pháp chung:
Nhằm nâng cao trách nhiệm, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy các
nguồn lực xã hội, nâng cao chất lượng và hiệu quả cung ứng DVC, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu ngày càng tăng của người dân và cộng đồng. Đảng và Nhà nước ta xác
định rõ quan điểm, nguyên tắc và phương hướng đổi mới trong XHH cung ứng
DVC. Chủ trương đẩy mạnh XHH DVC chủ yếu ở các nội dung sau:
- XHH DVC là nội dung đặc biệt quan trọng trong đổi mới cung ứng và quản lý
DVC; là một xu hướng không thể đảo ngược trong quá trình phát triển KTTT định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
- Thực hiện XHH trước tiên là dịch vụ sự nghiệp công, sau đó là dịch vụ hành
chính công (HCC) và dịch vụ công ích. Việc mở rộng XHH sang nhiều lĩnh vực
10


dịch vụ cần được thực hiện theo tuần tự, tránh tình trạng thực hiện ồ ạt, tràn lan, có
nguy cơ gây ra những hậu quả tiêu cực.
- Việc XHH DVC phải được thực hiện trong mối gắn kết với những cải cách
KTXH khác nhằm hướng đến mục tiêu đẩy nhanh sự phát triển toàn diện của đất
nước.
- Nhà nước khuyến khích các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần khác nhau, nhất
là các chủ thể phi nhà nước, tham gia vào hoạt động cung ứng DVC; tạo môi
trường phát triển, môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để
thúc đẩy các cơ sở công lập và ngoài công lập phát triển về cả quy mô và chất
lượng; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra trong quá trình XHH cung ứng
DVC nhằm hạn chế các tác động tiêu cực.



hội cho tới mọi gia đình. Đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng lĩnh vực này
là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, tiến
cùng thời đại, nâng cao được vị thế hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đa dạng hóa các hình thức cung ứng DVC, cụ thể như sau:
+ Nhà nước giao cho cơ sở ngoài công lập tài sản vật chất ngoài Nhà nước (Nhà
nước vẫn giữ quyền sở hữu) và cơ sở này sử dụng tài sản này để cung ứng DVC
cho xã hội.
+ Nhà nước ký hợp đồng với các cơ sở ngoài công lập cung ứng một loại DVC.
Các cơ sở ngoài công lập có tài sản riêng, nguồn vốn riêng, đứng ra tổ chức cung
ứng DVC theo hợp đồng của Nhà nước, trong đó xác định rõ trách nhiệm, quyền
lợi của hai bên.
+ Trong một số dịch vụ công ích như cung cấp điện, nước sạch…, cơ sở ngoài
công lập tạo ra sản phẩm ban đầu và Nhà nước mua lại để hòa vào mạng lưới phân
phối chung, cung ứng điện nước cho người tiêu dùng.
- Làm rõ cơ chế hoạt động của các cơ sở công lập sau khi được chuyển đổi từ hoạt
động theo cơ chế sự nghiệp sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tập trung vào
các nội dung sau đây:
+ Làm rõ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan công lập cung ứng
DVC bao gồm: kế hoạch hoạt động; tổ chức nhân sự; tài chính. Quyền tự chủ kể cả
phần thu và phần chi nhằm bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ đã ký kết và chịu
trách nhiệm về các hoạt động của mình theo quy định của pháp luật.
+ Làm rõ cơ chế tài chính của các cơ sở công lập cung ứng DVC, đó là chuyển từ
chế độ dự toán của cơ quan hành chính sang cơ chế tự hạch toán hay hạch toán độc
lập để bảo đảm cho các cơ sở công lập cung ứng DVC hạch toán thực các phần
thu, chi của mình.
- Thực hiện các biện pháp, chính sách tạo dễ dàng và khuyến khích đối với các cơ
sở ngoài công lập cung ứng DVC, cụ thể là:
+ Đơn giản hóa các thủ tục thành lập và hoạt động của cơ sở ngoài công lập theo

2.2. Về dịch vụ sự nghiệp công:
Để thực hiện hiệu quả việc XHH dịch vụ sự nghiệp công, chúng ta cần làm
tốt các nhiệm vụ sau:
- Phải tách bạch sự nghiệp với hành chính nhằm xác định rõ vai trò của Nhà nước
và các đơn vị sự nghiệp.
- Đổi mới chế độ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp nhằm thực hiện tốt hơn
công bằng xã hội. Cơ cấu lại chi tiêu NSNN cho các lĩnh vực sự nghiệp theo hướng
đảm bảo công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng dịch vụ. Thay đổi tư duy, quan
niệm về học phí, viện phí để có chính sách và cơ chế phù hợp theo hướng hỗ trợ
trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ (theo đầu ra) là chủ yếu.
- Xây dựng cơ chế trợ giúp người nghèo tiếp cận dịch vụ sự nghệp công. Cần xác
định những người cần được trợ giúp. Áp dụng phương thức trợ giúp thiết thực. Lựa
chọn các giải pháp trợ giúp thích hợp. Trợ giúp thông qua chương trình mục tiêu
quốc gia.
- Xác định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị công lập cung ứng
dịch vụ sự nghiệp công theo hướng không vì mục tiêu lợi nhuận.
2.3. Về dịch vụ công ích:
Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, để việc XHH dịch vụ công ích (DVCI)
đảm bảo nguyên tắc không vì lợi nhuận, cần quan tâm đến các giải pháp sau:
- Nâng cao vai trò của Nhà nước trong quá trình xã hội hóa, chuyển giao DVCI
cho khu vực tư nhân.
- Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước đối với DVCI.
- Làm rõ và thực thi đầy đủ các chức năng quản lý của chính quyền các cấp trong
quá trình XHH, chuyển giao DVCI cho khu vực tư nhân.
13


- Kiện toàn tổ chức và bộ máy quản lý, nâng cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm
của các DNNN thực hiện các sản phẩm, DVCI theo nguyên tắc hạch toán kinh
doanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status