LỜI CẢM ƠN
Với mong muốn được học hỏi kinh nghiệm và kiến thức khoa học trong
nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị tốt cho bệnh nhân, Tôi đã theo học tại Học viện Y
Dược học cổ truyền Việt Nam đến nay đã 4 năm, với vốn kiến thức đã được tích lũy
qua sự truyền thụ của thầy cô giáo, tôi lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là:
“Nhận xét tác dụng của điện châm phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhi
viêm não Nhật bản sau giai đoạn cấp”. Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, các Thầy cô giáo của Học viện Y Dược
Học Cổ Truyền Việt Nam, đã dạy dỗ và truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt 4
năm qua .
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS- TS Nguyễn Bá Quang - Viện phó, Trưởng
khoa châm cứu Học viện Y-Dược học cổ truyền Việt Nam đã tận tình giúp đỡ và
hướng dẫn tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
- Tôi xin trân thành cảm ơn các bác sĩ và điều dưỡng Khoa nhi, Phòng kế
hoạch tổng hợp Bệnh viện châm cứu Trung ương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong quá trình lấy cỡ mẫu bệnh nhi.
- Khóa luận tốt nghiệp này là thành quả trong suốt thời gian nghiên cứu và
cũng là hành trang để tôi tiếp tục học tập nhiều hơn trong quá trình nghiên cứu và
áp dụng vào việc chẩn đoán - điều trị cho bệnh nhân sau này. Trong thời gian học
tập và trình bày khóa luận, Tôi chưa phát huy và thể hiện được nhiều như mong
muốn, song tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình, đóng góp chân thành từ
các Thầy cô giáo, các đồng nghiệp… để tôi hoàn thiện mình hơn.
- Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những tình cảm, sự cổ vũ của gia đình và bạn bè
thân thiết của tôi trong suốt quá trình học tập để tôi hoàn thành khóa luận này.
Nguyễn Thị Kim Thanh.
-1-
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang
Bìa khóa luận.......................................................................................................................
Trang phụ bìa......................................................................................................................
Lời cảm ơn........................................................................................................................
Bảng các ký hiệu...............................................................................................................
2
Mục lục
Danh mục các bảng, đồ thị................................................................................................
Đặt vấn đề:........................................................................................................................
Chương I: Tổng quan cơ chế bệnh sinh............................................................................
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:......................................................
Chương III: Nhận xét kết quả nghiên cứu......................................................................
Chương IV: Bàn luận:.....................................................................................................
Chương V: Kết luận:.......................................................................................................
Chương VI: Kiến nghị&đề xuất.....................................................................................
Tài liệu tham khảo...........................................................................................................
Phụ lục ............................................................................................................................
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ
TT
1
2
DANH MỤC
Tỷ lệ mắc bệnh di chứng sau VNNB cấp theo lứa tuổi và giới
Tỷ lệ bệnh nhi đến điều tri theo thời gian mắc bệnh
10
So sánh điểm Orgogozo trước và sau điều trị theo thể YHCT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Trang
Sơ đồ 1.1. Chu kì truyền VNNB…………………………………………………7
Hình 2.1.Máy điện châm M7 do Bệnh viện Châm cứu TW sản xuất……………21
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm não Nhật bản (VNNB) là một bệnh nhiễm virus cấp tính ở hệ thống
thần kinh Trung ương và là một trong những bệnh nặng nhất thuộc nhóm viêm não
tiên phát. Bệnh này thường xảy ra ở nhiều nước khu vực Đông Á Thái Bình Dương
trong đó có Việt Nam.
Bệnh có tính chất địa phương, thường gặp ở trẻ em là lứa tuổi quan trọng
nhất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Bệnh gây nên do virut VNNB, thuộc
4
nhóm Arbo virut typ B, lây truyền từ nguồn bệnh đến người qua muỗi đốt. Virut
VNNB sau khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phát triển và gây tổn thương nặng nề ở hệ
thống thần kinh Trung ương. Ở giai đoạn viêm não cấp, tỷ lệ tử vong của người
bệnh khá cao và nếu qua khỏi giai đoạn này thường thấy có nhiều di chứng về thần
kinh và tâm trí [20].
Những vụ dịch VNNB thường gặp tại khu vực Châu Á với tỷ lệ mới mắc
bệnh mỗi năm khoảng 45.000 trường hợp chủ yếu là trẻ em [65], [73].Theo
D.S.Burke (1998) ước lượng khoảng 25% trường hợp tử vong và 50% mang di
chứng thần kinh và tâm trí vĩnh viễn [65].
Ở Việt Nam, từ năm 1994 Viện Vệ sinh dịch tễ đã sản xuất được vắc xin
-
Năm 1994, Viện Vệ sinh dịch tễ đã chế tạo thành công vacxin chống VNNB ở
Việt Nam [37].
2. Đặc điểm của VNNB theo y học hiện đại:
2.1 Định nghĩa và phân loại VNNB:
* Định nghĩa: là bệnh nhiễm virus cấp tính của hệ thần kinh trung ương do VNNB
gây nên, lây truyền từ muỗi và là một trong những bệnh nặng nhất thuộc nhóm viêm
não tiên phát, có tỷ lệ tử vong cao và để lại nhiều di chứng.
* Phân loại:
-
Theo bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ X của tổ chức Y tế thế
giới(ICD.X,1992) VNNB, mang mã số A.83.0 thuộc nhóm các bệnh viêm não
do muỗi truyền.
Trong bảng phân loại của Ủy ban quốc tế về phân loại virus(I.C.T.Y,1991), virus
VNNB được xếp vào nhóm B của các virus Arbor thuộc họ Flaviridae dòng Flavi
[1],[23],[65],[69].
2.2 Dịch tễ học:
2.2.1. Dich tễ học:
- VNNB đã lan tràn trên một lãnh thổ khá rộng của nhiều nước thuộc Đông Nam Á
và Tây Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam[64]. Những nơi thường có VNNB
được thông báo là Ấn Độ, Nepan, Malaysia, Philipin, Nhật Bản, Việt Nam…[5],
[20],[64],[66].
-
Bệnh VNNB thường gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng người lớn thường ít gặp hơn là
trẻ em, bệnh không liên quan đến giới tính [1],[36],[68].
Muỗi
Lợn
Muỗi
lợn
Muỗi
Người
Sơ đồ 1.1 Chu kỳ truyền bệnh VNNB
2.2.2. §Æc ®iÓm l©m sµng giai ®o¹n cÊp vµ tiÕn triÓn cña bÖnh:
2.2.2.1. Đặc điểm lâm sàng giai đoạn cấp (Thể điển hình):
. Trong giai đoạn viêm não cấp tính, bệnh thường xuyên diễn ra như sau:
- Thời kỳ tiền triệu từ 1-6 ngày, ngắn nhất có thể 24 giờ, đó là thể tối cấp, dài nhất
14 ngày với thể bán cấp. Các tiền triệu có thể là đau bụng, ỉa lỏng, mệt mỏi, chán ăn.
- Khởi phát: thường đột ngột với các triệu trứng như sốt, nhức đầu, nôn, lợm
giọng ... có thể có giật toàn thân hoặc cục bộ và nhanh chóng đi vào trạng thái hôn
mê.
- Toàn phát: với các triệu chứng chủ yếu là:
+ Những dấu hiệu màng não như cứng gáy và Kerning dương tính.
7
+ Những rối loạn vận động như co giật liên tiếp và liệt vận động cơ.
+ Những rối loạn ý thức, đặc biệt từ ngủ gà đến hôn mê.
+ Những rối loạn thần kinh thực vật, nổi bật là thường sốt cao trên 38 oC, trong
yếu là lympho bào [56].
8
Theo Lê Đức Hinh và cộng sự, ở trẻ em khoàng 90% trường hợp VNNB đều có
biến đổi thành phần dịch não - tuỷ: mức tăng của Protein từ 0,5 đến 1g/l và tế bào từ
10 đến 100 bạch cầu/ml với ưu thế là lympho, còn lượng glucoza và clorua trong
dịch não - tuỷ không thay đổi [20],[22].
2.3. Xét nghiệm huyết học
Trong máu, bạch cầu tăng cao, chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính, tốc độ
máu lắng thường cũng tăng.
Kết quả đường huyết, urê huyết điện giải đồ trong giới hạn bình thường [20],
[32],[34].
2.3.3. Giải phẫu bệnh:
Giải phẫu đại thể thường không đủ để xác định chẩn đoán. Chỉ có giải phẫu vi thể
mới có thể cho phép phân biệt tổn thương của VNNB với các bệnh viêm não khác [15].
Đặc điểm chung là có biểu hiện chống đỡ tích cực, tại chỗ, tức thời, phản ứng
phù nề nhiều hơn là hủy hoại. Tổn thương chủ yếu là chất xám vỏ não, đặc biệt là
vùng thái dương, vùng trán và các nhân xám trung ương. Tổn thương cũng thấy ở
đồi thị, hạ khâu não, thân não, cấu tạo lưới và tiểu não [15],[20],[30],[34],[53].
Về đại thể: có xung huyết và phù nề ở não, màng não. Đôi khi có ổ chảy máu ở
màng não với chảy máu qua thâm nhập.
Về vi thể: biểu hiện hình ảnh một phức hệ viêm não. Đặc trưng chủ yếu về giải
phẫu bệnh vi thể của VNNB ở giai đoạn cấp tính là các vỏ ngoại quản, các đám tế
bào và các ổ hoại tử chưa chiếm ưu thế trong các tầng chất xám khác nhau [15],
[23].
Các tổn thương này phân bố rộng dãi ở đại não, tiểu não, thân não, tủy sống. Các
tổn thương này thường phân bố nặng nhất khu trú trong sừng Ammon, hạt nhân bên
của đồi thị và nhân liềm đen. Các tổn thương thực chất đã làm tan rã các bao
sàng
phụ
1. Bệnh nhân ≤
2. Hội chứng viêm não cấp tính với bộ ba 15 tuổi (thường từ
Lâm
I
Tiêu chuẩn
và
dịch tễ
triệu chứng:
2-7 tuổi)
- Sốt trên 380C
2. Mắc bệnh
- Co giật liên tiếp và liệt vận động
vào mùa hè (tháng
- Ngủ gà hoặc hôn mê
Xét
ngiệm
đặc hiệu
- Tỷ lệ trung tính tăng cao
Cho mọi trường hợp
- Phát hiện kháng thể IgM theo kỹ thuật
MAC-ELISA: dương tính.
- Phản ứng huyết thanh dương tính với kháng
nguyên Nakayama.
+ Máu kép: tăng động lực kháng thể
+ Máu đơn: Hiệu giá 1/640 (ngăn ngưng kết
10
hồng cầu)
- Theo tổ chức Y tế Thế giới năm 1992, tiêu chuẩn chẩn đoán của VNNB (ICDX/1992) [30],[34] dựa trên:
Lâm sàng và chẩn đoán huyết thanh dương tính
2.5. Tin hình nghiên cứu các di chứng về thần kinh và tâm thần VNNB.
VNNB có tỷ lệ tử vong cao, số bệnh nhi sống sót thương mang nhiều di chứng
về thần kinh, tâm thần và thường kết hợp nhiều di chứng trên một bệnh nhi [20],
[28],[30]
Năm 1948, sau vụ dịch viêm não lớn xảy ra ở Tokyo, S.Tatetsu đã nghiên cứu
117 bệnh nhân từ giai đoạn cấp tính tiếp cho tới 1 tháng đến 4 tháng sau và đã cho
những phân tích sâu sắc về các rối loạn thần kinh và tâm trí. Theo tác giả, đa số các
trường hợp thấy co cứng cơ, vẻ mặt nghèo nàn, nét mặt sững sờ, tăng trương lực cơ,
tăng động kiểu run, múa giật, múa vờn (68%). Rối loạn ý thức, bản thân tỏ ra có
quan hệ chặt chẽ với những triệu chứng tăng động. Liệt vận động, tăng phản xạ gân
xương, dấu hiệu Babinski là triệu chứng hay gặp [79].
2.6.1. Thuốc [2] :
- Chống rối loạn trương lực cơ và các động tác bất thường: thuốc giãn cơ và
thuốc chống Parkinson.
- Chống co giật, động kinh và các trạng thái kích động: thuốc an thần và thuốc
chống động kinh.
- Chống bội nhiễm bằng kháng sinh thích hợp.
2.6.2. Phục hồi chức năng
Sau giai đoạn cấp, việc phục hồi chức năng là biện pháp điều trị quan trọng nhất
[12],[37],[39].
- Phục hồi chức năng vận động bằng châm cứu xoa bóp trị liệu, vận động trị
liệu, hoạt động trị liệu, dụngcụ trợ giúp và chỉnh hình.
- Phục hồi chức năng còn bao gồm các biện pháp y học, xã hội học, giáo dục và
kỹ thuật phục hồi nhằm giảm tối đa các di chứng bệnh là một phương pháp nhờ đó
người bệnh được hoàn toàn trả lại sức khoẻ và khả năng tự hoạt động trong cuộc
sống của mình.
* Phục hồi chức năng tại các trung tâm (bệnh viện) có sự trợ giúp của cán bộ y
tế chuyên ngành phục hồi chức năng và các phương tiện.
* Phục hồi chức năng ngoại viện: cán bộ chuyên ngành phục hồi chức năng
đem phương tiện đến tận nơi có người tàn tật để giúp họ.
12
* Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: là quá trình chuyển giao kiến thức,
kỹ năng từ cán bộ phục hồi chức năng cho các thành viên của cộng đồng, gia đình
và bản thân người bệnh.
* Kỹ thuật phục hồi chức năng:
- Phục hồi vận động: phục hồi sớm, toàn diện, khuyến khích tập các vận động
thông thường, tập theo các giai đoạn, theo sự phát triển của mọi lứa tuổi. Khuyến khích
trẻ học các động tác liên quan đến đời sống hàng ngày, tập các tư thế nằm, ngồi quỳ,
nghiên cứu về các bệnh ngoại cảm nhiệt tà trong bốn mùa, trong đó có nhiều triệu
chứng ôn nhiệt, có khi gây thành dịch. Tuỳ theo bệnh phát vào mùa nào mà có
những tên gọi khác nhau: mùa xuân - xuân ôn, mùa hạ - thử ôn, cuối hạ đầu thu thấp ôn, mùa thu - thu táo, mùa đông - đông ôn. Các vụ dịch VNNB thường phát
vào mùa hè nên gọi là thử ôn. Tất nhiên thử ôn không phải là VNNB nằm trong thử
ôn. Căn cứ vào ngyên tắc biện chứng luận trị của y học cổ truyền, vận dụng phương
pháp điều trị thử ôn vào VNNB, thực tiễn chứng minh có kết quả tốt.
Theo học thuyết ôn bệnh, thử tà là thử nhiệt cực thịnh, làm tổn thương tân dịch
rất mạnh khi vào đến phần huyết nhệt làm can phong nội động, khiến bệnh nhi co
giật hàm răng nghiến chặt còn gọi là thể phong hoặc kinh phong. Nhiệt nhập vào
Tâm bào, bế Tâm khiếu sinh mê man. Nhiệt thịnh làm bệnh nhi sốt cao,nhiệt cực
sinh hàn, làm chân tay giá lạnh, tuy thân vẫn nóng còn gọi là thể quyết. Bệnh diễn
ra tất nhanh, giai đoạn bệnh ở vệ và thượng tiêu chỉ sảy ra trong thời gian rất ngắn,
chuyển sang phần khí, doanh, huyết.
3.1.2. Triệu chứng lâm sàng y học cổ truyền
Theo giáo sư Nguyễn Tài Thu[47],[48],[50] chia ra các giai đoạn như sau:
Các giai đoạn ôn bệnh:
* Thời kỳ vệ (Giai đoạn khởi phát):
Triệu chứng: bệnh nhân có sốt, hơi ớn lạnh, có mồ hôi hoặc ít mồ hôi, đau đầu,
buồn ngủ, đau mỏi thân mình.
-Rêu lưỡi trắng mỏng.
-Mạch:phù, sắc.
* Thời kỳ phần khí (giai đoạn đầu của toàn phát chưa có biến chứng)
Triệu chứng: sốt cao, mồ hôi nhiều, thở mạnh, nhức đầu, khát nước, răng khô.
- Chất lưỡi đỏ.
- Mạch:sác, hồng đại
* Thời kỳ doanh (vinh) (giai đoạn toàn phát có biến chứng)
Triệu chứng: sốt cao 40-410C, hôn mê, gây cứng, co giật.
- Lưỡi đỏ sẫm, khô.
- Mạch: tế, sác
* Thời kỳ( giai đoạn có biến chứng nặng)
quấy khóc la hét vật vã, mất ngủ, phiền nhiệt, chân tay co cứng xoắn vặn, run giật,
co giật, mạch phù sác hoặc hoạt sác. Đối với trẻ dưới 5 tuổi chỉ văn nổi chạy đến
phong quan hoặc mệnh quan màu tím hoặc tía.
Lý hư nhiệt: bệnh nhân đần độn, kém linh hoạt không nói, sắc nhợt, hoặc tối.
Tiếng khóc nhỏ yếu hoặc không thành tiếng, lòng bàn tay bàn chân lạnh nhợt. Chân
tay co cứng hoặc liệt, không ngồi được sắc mặt trắng nhợt chất lưỡi nhợt. Mạch
15
trầm sác hoặc tế sác. Đối với trẻ dưới 5 tuổi, chỉ vân tay chìm màu nhạt hoặc xanh
tía chạy đến khí quan thể hết khí quan trong trường hợp nặng.
3.2. Phác đồ điều trị di chứng sau VNNB theo y học cổ truyền:
Hiện nay y học cổ truyền có rất nhiều phương pháp chữa di chứng liệt sau
VNNB như xoa bóp dưỡng sinh, hào châm, nhĩ châm, trường châm, gõ kim hoa
mai, điện châm, cấy chỉ...
Tại bệnh viên châm cứu, qua kinh nghiệm của Giáo sư Nguyễn Tài Thu đã
dùng điện châm phục hồi liệt vận động sau viêm não và theo phác đồ như sau:
- Pháp điều trị: Thanh nhiệt, thông kinh hoạt lạc, bình can tức phong, khai khiếu
tỉnh thần, bổ âm (bổ can tì thận).
- Kinh huyệt điều trị là dùng các kinh Dương minh Vị, kinh Dương minh Đại
trường, Thái dương Bàng quang, Thiếu dương Tam tiêu, Thiếu dương Đởm, Mạch
Đốc và kinh Thái tỳ âm, kinh Quyết âm can, Thiếu âm tâm, Quyết âm tâm bào,
Kinh Dương minh đại trường.
- Huyệt điều trị: Tả Bách hội, Đại chuỳ, Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc xuyên
Lao Cung, Kiên trinh xuyên Cực tuyền, Giáp tích C3 xuyên C7,Giáp tích L1 xuyên
S1, Trật biên xuyên Hoàn khiêu, Thừa phù ,Uỷ trung, Thừa sơn, Dương lăng tuyền,
Lương khâu, Phục thỏ, Giải khê, Túc lâm khấp, Hành gian, Thái xung.
Bổ: Nội quan, Thần môn, Tam âm giao, Túc tam lý, Huyết hải.
3.3. Vai trò của châm cứu, điện châm trong điều trị:
3.3.2. Vai trò sử dụng điện châm và kích thích điện.
Điện châm là tác động vào huyệt (qua kim châm cứu) tức là dùng một máy điện
tử tạo xung điện với tần số và cường độ thích hợp để kích thích và điều hoà sự vận
hành của khí huyết. Từ đó ảnh hưởng đến hoạt động của các cân cơ, các dây thần
kinh, các tổ chức làm tăng cường sự dinh dưỡng và điều chỉnh chức năng của các
mô các hệ thống cơ quan đưa trạng thái của cơ thể trở về trạng thái thăng bằng âm
dương để tiêu trừ bệnh tật [49].
Như vậy điện châm nhằm mục đích điều khí như các hình thức châm khác.Tả ở
nơi trệ khí, bổ ở nơi khí thiểu, như vậy nhanh chóng tiêu trừ được bệnh tà, lấy lại
trạng thái cân bằng âm dương. Hiện nay kỹ thuật điện châm đã được bệnh viện
Châm cứu Trung ương sử dụng nhiều trong điều trị bệnh nói chung và trong liệt vận
động ở bệnh nhi VNNB sau giai đoạn cấp nói riêng.
3.4. Nghiên cứu điều trị di chứng sau VNNB theo y học cổ truyền
Ở Việt Nam từ năm 1961 đến 1965, Khoa Nhi viện Đông y Trung ương thừa kế
kinh nghiệm của lương y Nguyễn Trọng Cầu và Lương y Trần Đức, ban đầu chỉ
dùng thuốc nam đơn thuần kết hợp với châm cứu xoa bóp đã giải quyết một phần di
chứng do viêm não gây ra [3].
17
Những năm 1971 - 1981, Nguyễn Tài Thu đã tổng kết điều trị ở trẻ em, người
lớn do viêm não, viêm màng não, đạt kết quả khả quan, trong các sách Tân Châm,
Điện Châm, Thuỷ châm, Mai hoa châm [46],[47],[49].
Năm 1992, Khoa Y học dân tộc Bệnh viên đa khoa Hai Bà Trưng - Sở Y tế Hà
Nội nghiên cứu, châm cứu phục hồi di chứng vận động cho 25 bệnh nhân sau viêm
não do Trần Thị Hiền, Ngô Quang Thái và cộng sự thực hiện [16] thấy kết quả loại
A và B là 84, 4%.
Năm 1993, Hoàng Bảo Châu, Trịnh Thị Nhã và cộng sự đã báo cáo đề tài
" Nghiên cứu hồi cứu 70 bệnh án điều trị bệnh VNNB” bằng Hào châm [4], cho
+ Bệnh nhi hết hôn mê.
+ Mạch, huyết áp, nhịp thở trong phạm vi bình thường.
Có các rối loạn vận động như:
+ Rối loạn trương lực cơ: tăng hoặc giảm
+ Liệt vận động: liệt một chi, liệt nửa người, liệt hai chân, liệt tứ chi
+ Dấu hiệu ngoại tháp: tăng trương lực cơ kiểu ngoại tháp, run, múa, giật, múa
vờn và các động tác khác ...
- Về chẩn đoán huyết thanh:
Chẩn đoán huyết thanh dương tính với kháng thể kháng virus VNNB IgM.
Nơi làm xét nghiệm: Phòng vi sinh y học Viện Nhi với bộ sinh phẩm Mac - Elisa
chẩn đoán VNNB.
1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bệnh nhi VNNB giai đoạn cấp.
- Các bệnh nhi có di chứng của hội chứng viêm não cấp tính không phải là
VNNB.
- Các bệnh nhi bị viêm não kèm theo các bệnh khác như: lao, ung thư, xơ gan,
suy thận, nhiễm HIV, viêm phổi… cũng không đưa vào đối tượng nghiên cứu.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian nghiên cứu
1/2010 đến 5/2010
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Là phương pháp nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tự đối chứng (so
sánh trước và sau điều trị)
- Cơ mẫu nghiên cứu: N = 30 với độ tin cậy 95%
- Mô hình nghiên cứu:
19
0,5-30Hz
Kênh tả
Multistep xoay chiều
2 - 60 Hz
30-1800 xung/phút
Idx: 0 - 650 mcA
Udx: 0-70V
20ns
6Volts
Bảng 2.1:
120 - 3600 xung/phút
Idx:0-3mA
Udx: 0-200V
10ns
20
Máy điện châm
* Bổ với tần số từ 5 - 50HZ . F = 2HZ
* Tả với tần số từ 5 - 100HZ . F = 5HZ
2.2.2. Phác đồ điều trị và kỹ thuật châm và điện châm:
* Phác đồ điều trị
Mọi phương pháp điều trị của y học cổ truyền đều dựa theo nguyên lý hư thì bổ,
thực thì tả, điều hoà âm dương. Châm cứu có tác dụng cân bằng âm dương, điều hoà
+ Kiên ngung : Dùng kim 6-8cm, châm nghiêng xuyên tới huyệt Tỳ nhu.
+ Kiên trinh xuyên Cực tuyền : dùng kim 8-10 cm châm thẳng kim từ huyệt
Kiên trinh hướng sang huyệt Cực tuyền.
* Chi dưới: châm tả Đởm kinh, Bàng quang kinh, Vị kinh.
* Châm bổ: Tỳ kinh, Can kinh.
.+ Giáp tích C3-C7: dùng kim 6-8cm châm dọc theo hai bên cột sống, hướng
kim xuống phía dưới
Kỹ thuật châm: Đảm bảo đến đắc khí.
+ Trật biên : dùng kim 12cm, châm nghiêng sâu hướng về huyệt Hoàn khiêu .
22
+ Thừa phù: dùng kim 6cm, châm sâu tới huyệt.
+ Uỷ trung .dùng kim 5cm
+ Thừa sơn: dùng kim 5cm.
+ Giải khê : Dùng kim số 5cm.
+ Khâu khư ,dùng kim 5cm .
+ Giáp tích L1-S1: dùng kim dài 8-12cm, châm dọc theo hai cột bên cột sống,
hướng kim xuống phía dưới.
+ Túc tam lý: Dùng kim dài 6cm châm thẳng kim .
+ Dương lăng tuyền : dùng kim dài 10cm .
+ Tam âm giao : dùng kim 6cm châm thẳng kim.
+ Huyết hải : Dùng kim 6cm châm bổ .
+ Hành gian : dùng kim 5cm ngược theo đường kinh đến Thái xung .
+ Địa ngũ hội ; dùng kim 5cm châm sâu xuyên đến Túc lâm khấp.
Chống chỉ định: Ngừng châm khi bệnh nhân sốt cao, viêm phế quản, viêm phổi,
tiêu chảy mất nước,vượng châm.
* Điện châm (kích thích bằng máy) điện châm M7.
- Bổ và tả là hai kỹ thuật kích thích huyệt được sử dụng theo từng huyệt.
Lê Đức Hinh)
2.3. Nhận xét kết quả
2.3.1. Tiêu chuẩn đánh giá các triệu chứng thần kinh theo Lê Đức Hinh [24],
[43], [50],[56].
* Rối loạn vận động:
- Khỏi: trẻ đi lại, chạy nhảy bình thường. Tay làm được các động tác tinh xảo,
như cầm được bút vẽ, cầm được thìa đũa ăn cơm ...
- Đỡ: khả năng vân động tăng lên, nhưng chưa trở về bình thường. Như từ nằm
im không nhúc nhích, sang các chi bắt đầu vận động được, có thể lật nghiêng người
- Không đỡ: khả năng vận động không thay đổi.
* Biến đổi phản xạ gân xương:
- Khỏi: Phản xạ gân xương trở về bình thường.
- Đỡ: có thay đổi theo chiều hướng tốt lên, như từ giảm phản xạ sang tăng...
- Không đỡ: Phản xạ gân xương không thay đổi so với lúc vào.
* Dấu hiệu bệnh lý (babinski, hoffman) dương tính
- Khỏi: dấu hiệu bệnh lý trở về âm tính (chỉ đánh giá ở trẻ trên 3 tuổi đối với
dấu hiệu babinski)
- Đỡ: dấu hiệu bệnh lý lúc có, lúc không, phải tìm kỹ mới thấy
- Không đỡ: dấu hiệu bệnh lý vẫn dương tính rõ.
24
* Rối loạn trương lực cơ: từ nặng tới nhẹ thường gặp là giảm hoặc quá tăng,
tăng trương lực cơ
- Khỏi: trương lực cơ trở về bình thường, hết rối loạn
- Đỡ: tiến triển theo chiều hướng nhẹ đi, nhưng vẫn chưa trở về bình thường,
như trương lực từ giảm sang tăng, hoặc từ quá tăng sang tăng nhẹ.
- Không đỡ: rối loạn này không thay đổi, hoặc tăng thêm. Như từ tăng sang
quá tăng, từ giảm sang quá giảm.
10