SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG
QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.
1. Khái niệm về công cụ kinh tế.
1.1. Một số đặc trưng cơ bản của công cụ kinh tế.
Bàn về các công cụ kinh tế các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều các định
nghĩa khác nhau. Để làm sáng tỏ đặc trưng cơ bản của công cụ kinh tế em đưa ra
một số định nghĩa sau:
Công cụ kinh tế là những phương tiện chính sách nhằm thay đổi chi phí và
lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động đến môi trường (Tổ
chức, cá nhân khai thác và sử dụng), tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây
ra sự huỷ hoại môi trường. Các doanh nghiệp (hoạt động sản xuất kinh doanh)
trong quá trình thường phải chú ý tới hai vấn đề: Lợi ích kinh tế và vấn đề bảo vệ
môi trường. Như vậy thì ngoài phải chi phí cho những khoản khác đương nhiên họ
phải mất một khoản tài chính nhất định chi phí cho bảo vệ môi trường. Điều này đã
làm ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của nhà doanh nghiệp. Tại Điều 7- luật bảo vệ
môi trường đã quy định: “ Tổ chức cá nhân sử dụng thành phần môi trường vào
mục đích sản xuất, kinh doanh trong trường hợp cần thiết phải đóng góp tài chính
cho việc bảo vệ môi trường”, và cụ thể tại Điều 8 Nghị định số 175- CP ngày
18/10/1994 quy định việc các tổ chức, sản xuất kinh doanh có trách nhiệm đóng
góp tài chính bảo vệ môi trường và bồi thường thiệt hại do có hành vi gây tổn hại
môi trường.
Như vậy việc áp dụng các công cụ kinh tế sẽ làm thay đổi chi phí và lợi ích
kinh tế và đương nhiên điều đó đã tăng cường ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ
môi trường của doanh nghiệp.
Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đề ra các quyết định nhằm
đạt tới các mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi phí cho bảo
vệ môi trường. Do phải chi phí cho việc bảo vệ môi trường nên đã làm cho lợi ích
kinh tế không cao. Vậy muốn đảm bảo được lợi ích kinh tế thì doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh phải tăng giá thành sản phẩm và chỉ có tăng giá thành
Một là: Công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giá của các
hoạt động làm tổn hại đến môi trường lên hoặc hạ giá của các hành động bảo vệ
môi trường xuống. Như trên đã phân tích các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
thì để cấu thành sản phẩm- giá trị sản phẩm- thì ngoài tính toán đến lợi ích kinh tế
họ phải chú ý đến lợi ích môi trường. Nghĩa là họ phải có những chi phí nhất định
trong việc bảo vệ môi trường. Như vậy để đảm bảo được lợi ích kinh tế thì doanh
nghiệp phải tăng giá thành tăng giá thành sản phẩm. Nếu hành động tác động đến
môi trường của doanh nghiệp làm ô nhiễm môi trường càng nhiều thì chi phí cho
bảo vệ môi trường càng lớn, điều đó dẫn đến giá thành sản phẩm cao. Ngược lại
hành động tác động tới môi trường của doanh nghiệp càng ít ảnh hưởng tới môi
trường thì chi phí cho bảo vệ môi trường càng ít và giá thành sản phẩm không cao
so với sản phẩm của doanh nghiệp ảnh hưởng xấu tới môi trường.
Hai là: Công cụ kinh tế tạo khả năng lựa chọn cho các tổ chức và cá nhân
hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ. Nhà nước sử dụng công cụ kinh
tế để áp dụng mức phí cần thiết tương ứng với hành động cũng như mức độ tác
động tới môi trường của doanh nghiệp. Nghĩa là khi đảm bảo đủ điều kiện về tiêu
chuẩn môi trường, đánh giá tác động của môi trường thì doanh nghiệp được phép
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nào và điều kiện kinh doanh ra sao… Phù hợp
với lĩnh vực kinh doanh và điều kiện kinh doanh là mức chi phí mà doanh nghiệp
đó phải đóng góp cho việc bảo vệ môi trường. Rõ ràng sử dụng các cộng cụ kinh tế
trong quản lý và bảo vệ môi trường nhà nước ta đã tạo khả năng lựa chọn hành
động kinh doanh khi mà doanh nghiệp đó đảm bảo được tiêu chuẩn môi trường và
đánh giá tác động môi trường.
Như vậy cộng cụ kinh tế tương phản với các quy định “điều hành và kiểm
soát”(CAC- a command- and- coutrol). Điều hành là việc đề ra các quy tắc xử sự
bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân theo. Kiểm soát là việc kiểm tra những hành
động phải tuân thủ và buộc phải chịu trách nhiệm về hành động không đúng với
những quy định đó. Đó là hai mặt của phương tiện chính sách “điều hành và kiểm
yêu cầu và bắt buộc họ trả tiền, nhưng cho phép sự lựa chọn của họ chỉ dao động
trong phạm vi những giới hạn đã được xác lập.
1.2. Khái niệm về công cụ kinh tế.
"Công cụ kinh tế là một trong những phương tiện chính sách được áp dụng
để đạt tới mục tiêu môi trường thành công"(1)
Công cụ kinh tế là việc Nhà nước áp dụng các chính sách dựa trên cơ sở lợi
ích kinh tế của doanh nghiệp nhằm khuyến khích các hành vi thân thiện với môi
trường.
2. Sự cần thiết của các công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường.
Nền kinh tế phát triển ngày càng cao, điều đó dẫn tới sự ô nhiễm, suy thoái
và những sự cố môi trường diễn ra ngày càng ở mức độ cao, đang đặt con người
trước sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên. Đối với thế giới nói chung và Việt nam
nói riêng thì đây là vấn đề cấp bách cần giải quyết và có những chính sách hữu
hiệu cần thiết phải bảo vệ môi trường cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
(1)(1) Bộ Khoa học công nghệ và môi trường - Cục Môi trường - giới thiệu về các công cụ kinh tế và khả năng áp
dụng trong quản lý môi trường ở Việt Nam
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinh vật
và sự phát triển kinh tế văn hoá, xã hội của đất nước và của nhân loại. Bởi vậy mà
vấn đề bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan
trọng của Đảng và Nhà nước ta. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau
Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong
xã hội nhằm bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy
thoái và sự cố môi trường. Trong những biện pháp và chính sách đó, cũng như
nhiều nước trên thế giới nhà nước ta đã áp dụng các công cụ hữu hiệu trong đó
công cụ kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Nói cho cùng thì mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp là tìm kiếm lơị nhuận.Vì lợi nhuận doanh nghiệp có thể bằng mọi cách lẩn
phần môi trường …Nó thể hiện quan điểm của nhà nước trong việc khuyến khích
các chủ thể tham gia quản lý và bảo vệ môi trường. Pháp luật môi trường cũng quy
định chức năng quyền hạn của các cơ quan quản lý và bảo vệ môi trường. Pháp
luật môi trường muốn thực thi và đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu các công cụ
kinh tế tác động đến. Bởi vì pháp luật môi trường đơn thuần là các “ mệnh lệnh,
kiểm tra” mà thôi. Pháp luật quy định các quy tắc xử sự và buộc họ phải tuân theo,
đồng thời nếu đơn thuần chỉ dựa vào công cụ pháp luật thì cơ quan quản lý và bảo
vệ môi trường cũng chỉ đến mức kiểm tra và khi các tổ chức cá nhân có hành vi sai
phạm thì cũng chỉ chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự hoặc các hình thức
khác. Như vậy thì hậu quả môi trường đã xảy ra rồi, công cụ kinh tế chính là biện
pháp phòng ngừa việc gây ô nhiễm môi trường cũng như suy thoái môi trường.
Hơn nữa điều này nó bó buộc đối với các doanh nghiệp, các doanh nghiệp buộc
phải tuân theo các quy định đó. Nhưng khi áp dụng các công cụ kinh tế thì người
gây ô nhiễm được lựa chọn mức độ tác động đến môi trường, tuy nhiên sự lựa chọn
này phải nằm trong giới hạn mà các công cụ kinh tế đã quy định. Áp dụng các
công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường là tác động tới chi phí và lợi
ích kinh tế của doanh nghiệp, đánh vào kinh tế - tài chính thì các chủ thể mới tuân
theo đúng tất cả các quy định của pháp luật môi trường. Rõ ràng để thực hiện chức
năng nhiệm vụ của mình, để đảm bảo tính khả thi của pháp luật môi trường thì Nhà
nước ta không thể không sử dụng các công cụ kinh tế.
Ở Việt Nam, công cụ kinh tế như một phương tiện chính sách quản lý
và bảo vệ môi trường là điều hoàn toàn mới mẻ bởi vì từ lâu chúng ta chỉ sử dụng
công cụ pháp lý hay cụ thể hơn là công cụ hành chính để quản lý và bảo vệ môi
trường . Trước thời kỳ đổi mới, Nhà nước quản lý đất nước chủ yếu bằng mệnh
lệnh chỉ huy từ một trung tâm gần giống như “ điều hành và kiểm soát”. Mặc nhiên
nền kinh tế cũng vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, lúc này mọi quy
định đều được thể hiện bằng việc ra mệnh lệnh. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI, Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới cùng với nó là nền kinh tế vận
pháp lý (CAC) các nhà nghiên cứu đã rút ra được ba điều thuận lợi sau:
+ Tăng hiệu quả chi phí: Hệ thống công cụ kinh tế thường đạt được với
thành công cùng với mục tiêu môi trường như là các quy định “điều hành và kiểm
soát” (CAC) nhưng ở mức chi phí thấp hơn. Áp dụng các công cụ kinh tế sẽ chi phí
thấp hơn trong công tác bảo vệ và quản lý môi trường và đạt được hiệu quả cao.
Việc sử dụng giá cả và cung cấp tính linh hoạt trong việc ứng phó với tín hiệu giá
cả cho phép mọi người và các doanh nghiệp tìm kiếm chi phí thấp nhất trong khả
năng lựa chọn của họ, đảm bảo cho việc chi phí môi trường ở mức tối thiểu từ đó
sẽ đảm bảo được lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Đây là điều thuận lợi đáng
kể trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường của các nhà quản lý cũng như các
chủ thể có hành động tác động đến môi trường.
+ Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới: áp dụng công cụ kinh tế cơ
quan quản lý không ra lệnh cho chiến lược kiểm soát mà những người gây ô nhiễm
phải chịu trách nhiệm. Trước khi có hành động tác động tới môi trường thì các chủ
thể phải có trách nhiệm lập báo cáo đánh gía tác động môi trường, đặc biệt hơn là
trong quá trình hoạt động sản xuất nếu cần đổi mới về một lĩnh vực nào đó chẳng
hạn như thay đổi dây truyền công nghệ và có tác động đến môi trường cao hơn thì
họ vẫn không phạm luật miễn là họ phải báo cáo với cơ quan quản lý và bảo vệ
môi trường và được cơ quan này cho phép khi có đủ điều kiện về đánh gía tác động
môi trường và tiêu chuẩn môi trường. Công cụ kinh tế có thể cung cấp tiếp tục hoạt
động kinh tế, tích cực để phát triển và lựa chọn chi phí kiểm soát hiệu quả, sự lựa
chọn này không theo quy ước đã định sẵn.
+ Khả năng tiếp nhận và sử lý thông tin tốt hơn: “Công cụ kinh tế cơ bản là
dựa vào thị trường cân nhắc đến hiệu quả chi phí cho phép đạt được các mục tiêu
môi trường với chi phí thống nhất”(1). Áp dụng các công cụ kinh tế dựa vào mức
phí phải nộp cũng như việc đánh giá tác động môi trường cơ quan quản lý có thể
ghi nhận được hậu quả của hành động tác động tới môi trường của các doanh
nghiệp, từ đó mà xử lý, khắc phục hậu quả. Đặc biệt nó đảm bảo được tính khả thi
phải đạt là giảm 20 tấn chất thải thì mỗi người gây ô nhiễm phải giảm 10 tấn. Tổng
chi phí của cả hai người gây ô nhiễm là 7 triệu USD. Cách tiếp cận này có tính phổ
biến khi áp dụng cách “điều hành và kiểm soát” theo quy định. Mục đích của việc
giảm 20 tấn chất thải có thể đạt được bằng việc chi phí 5 triệu USD nếu chỉ có
người gây ô nhiễm thứ nhất giảm 20 tấn. Con đường đạt tới chi phí thấp hơn này
đối với 20 tấn chất thải chỉ có thể có được nếu như ta áp dụng công cụ kinh tế. Đây
là một điều cực kỳ hợp lý bởi khi có sự khác nhau về nhân tố công nghệ, điều đó
cũng có nghĩa là lượng chất thải thải ra cũng khác nhau và đương nhiên chi phí cho
(1)(1) PTS. Nguyễn Thế Chinh - AD các công cụ kinh tế để nâng cao năng lực quản lý môi trường ở Hà Nội NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội 1999
việc bảo vệ môi trường là khác nhau. Tuy nhiên điều này cũng đã được ghi nhận
trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của chủ thể gây ô nhiễm.
Những thuận lợi của việc áp dụng các công cụ kinh tế vừa nêu không chỉ
mang tính chất lý thuyết, mà còn có hiệu quả áp dụng vào thực tiễn.
Như ta đã biết “các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc
cơ bản của nền kinh tế thị trường với mục đích điều hoà các xung đột giữa phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường” (1). Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các
tổ chức, cá nhân (các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh) chủ động kế
hoạch bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí
bảo vệ môi trường vào chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm.
Như vậy từ những lý luận và thực tiễn trên chúng ta thấy để đạt được
hiệu quả và mục đích trong quản lý và bảo vệ môi trường thì việc áp dụng các công
cụ kinh tế là vô cùng quan trọng và cần thiết.
(1)(1) Bộ Khoa học công nghệ môi trường - Cục môi trường - Giới thiệu về các công cụ kinh tế và khả năng áp
dụng trong quản lý môi trường ở Việt Nam