Phân tích các yếu tố cấu thành điểm đến Quảng Ninh - Pdf 33

A. MỞ ĐẦU
Du lịch ngày nay là một trong những ngành kinh tế năng động nhất của thế giới.
Trong những năm gần đây, hội nhập nền kinh tế thế giới, ngành du lịch Việt Nam đã có
sự phát triển đáng khích lệ. Năm 2007, ngành du lịch Việt Nam thu hút được xấp xỉ 4,2
triệu lượt khách du lịch quốc tế và 19,2 triệu lượt khách du lịch nội địa. Thu nhập từ du
lịch đạt 56 nghìn tỷ đồng.
Trong du lịch, điểm đến là một yếu tố quan trọng nhất trên nhiều phương diện.
Bởi vì các điểm đến và hình ảnh của chúng hấp dẫn du khách, thúc đẩy sự thăm viếng và
từ đó làm tăng sức sống cho toàn bộ hệ thống du lịch. Điểm đến là nơi xuất hiện các yếu
tố du lịch quan trọng và gây ấn tượng nhất, là nơi tồn tại ngành du lịch đón khách và là
nơi du khách có thể tìm được tất cả các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ cần thiết cho chuyến
viếng thăm của mình.
Để tìm hiểu kĩ hơn về một điểm đến, nhóm 7 tiến hành nghiên cứu về đề tài “
Phân tích các yếu tố cấu thành điểm đến Quảng Ninh”.

B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý thuyết
1.1 Quan niệm về điểm đến du lịch và đặc điểm của nó
* Quan niệm về điểm đến du lịch
Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian
lãnh thổ. Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà một du khách đang thực hiện hành
trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu tùy theo mục đích chuyến đi của người đó.
Trong kinh tế du lịch, điểm đến được quan niệm là yếu tố cung về du lịch. Từ góc
độ địa lý, điểm đến trở thành đối tượng nghiên cứu gắn với sự chuyển động của dòng du
khách cũng như ý nghĩa và sự tác động của dòng du khách đối với điểm đến. Điểm đến
tập hợp tất cả các khía cạnh của du lịch trong một cơ cấu thống nhất bao gồm: cầu, giao
thông vận tải, cung và hoạt động marketing. Trên nhiều phương diện điểm đén là một
yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống du lịch vì các điểm đến và hình ảnh của chúng hấp
dẫn du khách thúc đẩy sự viếng thăm và từ đó làm tăng sức sống cho toàn bộ hệ thống du
lịch. Do vậy, điểm đến là nơi xuất hiện các yếu tố quan trọng và gây ấn tượng nhất, là nơi


cư địa phương hoặc hỗn hợp cả hai đối tượng trên. Hầu hết các điểm đến thường có sự
tham gia của du lịch và những ngừi sử dụng khác. Do sự chia sẻ bởi nhiều người sử dụng
có thể trở thành nguyên nhân gây tranh chấp ở những điểm đến. Để giải quyết vấn đề tồn

2


tại này cần có các giải pháp phối hợp chặt chẽ hoạt động du lịch với các hoạt động khác
bằng nhiều cách khác nhau.
+ Tính bổ sung (Complementarity)
Trên thực tế hỗn hợp các yếu tố cấu thành điểm đến có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Điều đặc biệt quan trọng là chất lượng của mỗi yếu tố này và việc cung cấp dịch vụ
du lịch của chúng cần có sự tương đồng với nhau một cách hợp lý. Tính bổ sung lẫn nhau
này của các yếu tố cấu thành điểm đến khó có thể kiểm soát được bởi đặc điểm phân tán
của các cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch.
1.2 Các yếu tố cấu thành của điểm đến du lịch (dưới góc độ cung)
* Điểm hấp dẫn du lịch
Điểm hấp dẫn là nguyên nhân tạo ra động lực ban đầu, động cơ cho chuyến thăm
viếng của du khách. Tạo nên sự hấp dẫn cho diểm đến là các tài nguyên du lịch. Đây
cũng là yếu tố quan trọng và chi phối các yếu tố còn lại trong hệ thống du lịch. Để duy trì
sự hấp dẫn của điểm đến trong thời gian dài thì cần có những biện pháp thích hợp.
* Giao thông đi lại
Sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu quả nối liền với thị trường nguồn khách
là điểm căn bản cho sự thành công của các điểm đến. Có thể thấy rằng , khả năng tiếp cận
từ các thị trường nguồn khách cũng như việc cung cấp các dịch vụ vận chuyển và giao
thông địa phương phục vụ tham quan hoặc chuyên chở khách tới các cơ sở lưu trú là vấn
đề rất quan trọng với một điểm đến du lịch.
* Nơi ăn nghỉ
Các dịch vụ lưu trú và ăn uống tại điểm đến không chỉ cung cấp nơi ăn nghỉ mang
tính vật chất mà còn tạo cảm giác chung về sự đón tiếp nồng nhiệt và ấn tượng khó quên

bãi cát trắng, bãi biển tuyệt đẹp như: Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng,…
Tỉnh Quảng Ninh có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật,... gắn với nhiều lễ
hội truyền thống. Trong đó có những di tích nổi tiếng của quốc gia như chùa Yên Tử, đền
Cửa Ông, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn,... Đây là những
điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là
vào những dịp lễ hội.
Đến Quảng Ninh, du khách còn có cơ hội để thưởng thức các món ăn được chế biến
từ các loài hải sản của biển Quảng Ninh, trong đó có những đặc sản giá trị như hải sâm,
bào ngư, tôm, cua, sò, ngán, hầu hà, sá sùng, rau câu...
Đặc điểm:

4


- Được thẩm định về văn hóa: Quảng Ninh có vịnh Hạ Long đã hai lần được
UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ, địa chất và địa mạo; có nhiều di tích nổi tiếng
cấp Quốc gia như chùa Yên Tử, đền Cửa Ông, Đình Trà Cổ, di tích lịch sử Bạch
Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu - Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm…
ngoài ra còn có rất nhiều địa điểm được khách du lịch trong nước và quốc tế đánh giá
cao, như: đảo Cát Bà, đảo Tuần Châu…
- Tính không tách biệt: cũng như bất kì điểm đến nào trên thế giới, du lịch Quảng
Ninh cũng mang tính không tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng, tạo nên thời vụ du lịch ở
Quảng Ninh. Chính điều này khiến những tổ chức kinh doanh du lịch phải dự báo trước
được lượng khách đến và thị trường đến để đảm bảo khả năng phục vụ và hiệu quả cao
nhất.
- Tính đa dụng: du lịch Quảng Ninh chủ yếu gắn với biển nên cùng với du lịch còn
có các ngành tạo năng lượng và đánh bắt cá cùng khai thác tài nguyên biển. Các công
trình xây dựng, hệ thống nhà hàng, khách sạn…không chỉ phục vụ một đối tượng nhất
định, mà cả du khách và dân địa phương đều được hưởng lợi từ những công trình này.
- Tính bổ sung: thể hiện ở sự tác động qua lại của các yếu tố cấu thành điểm đến

hội truyền thống, trong đó có những di tích nổi tiếng của Quốc gia như chùa Yên Tử, đền
Cửa Ông, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn... đây là những
điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là
vào những dịp lễ hội.
* Ưu điểm
- Có nhiều tiềm năng du lịch với nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp, phong phú và đa
dạng, có sức hấp dẫn đối với du khách
- Có nhiều địa điểm nổi tiếng, có giá trị nhân văn và thẩm mĩ, kinh tế cao, được
quốc gia, UNESCO và du khách quốc tế công nhận.
- Công tác vệ sinh môi trường đã sạch sẽ, gọn gàng hơn, tình trạng chặn xe, ép
khách được xử lý nghiêm, hoạt động cờ bạc, xóc thẻ, bói toán, bán hàng dược liệu giả
được giảm thiểu, ngăn ngừa, an ninh trật tự đảm bảo tốt hơn,…
* Nhược điểm
- Sự tăng trưởng nhanh chóng của các điểm hấp dẫn du lịch Quảng Ninh những năm
qua là một trong các nguyên nhân đe doạ môi: Ô nhiễm khí và nước,…
- Các tàu thuyền ở Quảng Ninh chưa đảm bảo an toàn cho khách du lịch, còn xảy ra
nhiều vụ chìm tàu,… làm cho du khách có cái nhìn không tốt về du lịch Quảng Ninh nói
riêng và du lịch Việt Nam nói chung.

6


- Có thể nhận thấy, tiềm năng du lịch biển đảo của Quảng Ninh là rất lớn, tuy nhiên,
sự phát triển du lịch biển đảo của tỉnh vẫn chưa thực sự phát huy được lợi thế để thu hút
khách du lịch.
- Ngoài một số sản phẩm du lịch đặc sắc như: ngủ đêm, tham quan làng chài trên
vịnh Hạ Long, … thì hầu hết chất lượng các sản phẩm du lịch còn kém chất lượng, thiếu
các dịch vụ phục vụ vui chơi, giải trí, chưa nói đến các sản phẩm dịch vụ cao cấp. Các
sản phẩm du lịch biển đảo chủ yếu vẫn là những tour du lịch tắm biển, tham quan cảnh
đẹp đơn thuần, chưa tạo được nét độc đáo riêng để hút khách.

7


+ Tuyến vận tải khách: toàn tỉnh có 125 tuyến vận tải khách cố định liên tỉnh và liên
tỉnh liền kề; 18 tuyến vận tải khách nội tỉnh và 11 tuyến xe buýt.
Đường thuỷ nội địa:
+ Bến: toàn tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa.
+ Luồng: đã đưa vào cấp quản lý 642 km đường thuỷ nội địa.
Đường biển:
Phục vụ công tác vận tải thuỷ bao gồm các bến cảng và hệ thống luồng, lạch. Ở
Quảng Ninh, trong 14 huyện, thị xã, thành phố chỉ duy nhất Bình Liêu là huyện không có
vận tải thuỷ, 13 huyện, thị xã, thành phố còn lại đều có sông, suối hoặc ở ven biển nên
thuận lợi trong vận tải thuỷ.
+ Toàn tỉnh có 5 cảng biển (9 khu bến) thuộc Danh mục cảng biển trong Quy hoạch
phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
+ Cảng Cái Lân: đây là cảng nước sâu được đầu tư xây dựng thành cảng biển lớn,
có thể cập tàu 3-4 vạn tấn, vừa bốc xếp hàng rời, vừa bốc xếp hàng container.
+ Cảng Vạn Gia: là cảng cửa ngõ giao lưu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc,
là vùng neo đậu chuyển tài hàng hoá. Cảng có chiều dài luồng tự nhiên 7 hải lý, độ sâu –
75 m, đảm bảo cho tàu 10.000 DWT ra vào an toàn.
+ Cảng Cửa Ông: là cảng chuyên dùng xuất than ở khu vực Cẩm Phả. Cảng có
chiều dài 300m, độ sâu –9,5m, tàu 50.000 DWT ra vào thuận tiện.
+ Cảng Hòn Nét: nằm trong vịnh Bái Tử Long, có độ sâu – 16 m và khu vực đậu tàu
rộng lớn.
+ Cảng Mũi Chùa: có độ sâu – 3,3 m, có thể đón tàu 1.000 DWT áp bến.
Đường sắt:
Toàn tỉnh có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến Kép-Hạ Long (hiện nay đang
cải tạo tuyến Yên Viên – Cái Lân khổ đôi 1,0m và 1,435m). Ngoài ra còn có hệ thống
đường sắt chuyên dùng ngành than.
Các cảng hàng không

thông thoáng nên lượng khách nước ngoài đến với Việt Nam nói chung và Quảng Ninh
nói riêng ngày càng tăng cao.
* Nhược điểm

9


+ Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu,
thiếu đồng bộ, kém tính kết nối.
+ Nhiều phương tiện giao thông không đảm bảo an toàn trong lưu thông.
+ Hệ thống nhiều cảng hàng không xuống cấp không thể đưa vào vận hành.
+ Nhiều công trình chậm tiến độ, kém chất lượng, chi phí cao. Công tác quản lý,
khai thác, sử dụng, dịch vụ hạ tầng còn yếu, hiệu quả thấp.
* Nguyên nhân
- Công tác quản lý nhà nước về đầu tư còn nhiều bất cập; hệ thống pháp luật thiếu
đồng bộ, nhiều quy định chưa phù hợp; phân cấp mạnh, nhưng thiếu cơ chế giám sát và
quản lý có hiệu quả.
- Chất lượng quy hoạch còn thấp, thiếu tính đồng bộ, bao quát, kết nối và tầm nhìn
dài hạn; quản lý thực hiện quy hoạch còn yếu.
- Phân bổ nguồn lực dàn trải, chưa có kế hoạch phân bổ vốn trung và dài hạn để tập
trung vào các công trình trọng điểm thiết yếu; chi phí đầu tư còn cao, hiệu quả thấp; chưa
có cơ chế, chính sách thích hợp để huy động tiềm năng và nguồn lực, nhất là đất đai cho
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
- Thiếu chế tài, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
2.2.3 Nơi ăn nghỉ của điểm đến du lịch Quảng Ninh
*Thực trạng
Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 852 cơ sở lưu trú du lịch với 12.600 buồng, với tổng
vốn đầu tư 6.300 tỷ đồng. Trong đó, 2 khách sạn 5 sao với gần 500 buồng; 4 sao: 11
khách sạn, 1.884 buồng; 3 sao: 16 khách sạn, 1.102 buồng; 1-2 sao: 50 khách sạn, 1.696
buồng và 762 cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn với 7.551 buồng. Tổng số tàu vận

nghỉ cho du khách còn hạn chế, chất lượng phục vụ kém , chưa đáp ứng được nhu cầu,….
+ Nhiều nơi tự ý tăng giá khi cầu tăng cao ( kì nghỉ hè, mùa lễ hội…)
* Nguyên nhân
- Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của điểm đến du lịch.
- Quảng Ninh đang là trọng điểm du lịch của cả nước dẫn tới các doanh nghiệp đổ
xô đầu tư vào đây.
- Các cơ sở lưu trú chưa chú trọng đào tạo nguồn nhân lực.
- Chưa có sự đồng bộ trong việc quy hoạch, quản lý hàng loạt cơ sở của cơ quan có
thẩm quyền…

11


2.2.4 Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ của điểm đến du lịch Quảng Ninh
* Thực trạng
Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ tại điểm hấp dẫn du lịch Quảng Ninh rất phong phú
và đa dạng. Bao gồm: giao thông liên lạc, điện, cấp thoát nước, ngân hàng, siêu thị, bãi
đỗ xe, trung tâm giải trí, bể bơi, nhà hàng, cơ sở y tế, nơi đổi tiền, nơi cắt tóc,...
- Siêu thị: hiện nay trên địa bàn tỉnh có 3 trung tâm thương mại. Trong đó, có 2
trung tâm thương mại đang hoạt động và 1 trung tâm thương mại đã có chủ trương phê
duyệt nhưng chưa đầu tư xây dựng. Tổng diện tích xây dựng của các Trung tâm thương
mại 14.616m2. Tổng diện tích kinh doanh của các trung tâm thương mại trên 45.000m2.
Tổng số siêu thị hiện có là 12, trong đó có 10 siêu thị đang hoạt động, còn 2 siêu thị đang
triển khai đầu tư xây dựng.
- Hệ thống cung cấp điện: Tính đến ngày 30/6/2010 Quảng Ninh đang vận hành 03
nhà máy điện với tổng công suất 1.010MW.
- Hệ thống thông tin liên lạc: hệ thống bưu chính viễn thông đã đạt tiêu chuẩn quốc
tế, đủ điều kiện đáp ứng được các nhu cầu và hình thức thông tin. Mạng viễn thông được
trang bị các thiết bị kỹ thuật số với công nghệ tiên tiến, hiện đại, đa dịch vụ. Đặc biệt, TP
Hạ Long sẽ có 44 điểm được lắp đặt hệ thống thu phát wifi và du khách, người dân có thể

dịch vụ phục vụ ăn uống tại phòng 24/24, dịch vụ giặt ủi 24/24 thu đổi ngoại tệ, cho thuê
xe du lịch,đặt vé máy bay và tàu hỏa,…
* Ưu điểm
- Sự tận tâm, chuyên nghiệp và mến khách của đội ngũ nhân viên khu du lịch tạo
cho du khách có được sự thoải mái, dễ chịu tại điểm đến.
- Các tiện nghi hiện đại đáp ứng được yêu cầu cao của du khách, dịch vụ hỗ trợ đa
dạng.
- Sự phát triển của hệ thống ngân hàng, thông tin liên lạc, bảo hiểm, y
tế…và sự liên kết giữa những ngành này đã tạo ra thuận tiện cho khách du
lịch, dẫn tới lượng khách ngày càng gia tăng.
* Nhược điểm
- Bên cạnh những dịch vụ chăm sóc khách hàng thì giá các sản phẩm dịch
vụ hỗ trợ cao và chất luợng của nó không tương xứng.
- Tuy các ngành có liên quan đã phát triển nhưng sự phát triển này là
không đồng đều, một số địa điểm còn thiếu các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ.

13


* Nguyên nhân
- Do đặc thù chỉ có địa điểm du lịch đó mới có khả năng cung ứng sản
phẩm nên mức giá đuợc coi là độc quyền. Mọi hoạt động du lịch nơi đến đuợc
định giá chủ quan của chính quyền địa phuơng và doanh nghiệp.
- Du lịch Quảng ninh chủ yếu là du lịch miền biển và tất cả những sản
phẩm đặc trưng cho vùng sinh thái biển đảo nên các khách sạn cũng như nhà
hàng chỉ chú trọng tới sản phẩm phục vụ có nguồn từ biển như các món ăn hải
sản nhiều và bể bơi nhiều.
- Chưa có sự đồng bộ trong việc quy hoạch, quản lý hàng loạt cơ sở của cơ quan có
thẩm quyền…
2.2.5 Các hoạt động bổ sung của điểm đến du lịch Quảng Ninh

lịch.
- Sự tăng trưởng của du lịch Quảng Ninh đã có sự chuyển biến về chất lượng. Đặc
biệt, các sản phẩm du lịch như: Dịch vụ vui chơi giải trí tại các khu du lịch Tuần Châu,
Hoàng Gia, Lợi Lai; các cơ sở lưu trú có chất lượng cao, tàu thuyền phục vụ khách nghỉ
đêm trên Vịnh v.v...
- Các dịch vụ bổ sung phong phú đa dạng.
* Nhược điểm
- Doanh thu chưa tương xứng với số lượng khách du lịch. Tỷ trọng khách sử dụng
các dịch vụ du lịch chất lượng cao và chi tiêu còn thấp, thời gian lưu trú ngắn (bình quân
1,5 ngày/khách).
- Tính chuyên nghiệp trong kinh doanh du lịch của Quảng Ninh chưa cao, phát triển
chưa bền vững. Điều đáng nói, là sức hấp dẫn của du lịch Quảng Ninh chủ yếu dựa vào
những lợi thế tự nhiên sẵn có, sản phẩm và dịch vụ tại các điểm đến du lịch còn nghèo
nàn, đơn điệu, chưa tạo được tính đặc thù, chất lượng của nhiều dịch vụ chưa được đảm
bảo.
- Thiếu nhiều dịch vụ hỗ trợ như: Dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ văn hoá, dịch vụ
mua sắm
- Cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu giải trí ở đây còn rất thiếu, thậm chí là quá
nghèo nàn. Bên cạnh đó nếu những du khách muốn có nhu cầu đi du lịch khám phá ở các

15


địa phương còn mang đậm dấu ấn hoang sơ và đời sống sinh hoạt của bà con vùng cao
như: Bình Liêu, Ba Chẽ... cũng không phải là điều dễ dàng vì không có nơi tổ chức
* Nguyên nhân
- Do Quảng Ninh có tiềm năng du lịch rất hấp dẫn nhưng chưa biết cách khai thác
và phát triển nó hiệu quả hơn.
- Công tác quy hoạch và đầu tư sản phẩm du lịch còn hạn chế, chưa thực sự chú
trọng vào việc phát triển các hoạt động bổ sung.

tại Hạ Long, Quảng Ninh. Vì vậy, cần có biện pháp quảng bá hiệu quả để loại hình này
sớm trở thành một sản phẩm hấp dẫn, riêng có của Hạ Long, tạo được lợi thế so sánh với
các điểm đến trong khu vực và trên thế giới. Quảng Ninh cần xây dựng kế hoạch phát
triển các đội tàu khách phục vụ vận chuyển và dịch vụ lưu trú cho khách du lịch cũng
như quy hoạch phát triển dài hạn về tiêu chuẩn, số lượng các loại tàu, quy hoạch cảng
tàu, khu vực tập kết, khu vực tránh bão để công bố công khai cho các doanh nghiệp, đảm
bảo tuyệt đối an toàn cho du khách và các cán bộ nhân viên phục vụ trên tàu.
- Về dịch vụ ăn uống, Quảng Ninh cần phát triển các món ăn chế biến từ thủy hải
sản như các món ăn từ ngán: ngán hấp, ngán nướng, rượu ngán Hạ Long, sái sùng rang –
mồi xào, cà sáy Tiên Yên… cùng nhiều món ăn khác. Cần tạo được cho du khách sự mới
lạ từ mùi vị các món ăn, làm nên sự hấp dẫn riêng biệt của vùng đất biển Quảng Ninh.
- Có chính sách đúng đắn về giá : doanh nghiệp cần có chính sách giá hợp lý để có
thể dùng chính sách giá thu hút khách hàng trung thành với doanh nghiệp không nên vì
lợi nhuận trước mắt mà phá hủy uy tín lâu dài của doanh nghiệp.
- Ngoài ra Quảng Ninh còn cần đầu tư phát triển các tiện nghi như: cơ sở thương
mại, y tế, ngân hàng, các dịch vụ an toàn bảo hiểm… để thuận tiện cho khách trong quá
trình đi du lịch tại đây.
- Cần có nhiều dịch vụ, điểm thăm quan bổ trợ hút du khách đến vào mùa Đông, khi
đó họ vẫn có thể ngắm vịnh, vui chơi đồng thời có thể giữ chân khách ở lại, để khách tiêu
nhiều tiền hơn. Ví dụ, khách đến thăm vịnh sau đó có thể đi thăm các làng nghề làm đồ
mỹ nghệ, làng nghề thủ công truyền thống. Nếu có khu casino, những khách ngoại cao
cấp họ có thể chọn đến Quảng Ninh thay vì đến Ma Cao để vào casino vì vừa được giải
trí, vừa được thăm một kỳ quan của thế giới…

C. KẾT LUẬN
Với những điều kiện trên, có thể nói, vẻ quyến rũ đặc biệt cùng sự kiện được
công nhận là kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, Vịnh Hạ Long đã trở thành tâm điểm
thu hút du khách trong nước và quốc tế. Theo đánh giá của nhiều đơn vị kinh doanh du

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status