Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hiđrocacbon chương trình hóa học trung học phổ thông - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU YẾN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC
PHẦN HIDROCACBON CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU YẾN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC
PHẦN HIĐROCACBON CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Cao Cự Giác


Công thức cấu tạo
Dạy học theo dự án
Dự án
Đại học
Đại học Sư phạm
Đối chứng
Giáo dục
Giáo viên
Học sinh
Nhà xuất bản
Phòng thí nghiệm
Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy và học tích cực
Phương pháp dạy học theo dự án
Phương trình hóa học
Sách giáo khoa
Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông

Chữ viết tắt
Bài KT
CNTT
CN
CTCT
DHTDA
DA
ĐH
ĐHSP

Hình 3.2. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2
Bảng 3.7. Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 3
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3
Bảng 3.8. Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích tổng hợp
Hình 3.4. Đồ thị đường lũy tích tổng hợp
Bảng 3.9: Bảng tổng hợp phân loại kết quả học tập của HS
Hình 3.5: Đồ thị tổng hợp phân loại kết quả học tập của HS
Bảng 3.10: Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mục tiêu phát triển của Đất nước Việt Nam chúng ta là đến năm 2020 về cơ
bản là trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, hội nhập cùng cộng đồng
quốc tế. Trong đó con người Việt Nam là vốn tài sản quý giá nhất, phải được khai
thác một cách tốt nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Coi trọng
vốn con người, phát triển mạnh giáo dục và đào tạo theo chuẩn quốc tế là nền tảng
phải tạo lập ngay trên con đường phát triển này
Đề đạt được mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ hàng đầu là đổi mới
toàn diện giáo dục để đào tạo được nguồn nhân lực mới đáp ứng cho sự phát triển
của xã hội. Mục tiêu giáo dục phổ thông đã đổi mới đề phù hợp hơn là “ giúp HS
phát triển toàn diện về đạo dức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển
năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”. Phương pháp dạy học (PPDH) lại càng cần phải đổi mới cho phù
hợp, việc này có ý nghĩa quyết định, cần triển khai ở tất cả các môn học và các cấp
học. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo đã nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến

thông” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Trên thế giới [28]
Từ cuối thế kỉ XVI, khái niệm “dự án” được dùng trong việc thiết kế các cuộc
thi vào học viện nghệ thuật – The Accademia di San Luca Rome của những kiến
trúc sư người Ý. Trong các dự án này, sinh viên được giao nhiệm vụ thiết kế và gia
công một sản phẩm kĩ thuật hoàn thiện một cách tự lực, trong đó cần vận dụng
những lí thuyết, kĩ năng học.
Học tập bằng các dự án không còn là duy nhất đối với ngành kiến trúc. Đến
cuối thế kỷ XVIII, chuyên ngành cơ khí được thành lập và được coi là một bộ phận
của các trường đại học công nghiệp và kỹ thuật mới cũng đã áp dụng DHTDA vào
giảng dạy.
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ở nước Mỹ phong trào cải cách giáo dục diễn ra
mạnh mẽ, trong đó tư tưởng giáo dục căn bản của cuộc cải cách này là dạy học, lấy
học sinh làm trung tâm, ngày nay còn gọi là dạy học định hướng học sinh. Trong
phong trào cải cách đó, DHTDA được các nhà sư phạm Mỹ đưa vào sử dụng trong
dạy học phổ thông. Các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương
pháp dự án và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy học
sinh làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống, coi giáo
viên làm trung tâm của quá trình dạy học.
Những quan điểm triết học giáo dục và lý thuyết nhận thức của J.Dewey đóng
vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho phương pháp dự án của
các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20. Tiêu biểu là nhà Tâm lý học Wiliam H.Klpatric
(1871-1965) với bài báo có tiêu đề “Phương pháp dự án”, công bố năm 1918.

8


Ở Châu Âu, Celestin Freinet (1896 – 1966) là người tiên phong và có ảnh
hưởng mạnh mẽ đối với DHTDA. Sau cách mạng tháng mười 1917, trong các


2. 3. Triển khai phương pháp dạy học theo dự án vào Việt Nam
2.3.1. Chương trình dạy học của Intel[4],[30],[31]
Việt Nam là 1 trong 2 nước đầu tiên trên thế giới giới thiệu Khóa học Khởi
đầu. Chương trình Dạy học của Intel được bắt đầu áp dụng thí điểm cho khối phổ
thông vào năm 2004. Mục tiêu của Chương trình là đào tạo cho các giáo
viên phương pháp phát huy việc học dựa trên dự án và kết hợp có hiệu quả việc sử
dụng máy tính với các chương trình dạy học hiện có giúp học sinh đạt được kết quả
học tấp tốt hơn. Bên cạnh đó, các giáo viên còn học cách tạo ra các công cụ đánh
giá tối ưu cũng như cách cân đối bài giảng với mục tiêu học tập. Số giáo viên phổ
thông tham gia chương trình đã tăng nhanh trong những năm qua.
2.3.2. Chương trình dạy học theo dự án của Việt Bỉ[7], [9], [33]
Từ năm 1997 đến nay, chính phủ Vương quốc Bỉ với 2 Dự án hỗ trợ cho các
tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng áp
dụng phương pháp dạy và học tích cực (PPD-HTC). Dự án Việt Bỉ I đã đầu tư cho 7
tỉnh từ năm 1999 đến 2003 và Dự án Việt Bỉ II đang đầu tư cho 14 tỉnh từ năm 2005
đến 2009. Mục tiêu của Dự án là: “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo
viên Tiểu học, Trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” Để mở rộng,
nâng cao hơn nữa nhận thức, kỹ năng áp dụng PPD-HTC, trong năm học 2008 –
2009 Dự án đã tập huấn sâu thêm cho các giáo viên về 3 phương pháp dạy học mới
với tên gọi: Học theo góc; Học theo hợp đồng; Học theo Dự án cho GV cốt cán, các
chuyên gia trong nước và cán bộ quản lý các cấp của địa phương.
Có thể thấy rằng DHTDA không phải là một phương pháp hay hình thức dạy
học hoàn toàn mới, nó đã có trên 200 năm hình thành và phát triển, và đã được xây
dựng cơ sở lý luận từ khoảng 100 năm trước. Ngày nay DHTDA được quan tâm
nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây. Tuy
mới triển khai ứng dụng ở Việt Nam, nhưng phương pháp này đã mang lại những
hiệu quả vô cùng thiết thực và được GV, HS tiếp cận một cách hứng thú, là một
hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như : định
hướng vào người học, định hướng hành động, dạy học giải quyết vấn đề và quan

5.1. Khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực: DHTDA.
- Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
- Quá trình dạy học phần hóa Hiđrocacbon ở trường THPT.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng DHTDA trong dạy học môn hóa học ở trường THPT nói chung và
dạy học phần Hiđrocacbon nói riêng nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo
của HS.
6. Phương pháp nghiên cứu
6. 1. Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản, chị của Đảng và Nhà nước; của Bộ Giáo dục và Đào
tạo có liên quan đến nội dung của đề tài.
- Nghiên cứu lí thuyết về lí luận dạy học, tâm lí học, giáo dục học và các tài liệu
khoa học cơ bản liên quan đến đề tài.

11


- Nghiên cứu lí luận dạy hóa học, cấu trúc chương trình hóa học phổ thông, mục
tiêu, cấu trúc, nội dung, huẩn kiến thức và kí năng phần Hiđrocacbon chương trình hóa
học phổ thông.
- Nghiên cứu PPDH tích cực, phương pháp DHTDA.
6.2. Phương pháp điều tra cơ bản, test, phỏng vấn, dự giờ
- Thăm dò và trao đổi ý kiến với một số GV dạy học hóa học ở trường THPT
về nội dung, số lượng kiến thức, cách thức lập DA.
- Thăm dò ý kiến HS sau khi thực hiện các DA.

6.3. Phương pháp chuyên gia
Xác định phần kiến thức dễ, kiến thức khó rồi gán trọng số cho các nội dung
đó nhằm định hướng đầu tư về thời gian, về trí lực cho phù hợp.

- Xây dựng hệ thống tư liệu dạy học hỗ trợ cho GV và HS trong DHTDA.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1.1. Phát triển kinh tế - xã hội
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi con người phải có
nhiều năng lực mới: năng lực tư duy độc lập, năng lực tự học và tự cập nhật thường
xuyên kiến thức mới, năng lực thích ứng với những thay đổi… Đây chính là những
năng lực giúp con người Việt Nam “đi tắt đón đầu”, rút bớt khoảng cách lạc hậu so
với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Trong dạy học truyền thống, những yêu cầu này chưa thực sự được quan tâm
nhiều. Vấn đề rèn luyện cho HS các năng lực, các kĩ năng, thái độ này ở đâu? khi
nào? và làm thế nào để rèn luyện được?
Như vậy, dạy học hiện đại cần khuyến khích sự tiếp thu độc lập các kiến thức,
cho phép người học thực hành các kĩ năng, trong đó có kĩ năng xã hội, khuyến
khích tính độc lập và tự chủ của người học, tạo không gian để thực hiện các chiến
lược, PPDH khác nhau nhằm có được sự lựa chọn tốt nhất cho việc giải quyết vấn
đề. Chỉ trong mô hình giáo dục, dạy học như thế, người học mới được thách thức,
được rèn luyện để làm chủ kiến thức và kĩ năng, qua đó họ có được năng lực học
suốt đời và năng lực giải quyết linh hoạt các vấn đề thực tiễn, xã hội.
1.1.1.2. Phát triển khoa học - công nghệ
Một trong những đặc điểm nổi bật của thời đại chúng ta là sự phát triển như vũ
bão của khoa học- công nghệ. Các cuộc cách mạng khoa học trên các lĩnh vực: tin
học, truyền thông, công nghệ… không chỉ làm thay đổi mọi mặt của đời sống kinh
tế - xã hội mà còn có tác động mạnh mẽ đến giáo dục. Dưới ảnh hưởng của các
cuộc cách mạng khoa học, nhiều phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại xuất hiện.

13

lối truyền thụ một chiều; Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời
gian giảng dạy lí thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho HS”.
1.1.2. Một số định hướng đổi mới và phát triển phương pháp dạy học ở Việt
Nam [6], [7] , [9]
Bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và quốc tế đang đặt ra những
yêu cầu đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới PPDH là hết sức cần thiết. Luật Giáo
dục số 38/2005/QH11, Điều 28 qui định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của

14


từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm;
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".
- Kế thừa - phát triển những ưu điểm trong hệ thống các PPDH truyền thống
theo hướng phát huy tính tích cực của người học. Đổi mới ở đây phải bao gồm các
PPDH hiện đại và cả sự lựa chọn những giá trị của PPDH truyền thống có tác dụng
tích cực vào việc góp phần nâng cao chất lượng GD trong thời đại mới.
- Tính khả thi và chất lượng mới: Trong đổi mới PPDH cần đưa ra những giải
pháp khả thi và có hiệu quả, chất lượng cao hơn tình trạng hiện tại.
- Áp dụng những phương tiện kĩ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp PPDH
mang tính công nghệ: Từ phương pháp khoa học kĩ thuật thông qua xử lí sư phạm
(cho thích hợp với môi trường dạy học) trở thành PPDH trong nhà trường.
– Đổi mới PPDH đi đôi với đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của HS.
* Một số biện pháp đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay:
– Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài dạy học.
– Cải tiến, hoàn thiện các PPDH truyền thống.
– Kết hợp đa dạng các PPDH.

trường học.
* Để đổi mới PPDH Hoá học, GV cần:
– Sử dụng các yếu tố tích cực đã có ở các PPDH Hóa học như phương pháp
thực nghiệm, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp trực quan,
phương pháp làm mẫu – luyện tập, tái tạo dựa trên luyện tập, đàm thoại,...
– Tiếp thu có chọn lọc một số quan điểm và phương pháp tích cực trong giáo
dục hiện đại của một số nước trên thế giới như DHTDA, dạy học kiến tạo, dạy học
hợp tác theo nhóm nhỏ, dạy học lấy HS làm trung tâm, dạy học tương tác,...
– Lựa chọn các phương pháp phát huy tính tích cực của HS phù hợp với mục
tiêu và nội dung từng loại bài hóa học nhất định, đối tượng HS cụ thể và điều kiện
của từng vùng, từng địa phương.
– Phối hợp một cách hợp lí một số PPDH khác nhau và phương tiện dạy học
hiện đại khi điều kiện cho phép nhằm phát huy cao độ hiệu quả giờ học hóa học tích
cực.
1.1.4. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực [1]
Hai yếu tố cốt lõi của sự định hướng đổi mới phương pháp dạy và học theo
hướng tích cực là: tạo ra cảm giác thoải mái cho HS và sự tham gia tích cực của HS.
Sự tham gia nói đến cường độ của hoạt động, sự say mê, sự tập trung với mọi
vật xung quanh để HS trở nên hăng hái, yêu thích khám phá và vượt qua những giới
hạn của khả năng mỗi người. Các yếu tố làm tăng cường sự tham gia của HS là:
– Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm/lớp.
– Sự phù hợp với mức độ phát triển của HS: Các nhiệm vụ học tập cần có sự
phân hóa, quan tâm đến sự khác biệt về nhịp độ học tập, trình độ phát triển giữa các
HS.
– Sự gần gũi với thực tế: Nội dung/nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan
tâm của HS và với thế giới xung quanh.

16



của sáng tạo. Và ngược lại, học tập độc lập, tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự
giác, hứng thú và bồi dưỡng động cơ học tập cho người học.
* Tính tích cực học tập có những biểu hiện như: HS hăng hái trả lời các câu
hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước
vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ;

17


-

chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung
tình huống khó khăn,…
* Tính tích cực học tập có những cấp độ từ thấp lên cao như:
– Tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): gắng sức làm
theo các mẫu hành động của bạn, của thầy,…
– Tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết tình
huống nhận thức): độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết
khác nhau về một vấn đề, tìm ra lời giải hợp lí nhất.
– Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): tìm ra cách
giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
Ngoài ra, việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại một cách phù hợp và
thay đổi cách kiểm tra, đánh giá cũng là động lực quan trọng tác động trực tiếp đến
hoạt động tích cực của HS
1.2.2. Phương pháp dạy học tích cực trong dạy học hóa học
- Khái niệm:
Thuật ngữ “Phương pháp dạy và học tích cực” không phải là một PPDH cụ thể
mà là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi
phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ
chức, đánh giá..., một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những

+ Dạy học coi trọng hướng dẫn tìm tòi: Chú trọng giúp HS phát triển kĩ năng
giải quyết vấn đề; HS có thể học được phương pháp học thông qua hoạt động học
tập.
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Đánh giá trong dạy học
tích cực là sự kết hợp của đánh giá kết quả, đánh giá quá trình với tự đánh giá. Tự
đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần thiết mà nhà
trường cần phải rèn luyện cho HS.
+ PPDH tích cực còn tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, kĩ thuật, khả năng của HS.
GV và HS cần biết sử dụng các phương tiện dạy học và thiết bị dạy học hiện
đại.
1.3. Dạy học theo dự án – Một phương pháp dạy học tích cực [1], [6]
1.3.1. Khái niệm
Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và
ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế
hoạch, trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt mục
đích đề ra. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh
tế-xã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong
quản lý xã hội…
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào
tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như
một phương pháp hay hình thức dạy học. Khái niệm Project được sử dụng trong các
trường dạy kiến trúc-xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ 16. Từ đó tư tưởng dạy học theo
dự án lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong
các trường đại học và chuyên nghiệp.

19


Đầu thế kỷ 20 các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sơ lý luận cho phương


20


− Phân loại theo sự tham gia của người học: Cá nhân, nhóm HS, một lớp học
hay một khối lớp.
− Phân loại theo sự tham gia của GV: DA dưới sự hướng dẫn của một GV hay
sự cộng tác nhiều GV.
− Phân loại theo quỹ thời gian: Tuỳ vào mức độ phức tạp của DA mà quyết
định thời gian thực hiện và dựa vào thời gian thực hiện, có thể phân chia các DA
học tập làm 3 loại:
+ DA nhỏ: tiến hành trong một số giờ học (2 − 6 giờ).
+ DA trung bình: tiến hành trong một số ngày (1 tuần hoặc 40 giờ học).
+ DA lớn: tiến hành trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần.
− Phân loại theo nhiệm vụ
+ DA tìm hiểu (khảo sát thực trạng đối tượng).
+ DA nghiên cứu (giải quyết vấn đề, giải thích hiện tượng).
+ DA kiến tạo (tạo ra sản phẩm vật chất hành động thực tiễn như trưng bày,
biểu diễn).
+ DA hỗn hợp: là các DA có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.
Các loại DA trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực chuyên
môn có thể phân loại các DA theo đặc thù riêng.
Khi áp dụng phương pháp DHTDA cho việc dạy học nói chung, tuỳ theo điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể về quỹ thời gian, địa điểm, tình hình đặc điểm lớp học, điều
kiện cơ sở vật chất của nhà trường và gia đình HS,... và cả đề tài HS lựa chọn mà
GV đưa ra các kế hoạch thực hiện phù hợp.
1.3.3. Cơ sở khoa học của dạy học theo dự án
1.3.3.1. Đặc điểm tâm sinh lí cuả học sinh Trung học phổ thông [35]
Lứa tuổi HS THPT thuộc thời ki 15 – 18 tuổi, gọi là tuổi đầu tuổi thanh niên,
đã có sự phát triển về thể chất và tư duy ở mức độ nhất định; các em đã định hướng

Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa phát triển
cao giúp các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng. Do vậy, các
em cũng thích tìm hiểu những vấn đề có tính chất triết lí.
Như vậy về mặt tâm sinh lí của HS THPT đã phát triển, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc phát triển năng lực tự học, năng lực hoạt động trí tuệ độc lập và sáng tạo.
1.3.3.2. Cơ sở triết học của Dạy học theo dự án [25], [30]
Những quan điểm triết học giáo dục John Dewey được các nhà sư phạm Mỹ
đầu thế kỉ XX và các tác giả hiện đại phát triển đã trở thành cơ sở triết học cho
DHTDA: “Cách duy nhất để chuẩn bị cho đời sống xã hội là tham gia vào đời sống
xã hội”.
Với tư duy giáo dục, Dewey kêu gọi áp dụng lí thuyết giáo dục định hướng
kinh nghiệm. Theo ông, giữa giáo dục và kinh nghiệm cá nhân có mối quan hệ hữu
cơ, coi kinh nghiệm như phương tiện và mục đích của giáo dục. Có thể tóm tắt
những tư tưởng quan trọng từ triết học giáo dục của Dewey làm cơ sở cho DHTDA
là:
+ Kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình nhận thức và cuộc
sống của con người. Giáo dục cần xuất phát từ kinh nghiệm của HS và nhằm mục
đích mở rộng kinh nghiệm cho HS.

22


+ Hành động đóng vai trò to lớn trong quá trình tích lũy kinh nghiệm. Cuộc
sống có nghĩa là hành động, tương tác thường xuyên với môi trường. Giữa tư duy
và hành động, giữa lí thuyết và thực hành có sự tác dụng tương hỗ lẫn nhau.
+ Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử
xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội; là cơ sở chủ yếu và trực tiếp
nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm
tra chân lí.
+ Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lí luận có quan hệ biện chứng với


DHTDA phù hợp với những quan điểm của thuyết kiến tạo. Trong DHTDA,
HS làm việc trên cơ sở cộng tác trong nhóm, cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ,
vấn đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn. Trong quá trình đó, HS được tạo
điều kiện tự kiến tạo tri thức thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ cá nhân và
trong nhóm, được tạo điều kiện tham gia cùng quyết định và tự quyết mục tiêu, nội
dung và phương pháp học tập và làm việc. Những quan điểm của thuyết kiến tạo
đồng thời cũng phù hợp với quan điểm sư phạm tương tác; do đó DHTDA cũng
được dựa trên các quan điểm này. Trong DHTDA có sự tương tác tích cực giữa
nhóm HS và nội dung học tập, đối tượng nghiên cứu, đồng thời có sự tương tác xã
hội giữa các HS trong nhóm trong quá trình làm việc.
1.3.3.4. Cơ sở tâm lí học của Dạy học theo dự án
Tâm lí học hoạt động nghiên cứu quá trình nhận thức của con người trong mối
liên hệ với hoạt động, dựa trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Tâm lí học hoạt động khám phá sự thống nhất của tâm lí và hoạt động trong
quá trình phát triển. Tâm lí con người hình thành, phát triển và thể hiện thông qua
hoạt động. Quan điểm này cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động trong quá trình
phát triển nhân cách.
Cơ sở tâm lí học của DHTDA là dựa trên lí thuyết hoạt động, có luận điểm cơ
bản “Tâm lí con người hình thành và bộc lộ thông qua hoạt động”, đồng thời dựa
trên quan điểm lí thuyết kiến tạo “thông qua hành động tự lực, HS tự lĩnh hội và
kiến tạo kiến thức”.
Trong DHTDA những nguyên tắc dạy học của Lí luận dạy học đại cương: Phù
hợp với người học; Phát huy tính tự lực của người học; Khuyến khích động cơ học
tập; Phát huy tính cộng tác trong học tập; Gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với
thực tiễn; Chý ý tính liên môn.
Trong DHTDA có thể thực hiện phối hợp nhiều quan điểm dạy học hiện đại,
trong đó có quan điểm dạy học định hướng người học, dạy học định hướng hành
động và dạy học giải quyết vấn đề, dạy học phân hóa.
Ngoài ra, DHTDA còn có mối quan hệ với các quan điểm dạy học khác như

và giáo trình bắt buộc tạo thành chương trình cốt lõi cho mọi HS và nhóm các môn
học. Giáo trình tự chọn nhằm đáp ứng sự khác biệt về năng lực, hứng thú và nhu
cầu học tập của các đối tượng HS khác nhau. Nhóm các môn học và giáo trình tự
chọn lại được chia thành: các môn học và giáo trình tự chọn bắt buộc; các môn học
và giáo trình tự chọn tuỳ ý để HS lựa chọn. Ưu điểm của dạy học tự chọn là khả
năng phân hóa cao, có thể đáp ứng được những khác biệt hết sức đa dạng của HS,
tạo điều kiện cho mọi HS đều được học tập ở mức độ phù hợp nhất với năng lực,
hứng thú và nhu cầu của mình. Nhược điểm là học vấn cơ bản của HS dễ bị hạ thấp
và thiếu hệ thống do tâm lí thích chọn những giáo trình dễ, bỏ qua các giáo trình
khó của các môn học truyền thống quan trọng. Đặc biệt hình thức phân hóa này đòi
hỏi rất cao về năng lực quản lí cũng như trình độ của GV và trang thiết bị của nhà
trường.
– Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn: HS vừa được phân chia theo học các
ban khác nhau, đồng thời được chọn thêm một số môn học và giáo trình tự chọn.
Hình thức này cho phép tận dụng được những ưu điểm và khắc phục được một phần
những nhược điểm của hai hình thức phân hóa kể trên. Ở cấp vi mô, dạy học phân
hóa xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa. Từ yêu cầu đảm bảo

25


Trích đoạn Ankan Kiến thức Tổ chức các hoạt động học tập theo dạy học theo dự án Giáo dục tình cảm, thái độ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status